Articles  Privacy

 

talawas blog

Chuyên mục:

Nancy Gibbs – Ngày nay phụ nữ Mỹ muốn gì?

08/03/2010 | 1:26 chiều | 3 phản hồi

Tác giả: Trần Ngọc Cư

Chuyên mục: Thế giới, talaFemina
Thẻ: >

Trần Ngọc Cư dịch

Nếu bạn là một người phụ nữ đọc tạp chí này 40 năm về trước, cứ lẽ thường chồng bạn là người xuất tiền ra mua cuốn báo cho bạn. Cứ lẽ thường, bạn sẽ bỏ phiếu cho người nào mà chồng bạn lựa chọn. Cứ lẽ thường, nếu bạn bị ung thư vú, chồng bạn được yêu cầu ký giấy cho phép tiến hành cuộc giải phẫu. Cứ lẽ thường, con trai của bạn sẽ tiếp tục học lên đại học, còn con gái của bạn thì không. Cứ lẽ thường, nếu bạn có được một việc làm, ông sếp của bạn có thể giải thích rằng sở dĩ ông trả lương cho bạn hơi ít là vì, dẫu sao đi nữa, bạn cũng chỉ đi làm để kiếm thêm chút tiền còm bỏ túi mà thôi.

Buồn cười là, mọi việc chỉ thay đổi chậm chạp, thế mà cũng đến cái ngày ta thấy mọi việc đã hoàn toàn thay đổi. Người ta dự kiến vào cuối năm 2009, lần đầu tiên trong lịch sử đa số người làm việc ở Hoa Kỳ sẽ là phụ nữ – cũng chỉ vì nạn suy thoái kinh tế đã đánh vào nam giới một đòn khá mạnh. Đây là một chuyển biến phi thường đã diễn ra chỉ trong vòng một thế hệ và đang trên đà tăng tốc: theo Cục Thống kê Lao động, viễn ảnh tăng trưởng hiện nay nằm trong các ngành nghề thường do nữ giới nắm giữ như y tá, bán lẻ và phục vụ khách hàng. Càng ngày càng có nhiều phụ nữ là người chủ chốt lo cơm ăn áo mặc cho gia đình (hiện nay gần 40%) hay đang cung cấp một nguồn thu nhập không thể thiếu cho ngân quĩ gia đình. Chưa bao giờ sức mua của phụ nữ to lớn như bây giờ — và vì thế họ đâm ra kén chọn hơn bao giờ cả.

Chính trong bối cảnh này Sáng hội Rockefeller (the Rockefeller Foundation), với sự cộng tác của tạp chí Time, đã tiến hành một cuộc thăm dò quan trọng để đo lường phản ứng của người Mỹ về các vấn đề giới tính. Trận chiến nam-nữ đã thực sự kết thúc chưa, và nếu đã kết thúc, thì ai là kẻ thắng, người thua? Hiện nay nam giới quan niệm thế nào về nữ quyền? Người ta đã uất hận thế nào, hoặc hoang mang thế nào, hoặc biết ơn thế nào đối với các lực tác động đã sắp xếp lại nếp sống gia đình, tái phối trí nền kinh tế và tái phát minh vai trò nam nữ trong xã hội? Phải chăng mọi người đều đồng ý một điều gì đó cần phải xảy ra để tất cả chuyển biến này trở thành tốt đẹp? Kết quả cuộc thăm dò cho biết cả nam lẫn nữ giới đồng ý khá rộng rãi về những điều quan trọng nhất đối với họ; người ta không còn quan niệm sự vươn dậy của nữ giới là một mối đe dọa cho nam giới. Khi Hệ thống Kinh tế cũ (the Old Economy) tan rã và sức ép ngày một gia tăng trên những người vừa làm cha mẹ vừa làm lụng kiếm sống, họ bắt đầu chia sẻ với nhau nỗi lo sợ về tương lai con cái cũng như nỗi thất vọng về những định chế ù lì, ù lì đến nỗi không chịu nhìn nhận bao nhiêu điều đã thay đổi. Trong thời đại mới này, những cuộc chiến đấu mà chúng ta kề vai sát cánh với nhau cũng là những thử thách làm nên bản sắc của chúng ta.

Cuộc cách mạng thầm lặng

Vào mùa xuân 1972, tạp chí Time đã dành nguyên một số đặc biệt để thẩm định tình trạng người phụ nữ vào giai đoạn sôi động của phong trào “giải phóng phụ nữ” (women’s lib). Ở thời điểm mà xã hội Hoa Kỳ chuyển biến nhanh chóng như trong một cuộc chạy đua, bạt mạng như một cô cậu đang tuổi vị thành niên, phong trào tranh đấu nữ quyền (feminism) lại ì ạch như một động cơ khi nổ khi tắt. Vào thời điểm đó, lương trung bình của phụ nữ cũng thực sự sa sút so với lương nam công nhân; tỉ lệ số phụ nữ ở chức vụ hàng đầu trong giới công chức so với nam giới cũng xuống thấp (dưới 2%) so với bốn năm về trước. Cho đến năm 1972 vẫn chưa có một phụ nữ nào giữ chức vụ gì trong nội các chính phủ, nếu tính từ chính quyền Eisenhower [nghĩa là từ tháng 1-1953, DG]; hoàn toàn không có nữ nhân viên FBI hay nữ điều hợp viên các buổi đưa tin trên các mạng lưới thông tin quốc gia (network news anchors); hoàn toàn không có nữ quan toà Tối cao Pháp viện. Trong 1000 cuộc triển lãm tác phẩm cá nhân tại Viện Bảo tàng Nghệ thuật Hiện đại (the Museum of Modern Art tại Thành phố New York) suốt 40 năm trước đó chỉ có năm cuộc triển lãm là của nữ giới. Lúc bấy giờ những người tìm kiếm nhân viên quản lý cho các công ty thường than phiền rằng đưa một người đàn ông lên mặt trăng còn dễ hơn tìm cho ra một nữ giám đốc. Một nhà hoạt động nữ quyền, khi từ nhiệm vai trò lãnh đạo của mình trong Tổ chức Phụ nữ Quốc gia (NOW) hai năm sau khi tổ chức này được thành lập, đã than phiền: “Chẳng có chuyển động nào cả. Movement nghĩa là ‘đi đến một nơi nào’, nhưng phong trào này (the movement) chẳng đi đến đâu cả. Nó chