Articles  Privacy

 

Thứ bảy, ngày 31 tháng mười hai năm 2011

2011 - CHIỀU CUỐI NĂM NHÌN LẠI

Chiều cuối năm nhìn lại

Tôi vừa về đến nhà. Hà Nội hôm nay lạnh quá! Càng về chiều càng lạnh! Nhưng so với nơi tôi vừa trở về thì nơi đó lạnh hơn nhiều. Đó là vùng sơn cước của huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc, nơi có cơ sở giáo dục Thanh Hà. Ở đó, hiện đang "cải tạo" chị Bùi Thị Minh Hằng - người hăng hái tham gia biểu tình chống xâm lược Trung Quốc trong suốt mùa hè rực lửa vừa qua. Được biết, hiện nay, người ta đang giữ chị tại Khu 3, khu đặc biệt, chung với các trại viên nhiễm HIV, có người đang ở giai đoạn cuối.

Vừa qua, một số nhân sĩ trí thức và thân hữu của chị ở Hà Nội cũng đã gửi thư tới Chủ tịch nước Trương Tấn Sang để đòi trả tự do cho chị. Bức thư gửi Chủ tịch nước Trương Tấn Sang  có chữ ký của Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh 96 tuổi, nguyên Ủy viên TW Đảng khóa 3, nguyên Đại sứ Việt Nam tại Trung Quốc, lão thành cách mạng; các giáo sư danh tiếng: Nguyễn Huệ Chi, Ngô Đức Thọ, Nguyễn Đông Yên, Hoàng Xuân Phú; các Tiến sĩ: Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Quang A, Đặng Ngọc Lan, Nguyễn Hồng Kiên; các nhà văn: Nguyên Ngọc, Vũ Ngọc Tiến, Trần Nhương...Được biết, việc ký tên vẫn tiếp tục được tiếp nhận tại Email: tudochobuihang@gmail.com.

Sáng nay, từ 7h sáng, anh Phan Trọng Khang, Chị Phương Bích, tôi và cháu Nhân con trai chị Bùi Hằng đã lên thăm chị, mặc dù biết trước là chỉ có Bùi Nhân được vào gặp mẹ. Nhưng rất tiếc, sáng nay cháu Nhân chỉ gửi được đồ dùng vật dụng và ít ruốc vào cho mẹ mà không gặp được. Bùi Nhân nghe nói mẹ đang tuyệt thực, và đây là lần tuyệt thực thứ hai kể từ khi vào trại (lần trước tuyệt thực 15 ngày).

Chiều nay, chiều cuối năm, ngồi đây, chúng ta cùng điểm lại năm 2011, để tiễn năm cũ đi, và chờ phút giao thừa đến. Trong phút giây này, tràn ngập tâm hồn ta là giá rét và nỗi buồn khiến lòng ta chùng xuống.

Năm qua, các lễ hội lại vẫn rộn ràng với sự mê lầm được bật đèn xanh của ngành văn hóa. Cảnh chen chúc ở lễ hội khai ấn đền Trần, chùa Hương, Yên Tử. Những lời cầu nguyện mê lầm. Và bỗng chốc Bái Đính - một kiến trúc mới rất Tàu cũng đã trở thành điểm hành hương của thiên hạ.

Những vụ giết người cướp của ngày càng táo bạo, kẻ thủ ác tuổi đời càng ngày càng trẻ và cách thức giết người càng ngày càng dã man, độc ác, quyết liệt. Bên cạnh đó, nhiều vụ đánh trả người thi hành công vụ cũng tăng cùng với việc người thi hành công vụ đánh đập và làm chết người dân trong khi bắt và giam giữ.

Đạo đức và văn hóa xã hội đã băng hoại và đáng báo động đỏ. 

Gương mặt của giới truyền thông lại càng thêm hoen ố. Sau sai sót về dịch thuật của MC Lại Văn Sâm, rồi vụ cô Lượm làm hiện lên một MC ác độc nữa, rồi một chương trình 16 phút được làm ra để xúc phạm đời tư của một tù nhân, về cuối năm Đài Truyền hình quốc gia VTV lại để xảy ra nhiều sai sót đáng tiếc: hiển thị cờ Trung Quốc 6 sao trong phần bình luận quan hệ Việt - Trung, và giao lưu cầu truyền hình VN - Quảng Tây khiến nhà ngoại giao kỳ cựu Dương Danh Dy phải lên tiếng.

Đài truyền hình quốc gia cũng vẫn chiếu nhiều phim Tàu. Và đặc biệt là dự kiến phát sóng bộ phim phản quốc "Lý Công Uẩn - đường tới thành Thăng Long" đã vấp phải sự phản ứng quyết liệt của đông đảo trí thức, nhà sử học, lão thành cách mạng và giới học giả.

Giới trí thức năm qua, với những cố gắng không ngừng nghỉ, bền bỉ với tinh thần tự nhiệm đã suy nghĩ về hiện tình đất nước, soạn Tuyên cáo về Chủ quyền, Kiến nghị về Bảo vệ và phát triển đất nước, Yêu cầu Bộ Ngoại giao cung cấp thông tin v.v. đã trở thành niềm tin và chỗ dựa cho những ai còn tha thiết với bức dư đồ mà cha ông để lại. 

Giới trí thức Việt Nam ở nước ngoài hướng về đất nước bằng những việc làm cụ thể. Mười bốn nhà trí thức danh tiếng đã gửi về bản điều trần: Cải cách toàn diện để phát triển đất nước được dư luận đánh giá cao. Hàng trăm nhà trí thức đã cùng gửi thư đến tạp chí Nature danh tiếng để phản đối việc giới học giả Trung Quốc đưa các bản đồ lưỡi bò vào các bài báo khoa học in trên tạp chí này. Kết quả là Nature đã hoàn toàn đồng ý và ủng hộ giới học giả Việt Nam.

Bên cạnh đó, một bộ phận rất lớn trong giới trí thức thuần túy chỉ là những nhà chuyên môn hoặc công chức. Họ không quan tâm đến hiện tình đất nước, tránh việc bày tỏ chính kiến và xa lánh việc phản biện xã hội - cho dù là phản biện xã hội trong chuyên ngành của họ. 

Năm qua, chưa bao giờ có nhiều đơn thư kiến nghị xung quanh Giải thưởng Nhà nước, Giải thưởng HCM về văn học nghệ thuật. Những giải thưởng danh giá như vậy, mà có mấy trường hợp từ chối nhận giải hoặc dự giải, mà người từ chối toàn là các nhà văn nối tiếng: Nguyên Ngọc, Nguyễn Khoa Điềm....Rồi lại cũng có một giáo sư văn học đã hai lần nhận giải thưởng Nhà nước, nay lại vẫn dự 2 giải thưởng Hồ Chí Minh! Và rồi cả giải thưởng mang tên bà chúa thơ Nôm Hồ Xuân Hương nữa, lình xình lắm lắm!

2011 cũng đánh dấu bằng các vụ đạo văn, đạo tranh, bằng giả mà đương sự là những nhân vật nổi tiếng. Còn nhiều vụ nữa, nhưng còn đang găm lại trong những blog ẩn khuất đâu đó...chờ một ngày, từng ngày sẽ lộ ra dưới ánh sáng công luận.

Và tệ nhất, là sự xuất hiện đột khởi của các trí thức - nghị sĩ: Hoàng Hữu Phước, Nguyễn Minh Hồng,  Đặng Hoàng Yến. Họ đã xuất hiện như những người bị thiểu năng trí tuệ, gây bức xúc lớn cho nhân dân. Trước đó, trong người ta đã phát hiện một số trường hợp khai man trong hồ sơ ứng cử: Thượng tọa Thích Thanh Quyết (Lương Công Quyết) khai học hàm là Giáo sư (?); Châu Thị Thu Nga khai học vị là Tiến sĩ. Việc ầm ĩ trên mạng xã hội và báo chí vậy mà không thấy Ông Chủ tịch Hội đồng bầu cử và Hội đồng này lên tiếng hoặc xử lý. 


Một năm với bao nhiêu là lo âu, bực tức, thất vọng.
Nhưng rồi...

Còn tiếp



-->đọc tiếp...

Thứ sáu, ngày 30 tháng mười hai năm 2011

Ý TƯỞNG VỀ VIỆN KHỔNG TỬ CHO VIỆT NAM

 

Ý tưởng về Viện Khổng Tử cho VN

Một trong những ý tưởng được phía Trung Quốc nêu ra gần đây để tăng cường quan hệ hai nhà nước là mở viện Khổng Tử tại Việt Nam như đã làm tại nhiều nơi trên thế giới.

Đề tài này vừa được nêu lại trong chuyến thăm tháng 12 của Phó Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình dù hồi 2009, Thủ tướng Việt Nam đ̃a cho phép "thí điểm thành lập một Học viện Khổng Tử tại Việt Nam" nhưng không rõ sẽ đặt ở đâu và bao giờ xây dựng. 

Nay, theo nhà nghiên cứu văn học Lại Nguyên Ân, nêu ý kiến của số trí thức mà ông nói là khá đông tại Việt Nam hiện nay, chuyện mở Viện Khổng Tử tại Việt Nam sẽ gặp nhiều thách thức.

Ông Lại Nguyên Ân, người có nhiều tác phẩm về giai đoạn giao thời khi văn hóa Nho giáo bị Phương Tây lấn át tại Việt Nam đầu thế kỷ 20, cho rằng chỉ để nghiên cứu Khổng giáo thôi thì công việc của một viện như thế sẽ rất bó hẹp.

Còn nếu để quảng bá văn hóa chính thống hiện nay tại Trung Quốc, một trung tâm Khổng Tử, nếu được khai trương, sẽ dễ vấp phải các chủ đề nhạy cảm trong quan hệ chính trị và ngoại giao Việt - Trung hiện nay.

Trước hết, ông Lại Nguyên Ân, hiện ở Hà Nội cho BBC biết về bối cảnh các các nước khác quảng bá văn hóa của họ ở Việt Nam:

Ông Lại Nguyên Ân: Hiện nay các nước đều đang mở các trung tâm để giới thiệu, truyền bá văn hóa của họ ở các thành phố lớn của Việt Nam. Pháp có Alliance Francaise, Nga có nhà văn hóa Nga, Đức có Viện Goethe, Anh và Nhật cũng tương tự. Tôi nghĩ trung tâm văn hóa Khổng Tử, tuy mang tên Khổng Tử nhưng chắc là dạng như thế, sẽ để thỏa mãn nhu cầu giao lưu của những người muốn tìm hiểu văn hóa Trung Quốc ở Việt Nam thì ở khía cạnh đó là điều bình thường. 

Nhưng hiện nay trong quan hệ Việt Nam và Trung Quốc có những vấn đề khác, nhạy cảm như chuyện biên giới rên biển, trên đất liền, chuyện về kinh doanh, ảnh hưởng văn hóa hai bên. Ngoài những chuyện bình thường thì cũng có những vấn để nổi lên nên trong dư luận của giới trí thức Việt Nam có một số lo ngại. Người ta nghĩ rằng Viện Khổng Tử đó có thể lại là một bàn đạp để truyền hóa một văn hóa, mà trên thực tế văn hóa đó đã được chuyển hóa, truyền bá vào Việt Nam hàng ngàn năm.

Nhưng với ảnh hưởng của nó thì Việt Nam đã học được không ít nhưng đồng thời cũng vẫn giữ được những thuộc tính văn hóa của người Việt Nam. Ở khía cạnh đó thì cũng có những lo ngại và những lo ngại đó nói cho cùng có lý do chính đáng. Tuy nhiên, những lo ngại đó cũng không phải là đáng tới mức người ta phải ngăn chặn Viện đó nếu như nó được thành lập ở Việt Nam.

BBC: Ông và một số người quan tâm đến văn hóa châu Á ở Việt Nam có phải lo ngại rằng khi mở Viện Khổng Tử thì các ấn bản như như bản đồ Trung Quốc, cờ, và biển đảo mà Trung Quốc coi là của họ và Việt Nam cũng coi là của mình thì ngay lập tức sẽ gây ra tranh cãi?

Vâng, tôi tin là như thế. Những nước như Pháp, Anh, Nga chẳng hạn thì họ cũng phải xử lý các nhà văn hóa của họ để không làm mếch lòng, đụng chạm đến người Việt Nam thì nó mới hoạt động được. Còn nếu người Trung Quốc mở trung tâm văn hóa Khổng Tử ở đây mà lại truyền bá nguyên những chuẩn chính thống họ đang duy trì trên truyền thông của họ thì nó sẽ thành vấn đề với công chúng Việt Nam

BBC:Về các trung tâm dạy tiếng Trung tại Việt Nam thì chuyện tìm hiểu văn hóa Trung Quốc có được đón nhận rộng rãi không?

Ở Hà Nội, TP HCM đều có các trung tâm dạy tiếng Trung nhưng chủ yếu đều mang tính thương mại, đáp ứng cho những người có nhu cầu buôn bán, giao lưu qua biên giới. Ở TP. HCM còn có một cộng đồng tương –đối đông người Hoa nữa. Chuyện học tiếng Hoa chủ yếu là do nhuc ầu giao tiếp kinh tế thôi, chưa có gì là truyền bá văn hóa Trung Quốc cả. Còn các trường đại học dạy chuyên về ngoại ngữ thì cùng ngôn ngữ tiếng Trung cũng có nội dung văn hóa nhưng đó lại là chuyện khác.

Khổng Tử (551 - 479 trước Công nguyên) được thờ ở các văn miếu và văn chỉ tại Việt Nam thời phong kiến
BBC: Trong các nghiên cứu của ông về giai đoạn Tân thư, khi văn hóa Pháp du nhập Việt Nam đầu thế kỷ 20, và bỏ dần Nho giáo thì đã có câu hỏi về tính hữu dụng hay lợi ích của viêc duy trì một số nét của Nho giáo. Vậy bây giờ có nhu cầu đó không và nếu Viện Khổng Tử được mở trong tương lai do Trung Quốc lập ra chỉ truyền bá Nho giáo và những ưu điểm của Nho giáo thì ông thấy có được không?

Tôi nghĩ là nếu Viện đó chỉ bó gọn vào những vấn đề của Khổng giáo thôi thì chính viện đó nó sẽ thiếu sức sống rõ rệt. Tôi nghĩ là họ sẽ không chọn cách đó mà sẽ làm như người Đức chọn ông Goethe và thông qua tên ông Goethe để đặt viện cho giao lưu Đức – Việt. Có lẽ họ sẽ chỉ chọn tên ông Khổng tử để làm tất cả các việc liên quan đến văn hóa Trung Quốc, và ở đấy có giao lưu giữa người Việt và người Trung Hoa về văn hóa thôi. Chứ còn nếu khuôn lại trong phạm vi ông Khổng Tử và Khổng giáo thôi thì nó sẽ rất hẹp.

Vì hiện nay không chỉ ở Việt Nam mà cả và trong vùng Đông Nam Á trong giới học thuật người ta vẫn tiếp tục nghiên cứu ảnh hưởng của Khổng giáo, từ nguồn cho đến suốt trong lịch sử xã hội.

Sự đánh giá cả tích cực và tiêu cực về ảnh hưởng đó vẫn còn mãi trong giới nghiên cứu không chỉ ở Việt Nam mà cả ở các nước trong vùng Đông Á này. Thành thử ra tôi tin là họ sẽ không chọn góc độ đó, họ sẽ chỉ mượn cái tên thôi.

BBC: Liệu ý tưởng về một Khổng Tử kiểu mới có cần thiết cho Việt Nam bây giờ không?

Những ý tưởng trình bày về một Khổng Tử kiểu mới sẽ lạc lõng ở Việt Nam. Vì Khổng Tử kiểu cũ, trong truyền thống người Việt Nam đem về, tại các Văn Miếu, và Văn Chỉ ở các tỉnh, những người theo Nho học đến đó, giao tiếp xung quanh các học thuyết của Khổng tử. Nhưng thực ra, trong quá khứ chỉ có những người đi học ở các trường sở của Nho giáo đó mới trở thành môn đồ của những Văn Miếu, Văn Chỉ đó thôi.

 
Tượng Khổng Tử bị một cơ sở làm gốm sứ ở Khúc Dương, 
tỉnh Hà Bắc của Trung Quốc vứt bỏ

Nhưng Nho học đã bị chấm dứt từ những năm 1906 -1907 nên sau đó, dần dần thế hệ những môn sinh chính cống của Khổng tử đã không còn nữa, họ đã chết hết cả rồi.

Nên ngày nay tại các Văn Miếu hay Văn Chỉ có những người đến đó, theo tôi, vì họ có ngưỡng vọng thế thôi chứ rất ít người có thể giao lưu với nhau về các vấn đề học thuật của Khổng giáo. Những vấn đề đó trên thực tế chỉ còn có một số nhà nghiên cứu chuyên tâm biết. Cả nước Việt Nam có thể chỉ có đếm đấu đến con số 100 người là cùng.

Thành ra tôi không nghĩ ví dụ các Viện Khổng Tử nếu hoàn toàn gắn vào thuyết Khổng Tử lại có thể tạo học thuyết hay tạo ra ảnh hưởng gì đó tại Việt Nam.

BBC: Báo Anh, tờ The Economist cuối năm nay 2011 cũng nói ngay tại Trung Quốc, Đảng Cộng sản cũng không ủng hộ 100% Khổng Tử. Tượng Khổng Tử 9,5 mét ở Thiên An Môn bị bê đi sau một thời gian, còn giới doanh nhân Trung Quốc lại thích Tôn Tử, và muốn dùng binh pháp của ông vào bành trướng kinh doanh, vậy chuyện Đảng Cộng sản Trung Quốc muốn truyền bá Khổng giáo ở Việt Nam, những người cộng sản Việt Nam có thích không?

Tôi nghĩ những người cộng sản Việt Nam ở thế hệ hiện nay họ cũng chỉ còn biết Khổng Tử một cách rất chung chung thôi. Trên thực tế họ vẫn tiếp tục những tôn chỉ của nó nhưng những phạm trù học thuyết thì họ đã xa lâu lắm rồi. Chỉ có cha ông họ biết thôi.

Thành thử tôi không nghĩ là thế hệ những người cộng sản chính thống hiện nay lại có bước ngoặt là quay lại học Khổng giáo, để lĩnh hội giáo lý, tôn chỉ của nó. Tôi không tin là họ sẽ làm như thế.


-->đọc tiếp...

CHIỀU CUỐI NĂM, ĐỌC TÙY BÚT CỦA PHẠM CHUYÊN

Những dòng sông 

Tùy bút của Phạm Chuyên

Bốn con sông. Tranh HS Đinh Quân tặng Phạm Chuyên

Những dòng sông mang nặng phù sa cõng trên lưng biết bao thân phận người. Thế mà người đời cứ qua sông rồi là quên mất cả dòng sông. 

Còn nhớ lắm, ngày tôi sinh, nơi tôi sinh ở ngôi nhà ông bà ngoại, bờ phải phía trên khúc sông chảy qua kinh thành Thăng Long - Hà Nội. 

Tôi biết đến Hà Nội vào những năm sáu mươi, thời bao cấp, tôi được giáo dục cầm súng đi đánh Mỹ. Được tập huấn ở Cầu Chui, Gia Lâm - Hà Nội. Mang quân hàm binh nhì, phụ cấp hàng tháng 5 đồng. Số tiền vừa đủ mua xà phòng tắm 72%, díp đánh răng Ngọc Lan và tem thư. Còn lại, chỉ đủ đi bộ qua cây cầu Long Biên, lượn một vòng xung quanh Hồ Gươm, ăn một que kem Hồng Vân, lại đi bộ qua cầu, trở về Cầu Chui để học cách đánh Mỹ. 

Cây cầu Long Biên và dòng sông Hồng mang trong tiểu sử của nó biết bao sự kiện, bao chiến công, bao thương tích, lịch sử đã ghi chép lại khá cụ thể, khá đầy đặn. Còn với tôi cây cầu ấy, khúc sông ấy là những cuộc cuốc bộ, bụng đói, bước chân như ngắn lại, như con ngựa đi nước kiệu, thở hồng hộc để kịp về doanh trại. Điểm danh cho kịp trước khi tiếng kẻng vang lên. 

Năm mươi năm đã trôi qua. Vào một ngày của năm Đại lễ nghìn năm Thăng Long - Hà Nội, ngày hội trên cầu Long Biên. Năm mươi năm tôi mới lại thả bộ trên cây cầu Long Biên bên người bạn đời xuống bãi giữa, cô ấy mua mấy bắp ngô nướng. 

Chúng tôi qua đầu cầu bên Gia Lâm, uống một trái dừa xiêm. Mua một con tò he. Cô ấy được ký họa một bức chân dung, bằng bàn tay của một họa sĩ trẻ đang hành nghề trên cầu. Tôi kể cho cô ấy những cuốc đi bộ trên cầu Long Biên mà chưa một lần cô ấy nghe, được chứng kiến nhiều việc tôi đã được phục vụ để trả nợ cho dòng sông Mẹ nơi tôi sinh ra, nơi tôi sống những năm tháng đáng sống nhất, gian nguy nhất và chan chứa yêu thương nhất mà người dân Hà Nội ưu ái dành cho tôi. 

Biết ơn mãi mãi là một cảm hứng đi suốt cuộc đời tôi. Dù thời khắc ấy là bình minh, là giông bão. Là thơm ngát mùi hương những loài hoa Hà Nội. Là gương mặt người. Là những bóng đêm. 

Có một lần tôi đề xuất với những người có trách nhiệm ở Thủ đô ta, xin đừng đặt tên nước cho tên quận... Cái quận Hoàng Mai bây giờ, các vị ấy dự định đặt tên là quận Vạn Xuân. Mọi việc như ván đã đóng thuyền. Tôi thức suốt một đêm để thuyết trình cái lý lẽ đừng có đặt tên nước làm tên quận. Xong việc bốn giờ sáng, tôi, hai nhà báo và một hoạ sĩ ngồi bên bờ hồ Trúc Bạch, ở nơi ranh giới giữa Hồ Tây và hồ Trúc Bạch.

Tướng Phạm Chuyên. Ảnh: N.X.D
Thời ấy dân Hà Nội bảo là nơi ranh giới giữa cái hồ sống (hồ Tây) và cái hồ chết (hồ Trúc Bạch). Không rượu, không bia, chỉ có mấy chai lavie và thuốc lá, tôi thanh thản mà đọc mấy câu ghi lại cảm xúc biết ơn cái đêm ấy của anh em chúng tôi. 

Biết ơn nhiều cái đêm không ngủ
Đêm bàng hoàng đêm hốt hoảng về đâu
Trời chưa sáng mà mặt người ngời sáng
Đêm tưởng dài đêm có dài đâu! 

Sáng hôm sau tôi đọc tờ thuyết trình viết ở cái đêm ấy. Ý kiến của tôi được chấp thuận. Thế là có cái tên quận Hoàng Mai bây giờ. Còn tên nước Vạn Xuân từ thời vua Lý Bôn - Lý Bí vẫn là tên nước. Cái hồ sống và cái hồ chết mà chả bao giờ chết được vốn là một phần của con sông Mẹ đã xui khiến tôi và các bạn tôi làm được một việc thật ra là chả mang lại tiền của gì, nhưng nó là cái duyên mà phải làm để trả ơn, để biết ơn tất cả, biết ơn những con sông, những dòng sông, và những gương mặt người.
Hà Nội - bên dòng sông Cái
Tháng Chạp - Canh Dần
Phạm Chuyên
.

Con đê

Tùy bút của Phạm Chuyên


Người Việt Nam mình có ngàn ngàn cây số con đê. Đê sông, đê biển, đê ngòi… Tuổi thơ ai mà chả có những kỷ niệm về những triền đê và con đê. 

Tôi là ai là ai mà yêu quá đời này (Trịnh Công Sơn)... 

Triền đê tuổi thơ tôi. Cái con đê và triền đê kéo dài từ Trung Hà đến triền đê Thăng Long Hà Nội. Đã có thời tôi như một trẻ vô phúc chả làm sao đi lại trên triền đê của tuổi ấu thơ. Đến khi không nghèo như những người công nhân đứng máy, những nhà máy dệt may, nhà máy giày da, nhà máy kính đáp cầu, nhà máy Nai, nhà máy a di đát… Cũng không nghèo như người dân quê tôi giữa những năm hai nghìn - thôn Bài Nha, xã Cam Thượng, huyện Tùng Thiện, tỉnh Sơn Tây - mà nay di về Thăng Long - Hà Nội. Cũng không giàu có như các đại gia, xanh có, đỏ có, xanh vỏ đỏ lòng cũng có. Đủ tiền tôi gọi một cuốc xe đến thắp nhang bốn mươi chín ngày của cụ bà, quê Tản Hồng, Ba Vì, Hà Nội.


Người lái xe lầm lì và kiệm lời lắm. Nhờ có duyên trời cho, anh thổ lộ bảo em người núi Voi, Hải Phòng, là họa sĩ, lái tắc xi chỉ để chơi thôi. Tôi bảo thế cuốc xe này bao nhiêu tiền. Hai triệu. Trời ơi là trời. Có trên dưới bốn chục cây số mà những hai triệu. Họa sĩ lái cái giá nó khác đấy ông anh ạ. Hết biết rồi. Tôi trả anh triệu rưỡi.

Vàng hương xong, chúng tôi xuôi theo triền đê sông Hồng trở về Hà Nội. Tôi bảo chỉ đi trên đê, không đi trên đường thiên lý, trên đường cái quan. Ô kê đi. Họa sĩ nói thế.

Từ Tản Hồng, họa sĩ dừng xe đột ngột. Bảo rẽ vào đình Chàng (đình Chu Quyến) đi bác. Tôi bảo: Ừ. Cái ngôi đình này là cả tuổi thơ tôi. Ông bà già tôi. Ông cố nông - không một thước đất cắm dùi. Lấy mẹ tôi, con cụ tiên chỉ của làng. Hai người sau khi sinh ra tôi về ngụ cư trên chính vùng đất quê mình - chợ Chàng, Chu Quyến, Quảng Oai, Tùng Thiện, Sơn Tây.

Thế là tôi học A, B, C ở đình Chàng cho đến lớp hai. Đình Chàng có những cột đình to đùng, to đoàng. Vào tuổi ấy phải bốn đến sáu đứa trạc tuổi tôi mới ôm khít một cột đình. Còn nhớ chỉ học A, B, C mà ông giáo làng đã viết một tờ giấy dó mấy chữ Tổ quốc trên hết. Cứ mỗi ban mai, chúng tôi hái những bông hoa, họa dại có, hoa người ta trồng có, kết một vòng hoa xung quanh mấy chữ Tổ quốc trên hết của ông giáo làng.

Rời đình Chàng, chàng họa sĩ lại bon bon trên triền đê sông Hồng. Rồi chàng họa sĩ lại thắng gấp đánh hự một cái, rẽ trái một cái. Chúng tôi đứng trước cái cổng sắt nhà cụ tiên chỉ. Cổng đóng then cài. Mợ tôi (chủ nhà) đang mưu sinh trên đường thiên lý. Nhìn qua cánh cổng sắt tôi mơ màng thấy cái cuống rốn tôi bay bay trên vườn nhà ông ngoại.

Chúng tôi lại bon bon trên triền đê sông Hồng xuôi về Hà Nội. Trời vẫn mưa. Ổ trâu, ổ gà, ổ voi, cơ man nào là ổ. Chàng tắc xi - họa sĩ bảo, bác có biết lái không. Tôi bảo, cứ thử xem. Tôi cầm vô lăng chở chàng họa sĩ bon bon trên triền đê sông Hồng xuôi về Thăng Long Hà Nội. Bụng cứ bảo dạ, hai anh em mình về Hà Nội thôi. Hà Nội có những người chị, những người em, có cả Thắng ngớ đang chờ ta.

Khự một phát, người ta đắp ụ chắn đê, đành rẽ vào phố phường. Qua triền đê Liên Hà, Liên Mạc, tôi nằm phịch trên chiếc giường sau cùng, ngôi nhà sau cùng. Chắc sẽ cho đến lúc về chầu ông bà ông vải.

*Tác giả Phạm Chuyên, Thiếu tướng, nguyên GĐ Sở Công an Tp Hà Nội.



-->đọc tiếp...

PHÁT NGÔN TUẦN VIỆT NAM: ẤN TƯỢNG 2011

Phát ngôn Tuần Việt Nam: Ấn tượng 2011

“… một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử hiện đại, hàng chục cuộc biểu tình yêu nước tự phát đã nổ ra tại Thủ đô Hà Nội, cùng với các cuộc biểu tình của Việt kiều ở nước ngoài. Tất cả đều hướng về Biển Đông, hướng về Hoàng Sa- Trường Sa.”

“Đó là sự khẳng định, cần thực hiện điều 69 Hiến pháp 1992, quy định công dân được quyền biểu tình theo pháp luật, phù hợp với Hiến pháp, đặc điểm lịch sử, văn hóa, điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế. Đồng thời nó góp phần điều chỉnh thái độ sống của con người trong xã hội pháp quyền.”

“Sự kiện ngoài Biển Đông, vô tình tạo ra áp lực, thúc đẩy cả một quốc gia phải tự lớn lên, tự nâng mình lên trước sự tồn vong và phát triển. Thúc đẩy một xã hội dân sự, dân chủ và pháp quyền, sớm muộn đã bắt đầu nảy nở, hình thành.”

Phát ngôn Tuần Việt Nam: Ấn tượng 2011

Tác giả: Kỳ Duyên

Chỉ còn một ngày nữa, năm 2011 sẽ khép lại. Khép lại một năm có rất nhiều sự kiện, con người với những phát ngôn và hành động ấn tượng, khiến dư luận xã hội chú ý và bàn luận. Có nỗi đau và sự phẫn nộ. Có nỗi buồn và sự bất bình. Nhưng cũng có cả những niềm hy vọng, dù mỏng manh….Phát ngôn Tuần Việt Nam cuối năm xin chọn một số sự kiện, nhân vật tiêu biểu và gây ấn tượng mạnh trong năm, gửi tới quý bạn đọc để chia sẻ. Cũng là gửi tới những nỗi niềm trải nghiệm một năm cũ sắp qua, với lời chúc sức khỏe, may mắn, hạnh phúc và an lành trong tâm hồn tất cả chúng ta, khi Năm mới 2012 đã rất gần.


Sự kiện ấn tượng: Biển Đông và lòng người nổi sóng

Năm 2011 sắp qua. Nhưng có thể nói, sự kiện Biển Đông là dấu ấn đậm nhất trong con tim mỗi người Việt yêu nước. Một dân tộc gian truân, luôn khao khát hòa bình như dân tộc Việt, một lần nữa phải đứng trước thách thức của số phận- độc lập dân tộc?

Có quá nhiều sự kiện gây bất bình và phẫn nộ giữa người với người, giữa láng giềng với láng giềng, như để đo nắn lòng yêu nước và khí phách tự tôn, tự cường một dân tộc? Hay “trang sử mới” 1000 năm Bắc thuộc vẫn muốn được mở ra, để láng giềng viết tiếp cho láng giềng? (đoạn này đã được biên tập  cắt bỏ-BS).


Biển Đông thì rất sâu, nhưng lòng yêu nước của người Việt chắc chắn còn sâu hơn thế.

Những con sóng bạc đầu của Biển Đông rất dữ, nhưng lòng yêu nước nơi người Việt còn dữ hơn những con sóng bạc đầu. Lịch sử dân tộc Việt trong quá khứ đã viết điều đó, thấm đẫm máu, mồ hôi, và nước mắt.

Ngay cả những ngôi mộ gió bên Biển Đông, nơi chứa đựng linh hồn của những ngư dân Việt mãi đi không về, cũng nói một điều thiêng liêng, bất khả xâm phạm về biển đảo.

Hoàng Sa- Trường Sa không chỉ tạc trên tấm bản đồ Việt Nam, giữa sóng nước Biển Đông, nó còn tạc trong tâm thức của hơn 80 triệu con dân Việt.

Và, một hiện tượng chưa từng có trong lịch sử hiện đại, hàng chục cuộc biểu tình yêu nước tự phát đã nổ ra tại Thủ đô Hà Nội, cùng với các cuộc biểu tình của Việt kiều ở nước ngoài. Tất cả đều hướng về Biển Đông, hướng về Hoàng Sa- Trường Sa.

Đó cũng chính là tiếng nói của lý lẽ phải trái công minh, của khí phách người Việt trước vận mệnh dân tộc.

Đỉnh cao của ‘đối thoại” về chủ quyền biển đảo, sau rất nhiều những tranh luận, phát ngôn, những chứng cứ pháp lý lịch sử, cuối cùng được công khai và minh bạch “danh chính ngôn thuận”, trong một văn bản sáu điểm, được ký kết giữa hai nước Việt- Trung. Được đánh dấu vào ngày 11/10/2011, khi Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc.

 
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và Tổng  Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào

Theo đó, hai nước Việt Nam- Trung Quốc lấy đại cục quan hệ hai bên làm trọng, xuất phát từ tầm cao chiến lược và toàn cục, với phương châm “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, theo tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.

Kiên trì thông qua hiệp thương hữu nghị, xử lý và giải quyết thỏa đáng vấn đề trên biển, làm cho Biển Đông trở thành vùng biển hòa bình, hữu nghị, hợp tác, đóng góp vào việc phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc, góp phần duy trì hòa bình và ổn định trong khu vực.

Khi mọi thông tin được đưa ra ánh sáng, giữa thanh thiên bạch nhật, công khai và minh bạch, thì nó buộc mỗi con người, mỗi quốc gia, mỗi láng giềng, dù nhỏ, dù to, phải hành xử như chính danh quân tử – nhất ngôn.

Công khai và minh bạch, như trả lời chất vấn của TT Nguyễn Tấn Dũng tại Kỳ họp thứ 2, QH khóa 13 mới đây trước sự chờ mong của nhân dân. Trước những vấn đề cực kỳ hệ trọng, sinh tử của quốc gia, trước những vấn đề quyền con người trong một xã hội đang hướng tới văn minh và hội nhập.

Cả nghị trường, đúng hơn, cả xã hội như lặng phắc trước những thông tin chính thức từ người đứng đầu Chính phủ.

Đó là sự khẳng định chủ quyền Việt Nam với quần đảo Hoàng Sa-  Trường Sa căn cứ trên các cơ sở pháp lý và lịch sử không thể phủ nhận. Với những dẫn chứng, cứ liệu và cơ sở luật pháp quốc tế.

Đó là sự khẳng định, cần thực hiện điều 69 Hiến pháp 1992, quy định công dân được quyền biểu tình theo pháp luật, phù hợp với Hiến pháp, đặc điểm lịch sử, văn hóa, điều kiện cụ thể của Việt Nam cũng như thông lệ quốc tế. Đồng thời nó góp phần điều chỉnh thái độ sống của con người trong xã hội pháp quyền.



Sự công khai và minh bạch thông tin, không chỉ là tiêu chí quản lý một xã hội hiện đại. Nó còn có ý nghĩa hóa giải mọi hoài nghi, lo lắng, mọi tổn thương trong dư luận xã hội lâu nay xung quanh vấn đề Biển Đông và hiện tượng biểu tình.

Sự kiện ngoài Biển Đông, vô tình tạo ra áp lực, thúc đẩy cả một quốc gia phải tự lớn lên, tự nâng mình lên trước sự tồn vong và phát triển. Thúc đẩy một xã hội dân sự, dân chủ và pháp quyền, sớm muộn đã bắt đầu nảy nở, hình thành.

Phát ngôn ấn tượng: Khó phát triển và… nguy cơ?

Năm 2011, có rất nhiều phát ngôn ấn tượng của các nhân vật nổi tiếng và không nổi tiếng (nói đúng hơn, nhờ phát ngôn “ấn tượng” mà có những nhân vật không tên tuổi trở thành nổi tiếng, cho dù là tiếng… xấu).

Nhưng người viết bài xin chọn một phát ngôn gây ấn tượng nhất. Vì nó rất trí tuệ, sâu sắc và hàm chứa nhiều vấn đề của một xã hội thời hội nhập. Đó là phát ngôn của tướng Lê Văn Cương, nguyên Viện trưởng Viện nghiên cứu chiến lược, Bộ Công An.

Bình về hiện tượng một Bộ trưởng trẻ- Đinh La Thăng, đang phải đối mặt với một ngành khó khăn nhất nhì đất nước- giao thông, tướng Lê Văn Cương lưu ý nhà báo, cũng là lưu ý bạn đọc về đặc điểm của cơ chế xã hội: Việt Nam không  phải nước đang phát triển, đã phát triển hay chậm phát triển; mà là khó phát triển (Tuần Việt Nam, ngày 27/10/2011).

Một phát ngôn không chỉ nhiều suy ngẫm, mà còn nhiều trải nghiệm thực tiễn ở đời.

 
Thiếu tướng Lê Văn Cương

Vì sao Việt Nam ta khó phát triển?

Trước đó, lý giải về sự thành công của quốc gia Singapore, theo tướng Lê Văn Cương: “Một người trợ lý của của cựu TT Singapore Lý Quang Diệu từng nói với tôi, các ông cứ thần thánh hóa ông Lý Quang Diệu chứ ông Diệu chỉ là một người bình thường. Chỉ là ông ta đi khắp thế giới và rút ra được mấy vấn đề. Một đất nước nhỏ như vậy, muốn phát triển được trước hết phải có một bộ máy hành chính tử tế. Hai là nguồn nhân lực có chuyên môn cao. Ba là hệ thống hạ tầng thông suốt. Việc lớn nhất ông Diệu làm được chính là tập hợp được một đội ngũ những người giỏi xung quanh ông ấy. Và đến giờ phút này, chưa có ai kêu ca gì về gia đình ông Lý Quang Diệu, họ hoàn toàn trong sáng”.

Nếu so với ba vấn đề, đất nước nhỏ Singapore đã rút ra được, thì đất nước to như Việt Nam ta đang ở trạng thái… bó tay. com.

Bởi con người là yếu tố quyết định của bộ máy và cơ chế quản lý. Nhưng trong cơ chế ấy, con người vừa bất lực, vừa tích cực tham gia vào quá trình làm “tha hóa” xã hội, chỉ vì lợi ích nhóm, lợi ích riêng mình.

Ngày 25/12/2011 mới đây, Tuần Việt Nam có bài Quyền “đuổi đầy tớ” của dân”, với chủ đề cải cách hành chính. Công cuộc CCHC của chúng ta triển khai đã gần 10 năm, thế nhưng hiệu quả ra sao, khi mà nền hành chính quốc gia còn rất ì ạch?

Bài báo cho biết: Từ thời “dân chủ cộng hòa” cho đến nay, hơn 65 năm qua, người dân vẫn chưa biết “đuổi đầy tớ” bằng cách nào, khi “đầy tớ” “không làm được việc cho dân…. Khi nhân dân không thực quyền trong tuyển dụng và sa thải “đầy tớ” thì tính chịu trách nhiệm của các “đầy tớ” trước nhân dân, của toàn bộ bộ máy Nhà nước nói chung sẽ thấp. Tính chịu trách nhiệm thấp sẽ dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước thấp, tham nhũng tăng.

Tham nhũng từ lâu đã được người dân kinh hãi tặng danh hiệu quốc nạn. Mặc dù, Nhà nước thành lập hẳn bộ máy chống tham nhũng các cấp từ trên xuống dưới, nhưng tại buổi Đối thoại về phòng, chống tham nhũng lần thứ 10, được tổ chức tại Hà Nội ngày 29/11, Văn phòng Ban Chỉ đạo TƯ về phòng chống tham nhũng cho biết: Trong 5 năm qua (2007-2011), các cơ quan tố tụng khởi tố bình quân mỗi năm khoảng 280 vụ, với hơn 600 bị can về các tội tham nhũng.

Đó mới chỉ là con số của các đồng chí… bị lộ so với các đồng chí … chưa bị lộ.

Dưới con mắt của nhiều chuyên gia quốc tế, số điểm và vị trí xếp hạng của Việt Nam năm 2011 không thay đổi bao nhiêu so với năm 2010. Thế nên, một đại biểu QH từng cảm thán: Chống tham nhũng giống như dòng văn học cuối thế kỷ 19 – hiện thực phê phán – thấy hiện trạng nhưng không có giải pháp tháo gỡ.

Chả lẽ, lại nên có một khái niệm mới: Tham nhũng- dòng văn học hiện thực phê phán?

Ngày 26/12/2011 mới đây, VietNamNet đưa lại bài viết của Cổng TTĐT Chính phủ. Đọc tít, người ta giật mình: Chỉnh đốn Đảng vì sự tồn vong của chế độ. Có lẽ chưa bao giờ, một Tổng Bí thư Đảng phải có một phát ngôn thẳng thắn, và cũng đau đến thế, cấp báo đến thế. Vì đó là sự thật!


Trong nhiều nội dung bức thiết, theo TBT, Trung ương chọn ba vấn đề thực sự cấp bách cần làm ngay, để củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Đó là ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp…

Như để “minh họa” cho nhận định của người lãnh đạo cao cấp, mới đây, ở tỉnh nghèo Sóc Trăng, có đông người dân tộc, hai quan chức Nguyễn Thanh Lèo (Phó Giám đốc Sở Giao thông Vận tải) và Trần Văn Tân (Giám đốc TT Đào tạo lái xe loại 3) đánh cờ tướng với nhau. Mỗi ván, các ông cược từ 1-5 tỷ đồng (!) Chuyện vỡ lở. Cả xã hội bàng hoàng. Người ta tự hỏi, với chức quan nhỏ như của hai ông, mà sao tiền đã như vỏ hến?

 
Căn biệt thự của ông phó Sở đánh cờ bạc tỷ tại  Sóc Trăng

Nhà nước thường lo lắng, đề phòng nguy cơ các thế lực thù địch từ bên ngoài. Nhưng lại thường coi nhẹ nguy cơ “kẻ thù” nằm ngay trong một bộ phận không nhỏ ở đội ngũ được gọi là đầy tớ của dân. Đó là sự quan liêu, sự vô cảm và “bắt nạt” dân. Là sự ích kỷ, tham lam, sa đọa đạo đức, lối sống của chính họ. Trong khi, nhân dân- những người được gọi là người chủ xã hội, mất lòng tin, thậm chí phẫn nộ, mà không biết làm sao có thể “đuổi đầy tớ” bằng cách nào.

Một nền hành chính quốc gia còn nhiều khiếm khuyết, quốc nạn tham nhũng, và sự sa đọa của không ít cán bộ, quan chức…Đó không chỉ làm cho đất nước khó phát triển, mà còn là nguy cơ cho sự tồn vong một chế độ.

Nguy cơ này, liệu đã nhãn tiền chưa?
(Còn tiếp)
Nguồn: Tuần Việt Nam & Ba Sàm.
-->đọc tiếp...

CHỦ TỊCH NƯỚC: CHỦ QUYỀN LÃNH THỔ LÀ THIÊNG LIÊNG!

Chủ tịch nước: Chủ quyền lãnh thổ là thiêng liêng

.

Chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm - Chủ tịch nước Trương Tấn Sang trả lời báo chí trước thềm năm mới.

VietNamNet trân trọng giới thiệu nội dung cuộc phỏng vấn:


- Thưa Chủ tịch nước, năm 2011 đã để lại nhiều dấu ấn trên lĩnh vực đối ngoại. Chủ tịch nước đánh giá như thế nào về những kết quả này?


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Đại hội XI của Đảng đã tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ; tích cực, chủ động hội nhập quốc tế; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế...
  
Thực hiện đường lối đó, trong năm vừa qua, Đảng và Nhà nước đã triển khai ở mức cao các hoạt động đối ngoại, từ các hoạt động song phương đến các diễn đàn đa phương của quốc tế, của khu vực; từ cấp cao đến các bộ ngành, địa phương; cả các hoạt động ngoại giao nhân dân.

Có thể nói, năm 2011 là một năm thắng lợi nổi bật trên lĩnh vực đối ngoại, vị thế và vai trò của Việt Nam ngày càng được quốc tế công nhận, đề cao. Trong lúc tình hình an ninh chính trị ở nhiều khu vực có biến động và kinh tế thế giới khó khăn do khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu, nhưng lòng tin của các nước, của các công ty, tập đoàn kinh tế trong khu vực và trên thế giới đối với Việt Nam không những không suy giảm, mà còn tiếp tục duy trì và phát triển, vẫn tiếp tục chọn Việt Nam là điểm đến tin cậy; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn ODA dành cho Việt Nam vẫn tiếp tục ở mức cao.


Tôi xin nhấn mạnh rằng, các nhà đầu tư đưa vốn của họ vào Việt Nam không đơn giản chỉ vì họ yên tâm về những gì nhìn thấy ở Việt Nam hôm nay, mà chủ yếu vì họ thấy một Việt Nam ổn định và phát triển lâu dài trong tương lai. Kết quả hoạt động ngoại giao đem lại không chỉ trong lĩnh vực kinh tế, mà việc tăng cường sự tin cậy và hiểu biết lẫn nhau giữa nước ta với các nước, nâng cao vị thế nước ta trên trường quốc tế đã góp phần củng cố quốc phòng-an ninh, bảo vệ chủ quyền biển, đảo của đất nước...


Thêm một lần nữa, chúng ta nhận thấy rõ ràng hiệu quả và tính đúng đắn đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.


-Xin Chủ tịch nước cho biết những giải pháp cơ bản để tháo gỡ khó khăn trong năm qua và để tiếp tục phát triển đất nước trong năm tới?


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Bước vào năm 2011 những thách thức và khó khăn đều nhiều hơn, lớn hơn so với dự báo. Trước tình hình lạm phát tăng cao, mất ổn định kinh tế vĩ mô, Bộ Chính trị đã có Kết luận 02, Chính phủ ban hành Nghị quyết 11, thực hiện nhiều chính sách đồng bộ: chính sách tài chính và tiền tệ chặt chẽ, cắt giảm đầu tư công, giảm mức tăng trưởng tín dụng; miễn, giảm thuế cho doanh nghiệp gặp khó khăn, trợ cấp cho người nghèo, bảo đảm an sinh xã hội...


Với sự nỗ lực phấn đấu vượt bậc, năng động sáng tạo của toàn dân, của cả hệ thống chính trị và đội ngũ doanh nghiệp, dưới sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, quản lý có hiệu quả của Nhà nước, chúng ta đã vượt qua khó khăn, thách thức, ứng phó có kết quả với diễn biến phức tạp của tình hình, đạt được những thành tựu quan trọng. Lạm phát được kiềm chế, từng bước giảm dần, kinh tế vĩ mô có bước chuyển biến tích cực. Sản xuất kinh doanh được duy trì và phát triển, tăng trưởng kinh tế (GDP) đạt gần 6%, an sinh xã hội được quan tâm giải quyết, an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, quốc phòng an ninh được tăng cường, vị thế của nước ta trên thế giới ngày càng được nâng cao.


Năm 2012, đất nước ta còn rất nhiều khó khăn để ổn định và tiếp tục phát triển, Đảng, Nhà nước một mặt tiếp tục thực hiện chính sách tài chính và tiền tệ chặt chẽ để kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; thực hiện nhiều chính sách để đảm bảo an sinh xã hội, hỗ trợ người nghèo; miễn, giảm thuế cho doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ có nhiều khó khăn; khi chỉ số lạm phát giảm xuống, ngân hàng Nhà nước sẽ chỉ đạo các ngân hàng thương mại hạ dần lãi suất cho vay, giảm bớt khó khăn về vốn cho doanh nghiệp; mặt khác thực hiện tái cơ cấu nền kinh tế, trong đó tập trung vào tái cơ cấu đầu tư mà trọng tâm là đầu tư công; tái cơ cấu doanh nghiệp nhà nước mà trọng tâm là các tổng công ty, tập đoàn kinh tế nhà nước; tái cơ cấu hệ thống tài chính mà trọng tâm là các ngân hàng thương mại; đổi mới mô hình tăng trưởng để chuyển từ phát triển chủ yếu theo chiều rộng sang dần phát triển theo chiều sâu dựa vào ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực để nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, phát triển kinh tế nhanh, bền vững.


Cùng với lĩnh vực kinh tế, Đảng, Nhà nước tiếp tục quan tâm phát triển các lĩnh vực văn hoá, xã hội, giáo dục đào tạo, khoa học công nghệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, xóa đói giảm nghèo, bảo đảm an sinh xã hội và bảo vệ môi trường, bảo đảm cho đất nước phát triển bền vững.


-Trước những kỳ vọng của người dân về một nền tư pháp trong sạch, vững mạnh, Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp Trung ương có những kế hoạch gì trong những năm tới, thưa Chủ tịch nước?


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Từ khi Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 08 và Nghị quyết 49-NQ/TW về cải cách tư pháp, công tác cải cách tư pháp đã được triển khai thực hiện tích cực, đạt được một số kết quả, tạo sự chuyển biến tốt trong lĩnh vực tư pháp; chất lượng các hoạt động điều tra, truy tố, xét xử được nâng lên; sự phối hợp giữa các cơ quan tố tụng chặt chẽ hơn đã góp phần đẩy nhanh tiến độ, nâng cao chất lượng giải quyết các vụ án.


Tuy nhiên, chúng ta còn tiếp tục phải làm rất nhiều công việc để đáp ứng mong muốn của Đảng và của nhân dân về xây dựng nền tư pháp công minh, liêm chính, bảo vệ quyền công dân, bảo vệ chế độ. Có nhiều việc phải làm nhưng trước mắt cần tập trung vào một số công việc trọng tâm, như: tiếp tục hoàn thiện chính sách, luật pháp về hình sự, dân sự và tố tụng tư pháp; hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền, tổ chức bộ máy các cơ quan tư pháp; xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về tổ chức, hoạt động của các cơ quan bổ trợ tư pháp; xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp và bổ trợ tư pháp đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng; hoàn thiện cơ chế giám sát của các cơ quan dân cử, của nhân dân đối với hoạt động tư pháp; bảo đảm cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động tư pháp... với quyết tâm thực hiện được mục tiêu Nghị quyết của Đảng đề ra và mong muốn của nhân dân đối với lĩnh vực tư pháp, đóng góp tích cực vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.


-Thưa Chủ tịch nước, giữ vững chủ quyền lãnh thổ hiện nay là vấn đề được nhân dân hết sức quan tâm. Đảng và Nhà nước có phương sách gì để vừa giữ vững chủ quyền, đồng thời giữ vững môi trường hòa bình để xây dựng đất nước, nâng cao vai trò vị thế của đất nước?


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Trong bối cảnh tình hình tranh chấp chủ quyền trên biển Đông diễn biến phức tạp, Đảng, Nhà nước ta luôn chủ trương kiên trì giải quyết bằng biện pháp hòa bình, thông qua đàm phán với các bên có liên quan trên cơ sở luật pháp quốc tế, Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982, Quy tắc ứng xử của các nước trong khu vực (DOC), đây là những chuẩn mực được cộng đồng thế giới thừa nhận, đồng tình và trên cơ sở thỏa thuận những nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển giữa Việt Nam và Trung Quốc được ký trong chuyến thăm Trung Quốc tháng 10/2011 của Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng.


Bằng cách đó và bằng việc tăng cường hoạt động đối ngoại tích cực, chủ động hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước trong khu vực và trên thế giới, tạo sự ủng hộ tích cực của bạn bè quốc tế đối với sự nghiệp chính nghĩa của nhân dân ta, để chúng ta vừa bảo vệ được chủ quyền lãnh thổ, vừa giữ vững được môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước, không ngừng nâng cao vị trí Việt Nam trên trường quốc tế.


-Trong nhiệm kỳ của mình, Chủ tịch nước đặt ra cho mình những mục tiêu, nhiệm vụ gì?


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Như tôi đã phát biểu trước Quốc hội khi được Quốc hội tín nhiệm bầu giữ trọng trách Chủ tịch nước, trong nhiệm kỳ của mình, tôi nguyện sẽ đem hết sức mình phục vụ Tổ quốc, phục vụ nhân dân, thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn của Chủ tịch nước theo Hiến pháp và pháp luật quy định, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XI của Đảng, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ lớn là:


Một: xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong sạch, vững mạnh, thực sự của dân, do dân, vì dân, quản lý có hiệu lực, hiệu quả cao.


Hai: Tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại.


Ba: Phát triển lĩnh vực văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường, không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân.


Bốn: Củng cố quốc phòng - an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ cuộc sống bình yên của nhân dân.


Năm: Tăng cường hoạt động đối ngoại, hội nhập quốc tế, tạo ra môi trường hoà bình, ổn định, những điều kiện thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta, nâng cao vị thế của Việt Nam trên thế giới.


Sáu: Củng cố, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc để xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.


-Chủ tịch nước gửi tới bạn bè quốc tế và nhân dân trong nước lời chúc và thông điệp gì nhân dịp năm mới?


Chủ tịch nước Trương Tấn Sang: Năm mới, tôi thân ái chúc toàn thể đồng bào, đồng chí và chiến sỹ trên mọi miền Tổ quốc, kiều bào ta ở nước ngoài lời chúc mừng năm mới tốt đẹp nhất. Tôi đặc biệt gửi tới các cán bộ, chiến sỹ đang vừa đón Tết, vừa thực hiện nhiệm vụ ở các vùng biên giới, hải đảo xa xôi tình yêu thương sâu nặng. Thay mặt nhân dân Việt Nam, tôi gửi tới nhân dân các nước, các dân tộc trên thế giới, bạn bè nước ngoài đang sinh sống, làm việc trên đất nước Việt Nam lời chúc hữu nghị, hợp tác và phát triển.

Năm 2012, mặc dù còn rất nhiều khó khăn, thử thách, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta tiếp tục đoàn kết một lòng, chủ động đối phó với những diễn biến phức tạp của kinh tế thế giới và trong nước, quyết tâm giữ vững ổn định chính trị - xã hội, quốc phòng - an ninh, bước đầu thực hiện hiệu quả chủ trương tái cơ cấu nền kinh tế và đổi mới mô hình tăng trưởng; nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế; phát triển các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, y tế, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường... quyết tâm hoàn thành các mục tiêu, nhiệm vụ năm 2012, tạo tiền đề tích cực để thực hiện thắng lợi kế hoạch 5 năm 2011-2016 mà Đại hội toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã đề ra.


Tôi mong đồng bào và chiến sỹ cả nước, kiều bào ta ở nước ngoài tiếp tục nỗ lực hơn nữa, đoàn kết hơn nữa, vững tin ở tương lai tươi sáng của đất nước, vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, nhất định chúng ta sẽ giành được nhiều thắng lợi mới to lớn hơn nữa.


Theo TTXVN/Vietnam+ 
 
-->đọc tiếp...

Thứ năm, ngày 29 tháng mười hai năm 2011

PGĐ SỞ GIÁO DỤC CÀ MAU THẾ CHẤP CẢ THẺ ĐẢNG

Phó giám đốc Sở GD-ĐT Cà Mau thế chấp cả thẻ đảng
Ngày 26.12, bà Nguyễn Thị Thanh Thủy (ngụ khóm 8, P.8, TP.Cà Mau, Cà Mau) đến gặp PV Thanh Niên tố cáo bị bà Nguyễn Thị Kim Liên (nguyên Tỉnh ủy viên, nguyên Phó giám đốc Sở GD-ĐT tỉnh Cà Mau) lừa bán căn nhà và đất trong khi bà Liên đã bán cho người khác. 

Theo bà Thủy, vụ mua bán căn nhà và đất tại số 286 đường Tô Văn Mười (thị trấn Đầm Dơi, H.Đầm Dơi) trị giá 500 triệu đồng. Khi bà Thủy giao tiền thì bà Liên cũng giao sổ đỏ cho bà Thủy giữ, chờ ngày ra công chứng. Sau đó, bà Liên đến nhà yêu cầu bà Thủy mang sổ đỏ cùng bà Liên ra Phòng TN-MT H.Đầm Dơi để làm thủ tục chuyển nhượng. Khi đến nơi, bà Liên nói đưa sổ đỏ cho bà vào trong làm thủ tục. “Nhưng sau khi cầm sổ đỏ, bà Liên trốn đi mất. Sau đó, tôi mới biết căn nhà trên Liên đã tiếp tục bán cho người khác”, bà Thủy nói. 

Sợ bà Thủy làm lớn chuyện, bà Liên viết cam kết hứa sẽ trả lại khoản tiền 500 triệu đồng cho bà Thủy, rồi lấy con dấu của Sở GD-ĐT tỉnh Cà Mau đóng vào bản cam kết. Ngày 24.4, bà Liên mang thẻ đảng và giấy CMND đến thế chấp cho bà Thủy để làm tin về các khoản nợ, trong đó có cả khoản nợ tiền hụi là 30 triệu đồng. Gần đây nhất, ngày 20.12, bà Liên đến gặp bà Thủy và tiếp tục viết cam kết hứa sẽ trả nợ.

Được biết, sáng ngày 26.12, Sở Nội vụ tỉnh Cà Mau đã triển khai quyết định cách chức Phó giám đốc Sở GD-ĐT đối với bà Liên. 

Gia Bác
Nguồn: Thanh Niên.
-->đọc tiếp...

LỄ KHAI ẤN ĐỀN TRẦN: LINH THIÊNG HAY LỪA LỌC?

L Khai n đn Trn: Linh thiêng hay la lc ?
Trọng Thành (RFI)
Bài đăng : Chủ nhật 31 Tháng Bẩy 2011

RFI: Xin thân chào nhà nghiên cứu Nguyễn Xuân Diện, như anh biết, tại Việt Nam hiện nay, có một cuộc tranh luận xung quanh lĩnh vực tín ngưỡng và lễ hội, liên quan đến vấn đề «Phát ấn đền Trần», Phát ấn tại đền Trần Nam Định. Vấn đề này gây ra tranh cãi nhiều trên báo chí Việt Nam, cũng như là trong xã hội. Anh có thể cho biết, vì sao việc Phát ấn đền Trần, một hoạt động thuộc về văn hóa, lễ hội cũng như tín ngưỡng truyền thống mà lại trở thành một chủ đề gây nhiều tranh luận tại Việt Nam trong thời gian gần đây, cũng như vài năm trở lại đây ?

Nguyễn Xuân Diện: Thưa anh, sở dĩ có điều này, vì lễ Khai ấn đền Trần hàng năm đã gây ra lộn xộn, mất trật tự an ninh trong đêm 14 tháng Giêng. Và các nhà nghiên cứu thấy rằng, việc biến một lễ hội, từ một lễ hội nhỏ bé vùng Nam Định (phường Lộc Vượng) trở thành một lễ hội mang tính chất quốc gia, với sự tham gia của nhiều quan chức cao cấp của chính phủ, của Nhà nước, điều này khiến dư luận rất bức xúc. Một điều nữa là, các nhà nghiên cứu cho rằng, việc triển khai lễ Khai ấn đền Trần rầm rộ, không dựa theo một chứng cứ lịch sử nào, thì đó là một sự xuyên tạc nghiêm trọng đối với lịch sử nước nhà.

Về phía tôi, thì tôi thấy rằng là lễ hội đền Trần nói chung, và lễ hội Khai ấn đền Trần nói riêng, là một hoạt động đã xa rời lịch sử, Nhà nước đã tự đánh mất đi cái vai trò của mình trong việc giáo dục truyền thống, về những trang sử vẻ vang hào hùng của đời nhà Trần. Đó là thời đại «thượng mã đề thương, hạ mã đề thi», là tinh thần của hào khí Đông A, là tinh thần của «hòa quang đồng trần». Thì tất cả những điều này đã không được tuyên truyền ở lễ hội đó.

Người ta nhìn vào lễ hội đền Trần chỉ thấy một sự lộn xộn, một sự quảng bá cho một niềm tin mê lầm, rằng ấn đền Trần có thể mang lại cho người ta sự thăng quan tiến chức.

RFI: Thưa anh, vậy nguồn gốc từ đâu mà lễ Phát ấn đền Trần lại được tổ chức tổ chức như thế này ?

Nguyễn Xuân Diện: Ở đây tôi phải nói lại rằng là, sở dĩ lễ hội đền Trần đã được các cơ quan văn hóa, cũng như tỉnh Nam Định muốn biến nó thành một lễ hội quốc gia, thì nguyên nhân là do sự đặt hàng của tỉnh Nam Định đối với Viện nghiên cứu Văn hóa Nghệ thuật, tức là một viện chiến lược của Bộ Văn hóa – Thể thao và Du lịch (Bộ VH, TT & DL), mặc dù đó chỉ là một lễ hội nhỏ bé thuộc một vùng ngoại vi thành phố Nam Định.

Cho đến nay các nhà nghiên cứu đã không xuất trình được một tài liệu nào để nói rằng lễ Khai ấn đền Trần là một lễ lớn và đã được chính sử ghi chép. Thực ra nó chỉ là một lễ hội, mà trong đêm 14, cái cụ thủ từ ở đền Trần đó đóng 9 cái ấn vào 9 tấm vải hoặc miếng giấy vàng để phát cho 9 điện thờ ở xung quanh đó. Đấy chỉ là một cái ấn tín mang tính chất tôn giáo, mà ở đây mang tính Đạo giáo (hay Lão giáo). Cái ấn này chỉ là một cái ấn để trừ tà ma thôi, thế nhưng không hiểu vì lý do gì, mà Viện Văn hóa Nghệ thuật và ngành Văn hóa tỉnh Nam Định đã biến nó thành một lễ Khai ấn được tiến hành ở triều đình sau những ngày nghỉ lễ tết.

Và hình như tỉnh Nam Định và Viện Văn hóa Nghệ thuật vẫn muốn lễ này được tiến hành rầm rộ như những năm trước, cho nên người ta đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo và thực chất là để hợp pháp hóa, «nhà nước hóa», «hành chính hóa» một lễ hội mang tính tâm linh tôn giáo như thế. Tôi thấy rằng cái ý chí ấy của các nhà nghiên cứu ở Viện Văn hóa Nghệ thuật, cũng như Sở Văn hóa tỉnh Nam Định, hay tỉnh Nam Định là một điều mà chắc chắn, hoặc đã từng vấp phải sự phản đối kịch liệt của các nhà nghiên cứu, ví dụ như giáo sư tiến sĩ Nguyễn Quang Ngọc ở Viện Việt Nam học và phát triển, tiến sĩ Nguyễn Hồng Kiên ở Viện Khảo cổ học, rồi giáo sư Nguyễn Văn Huy, nguyên giám đốc Bảo tàng Dân tộc học, hay giáo sư tiến sĩ Ngô Đức Thịnh, giám đốc Trung tâm nghiên cứu Tín ngưỡng và Văn hóa Việt Nam,… Đấy là bối cảnh chung của các cuộc tranh luận gần đây.

RFI: Thưa anh, vậy thì, theo anh ở Việt Nam có những giải pháp nào đã và đang được đề ra để thoát ra khỏi tình trạng mâu thuẫn và tạm gọi là bế tắc hiện nay?

Nguyễn Xuân Diện: Các nhà nghiên cứu ở Viện Văn hóa Nghệ thuật, tức Viện chiến lược của Bộ Văn hóa thì vẫn muốn tiến hành cái lễ Phát ấn này. Nhưng tôi, tiến sĩ Nguyễn Hồng Kiên, rồi tiến sĩ Lê Thị Minh Lý là Phó Cục trưởng Cục Di sản, rồi tiến sĩ Trần Chiến Thắng, nguyên Thứ trưởng Bộ VH, TT & DL và nhiều người khác nữa thì cho rằng: bây giờ những cái gì của dân gian thì phải trả về cho dân gian, quy mô của nó như thế nào thì phải trở về như cũ, và tiến hành theo đúng nghi lễ truyền thống ngày xưa.

RFI: Anh có nói đến chuyện trả cái nghi lễ này về văn hóa dân gian của địa phương, thì điều này cụ thể là gì ?

Nguyễn Xuân Diện: Cụ thể là chúng tôi cho rằng, vẫn nên duy trì lễ hội Phát ấn đền Trần, nhưng nó chỉ là một nghi lễ trong làng, và nó không được thổi phồng, nâng cấp lên thành lễ hội quốc gia. Đêm 14 thì cụ thủ từ lấy ấn và tiến hành đóng 9 cái ấn và phát cho 9 ngôi đền xung quanh để thờ cúng. Không phát ấn cho bất cứ người nào, và toàn bộ cái lễ này chỉ tiến hành trong nửa đêm ngày 14 như thế thôi. Chứ không phát ấn hay bán ấn.

RFI: Quan điểm của Bộ trưởng Bộ VH, TT & DL đưa ra đầu năm nay là không phát ấn vào đêm 14 tại đền Trần vì lý do an ninh, và để mở ra khả năng hoặc không phát hẳn hoặc phát vào những ngày tiếp theo. Vậy ý kiến của anh ra sao về quan điểm của ông bộ trưởng?

Nguyễn Xuân Diện: Quan điểm của tôi trước sau như một, tức là đúng giờ Tý, tức nửa đêm 14 rạng ngày 15 sẽ có lễ đóng ấn. Chỉ đóng 9 ấn và phát 9 cái mà thôi. Tại Hội thảo, tôi nói rằng, tỉnh Nam Định nên công bố trên báo chí ngay sau Tết. Như vậy mới có thể làm cho người ta hiểu đúng về cái lễ hội đền Trần nói chung và việc đóng ấn và phát ấn nói riêng.

Chúng tôi cũng không nên «duy ý chí» trong việc không đóng ấn trong đêm 14 để bảo đảm vấn đề an ninh. Vấn đề an ninh là của các cơ quan an ninh. Còn vấn đề văn hóa tâm linh là vấn đề của cộng đồng. Ở đây chúng ta phải tách bạch hai vấn đề này với nhau. Một khi tỉnh Nam Định công bố rằng «chúng tôi» sẽ đóng ấn vào đúng giờ Tý và sẽ chỉ phát 9 cái ấn xung quanh đền, thì an ninh không còn trở thành vấn nạn như mọi năm nữa, vì người ta sẽ không đến nữa.

RFI: Thưa anh, giải pháp mà anh đề ra tức là trung thành với lịch sử, thế nhưng có những người lại cho rằng, cái văn hóa cũng có lúc chuyển đổi và khi mà văn hóa chuyển đối, chuyển đối và trở nên thu hút hơn, mà mình lại dùng một cái mệnh lệnh từ cấp trên ban xuống không cho phép làm như vậy, thì phải chăng đấy cũng là một cách hành chính hóa, nhà nước hóa đối với một hoạt động văn hóa của xã hội theo một cách khác?

Nguyễn Xuân Diện: Hoàn toàn không phải như vậy, ngay ở trong Hội thảo mà tôi vừa tham gia (đây là hội thảo được tổ chức vào ngày 19/7/2011 tại Nam Định do chính quyền tỉnh Nam Định và Viện Văn hóa Nghệ thuật thuộc Bộ VH, TT & DL phối hợp tổ chức), trước ý kiến đề nghị đóng ấn và phát ấn vào những ngày rải rác sau đó, thì cái cụ thủ từ, cũng như ông đại diện gia tộc Trần ở Nam Định, cũng nói rằng chúng tôi không tán thành điều này, chúng tôi muốn cái nghi lễ linh thiêng này được diễn ra vào lúc nửa đêm ngày 14.

Ở đây tôi muốn nói thêm, hội thảo 19/7 vừa rồi là để bàn về mô hình lễ hội đền Trần nói chung vào năm 2012. Trong hội thảo này tôi đã phát biểu và tôi phê bình những người lập dự án đó là: bất cứ lễ hội nào, một khi có nhà nước «dúng» vào, tức là muốn nâng cấp thành lễ hội thành cấp vùng, cấp tỉnh hay quốc gia, thì phải có một «trục tư tuởng» xuyên suốt trong lễ hội đó. Thì ở đây, có nghĩa là phải tuyên truyền được cái hào khí Đông A, cái tinh thần thượng võ và cái tinh thần khai phóng, thế nhưng rất là tiếc rằng trong bản đề án lễ hội không có gì nhắc đến chuyện này. Vậy thì, bản thân cái việc đó chứng minh rằng Viện Văn hóa Nghệ thuật không hiểu gì về công việc mình đang làm.

Điểm thứ hai là đề xuất của Viện Văn hóa Nghệ thuật đặt tiêu đề hội thảo là «Mô hình lễ hội đền Trần» nói chung, thế nhưng cả đề án lại chỉ chăm chăm vào việc Phát ấn và đóng ấn, mà bỏ quên tất cả các chuyện khác. Như vậy, tôi thấy rằng, một khi nhà nước muốn «bao» cái lễ hội này, thì phải làm một cách đúng đắn, phải có cơ sở khoa học, phải có lớp lang, chứ không phải tùy tiện, như Viện Văn hóa Nghệ thuật đang muốn làm bây giờ.

RFI: Nếu như một giải pháp sang năm được thực thi, trong đó chính quyền đầu tư mở rộng diện tích nơi lễ hội, khiến lễ hội trở nên lớn hơn, to hơn, và ấn phát một cách dễ dàng hơn, mà lại tổ chức vào ngày giờ được cộng đồng tín ngưỡng địa phương mong muốn, thì phải chăng giải pháp tổng hợp như vậy sẽ thỏa mãn được nhiều ý kiến khác biệt, đúng không ạ?

Nguyễn Xuân Diện: Về chuyện thỏa mãn số đông, trong hội thảo vừa rồi, ông Đặng Văn Bài - phó giáo sư tiến sĩ -, đã đưa ra ý kiến rằng nhân dân mong muốn gì, chính quyền sẽ đáp ứng điều đó, nhân dân muốn có ấn, chính quyền sẽ cung cấp. Tôi cho rằng đây là một phát biểu thiếu trách nhiệm và duy ý chí. Không phải bất cứ điều gì mà nhân dân mong muốn, nhất là vấn đề tín ngưỡng, thì chính quyền cũng có thể đáp ứng, bởi vì vai trò của chính quyền là phải định hướng cho nhân dân, phải dẫn dắt nhân dân đến những điều tốt đẹp. Nếu như lễ hội đền Trần mà chính quyền thổi được vào đó cái hồn của hào khí Đông A, tinh thần thượng võ, tinh thần khai phóng, những cái điểm tốt đẹp nhất của đời Trần, thì chắc chắn sẽ được ủng hộ.

Ngược lại, ở đây tôi xin nói luôn: nếu lễ hội đền Trần có trọng tâm là lễ Khai ấn, mà trong lễ Khai ấn lại khuyến khích chuyện thăng quan, tiến chức, lợi lộc, quyền hành thì tôi cho rằng đấy là một việc rất không nên. Và nếu như chính quyền của tỉnh Nam Định dẫn dắt địa phương mình, cũng như dẫn dắt những người muốn đến dự đền Trần theo kiểu như thế, thì tôi cho rằng đấy thật là một điều vô cùng lầm lạc.

RFI: Thưa anh, xin được hỏi anh một câu cuối: quan điểm của anh về chuyện «phát ấn đền Trần» là phải giữ nguyên truyền thống, nhưng lại có một quan điểm khác cho rằng trong xã hội hiện đại hiện nay, một xã hội mở, thay đổi và có thể nói là dân chủ, thì cái chuyện chuyển hóa, cải tiến cái truyền thống có thể xảy ra. Và nhiều chuyên gia nghiên cứu về di sản văn hóa phi vật thể, họ cũng ủng hộ một cái nhìn «động» cho rằng, các truyền thống có thể thay đổi và có thể cải biên. Vậy ý kiến anh về chuyện này như thế nào ?

Nguyễn Xuân Diện: Tôi hiểu rằng truyền thống, các giá trị văn hóa vẫn được tiếp nối, vẫn được bổ sung qua các hoàn cảnh, cũng những thời kỳ lịch sử, thế nhưng trong chuyện này, cái điều gọi là phát huy hay cập nhật nó phải diễn ra trong một không gian và bối cảnh chung, đó là lễ hội đền Trần, tức là phải mở rộng lễ hội lớn hơn, đầy đủ hơn, có trục tư tưởng rõ ràng, có mục đích giáo dục truyền thống rõ ràng, thì điều đó chúng tôi rất khuyến khích.

Tất nhiên, trong lễ hội đền Trần nói chung, nghi lễ Phát ấn là hạt nhân, nhưng chính vì nó là hạt nhân mà phải cần giữ gìn nó đúng như truyền thống. Ở đây yếu tố Khai ấn và Phát ấn phải là yếu tố "tĩnh" trong một cái "động" là toàn bộ lễ hội đền Trần sẽ diễn ra trong nhiều ngày trong dịp rằm tháng Giêng, nếu là như vậy thì tôi rất tán thành.

RFI: Ban Việt ngữ RFI xin chân thành tiến sĩ Nguyễn Xuân Diện đã dành thời gian cho cuộc phỏng vấn hôm nay.

Nguồn: RFI Tiếng Việt.
Mời chư vị nghe âm thanh của cuộc phỏng vấn


Mời chư vị đọc thêm các bài viết: 


-->đọc tiếp...

LÃNH ĐẠO BỘ VĂN HÓA: ẤN ĐỀN TRẦN CHỈ LÀ VẬT KỶ NIỆM

Dự kiến sẽ phát ấn Đền Trần đến hết tháng Giêng

Ngày 28/12, Hội nghị trực tuyến tổng kết công tác quản lý và tổ chức lễ hội năm 2011 và một năm thực hiện Công điện 162/CĐ-TTg ngày 9/2/2011 của Thủ tướng Chính phủ do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ chức đã diễn ra tại 3 điểm cầu Hà Nội, Đà Nẵng, Thành phố Hồ Chí Minh.
 
Vấn đề được đông đảo dư luận xã hội và người dân quan tâm quanh việc phát ấn Đền Trần vào lễ hội đầu xuân đã được đề cập tại hội nghị này.

Ông Lương Hồng Quang, Phó Viện trưởng Viện Văn hóa nghệ thuật Việt Nam (đơn vị nghiên cứu, tư vấn cho Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch cũng như Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định về kịch bản mới cho Lễ hội đền Trần) cho biết, hiện nay, đề án cho phát ấn đền Trần vào lễ hội năm 2012 do Viện đưa ra đã được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch phê duyệt. 


Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định cũng đã nhất trí với đề án này và sẽ có kế hoạch cụ thể cho Lễ hội đền Trần năm 2012.

Phương án của Viện đưa ra tuân thủ kết luận của Bộ trưởng Hoàng Tuấn Anh là không tổ chức phát ấn vào đêm 14 tháng Giêng (âm lịch) như mọi năm mà chỉ khai ấn như truyền thống cộng đồng vẫn tiến hành và cũng sẽ không có lễ khai mạc trong đêm 14 tháng Giêng. Việc phát ấn sẽ được tiến hành từ sáng ngày 15 tháng Giêng và thời gian phát ấn do Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định quyết định.


Về thời gian phát ấn, Ủy ban Nhân dân tỉnh Nam Định dự kiến sẽ tiến hành bắt đầu từ 8 giờ sáng 15 tháng Giêng kéo dài đến hết tháng Giêng. Sáng 14 tháng Giêng sẽ diễn ra lễ dâng hương quy mô như kỷ niệm ngày mất của Hưng đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn vào ngày 20/8 âm lịch hàng năm và lễ khai ấn sẽ diễn ra như thông lệ của nhà đền. Tỉnh sẽ có phương án đảm bảo an ninh trật tự cũng như phân luồng giao thông hợp lý. 


Về lá ấn, Viện Văn hóa Nghệ thuật cho biết, qua quá trình tham vấn ý kiến của nhiều nhà khoa học cho thấy, lá ấn tại Đền Trần hoàn toàn không có giá trị thăng quan tiến chức mà chỉ có tính chất cầu an. Thế nên, để Lễ hội đền Trần năm 2012 thành công và hạn chế được các bất cập như những năm trước thì công tác tuyên truyền nhằm "giải thiêng lá ấn" đóng vai trò quyết định và cần sự chung tay vào cuộc của tất cả các cơ quan báo chí. Thứ trưởng Huỳnh Vĩnh Ái cũng cho rằng, nên xác định lá ấn ở đền Trần là một vật kỷ niệm của lễ hội dành cho khách thập phương và có thể phát trong suốt cả năm.

Một vấn đề khác cũng được đông đảo các đại biểu quan tâm đề cập có liên quan tới việc đồ mã, hàng mã và quản lý tiền công đức. Đại diện Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch khẳng định rằng, khó khăn đối với công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động lễ hội có phát hiện ra việc sản xuất, vận chuyển, đưa đồ mã vào sắp xếp trong đền, chùa nhưng không thể xử phạt vì không có chế tài. Chỉ có thể phạt với các trường hợp đang đốt đồ mã song cũng có chỗ gặp nhưng không thể phạt bởi các đối tượng thuê trẻ em đốt). Thêm vào đó, việc đặt tiền lễ không đúng nơi quy định, ném tiền linh tinh hiện nay mới chỉ dừng lại ở mức nhắc nhở chứ chưa thể xử phạt do chưa có chế tài. Cục Di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) cũng đang rất nỗ lực để xây dựng mô hình quản lý di tích trong đó có quản lý, sử dụng tiền công đức cho minh bạch, phù hợp.

Nhằm đảm bảo mùa lễ hội năm 2012 diễn ra nghiêm túc, an toàn và hạn chế bất cập, Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã xâu dựng đề cương thanh tra công tác quản lý và tổ chức lễ hội trên diện rộng. Dự kiến, thanh tra Bộ sẽ đến thanh tra, kiểm tra 50 lễ hội tại 50 di tích thuộc 17 tỉnh, thành phố.

 
-->đọc tiếp...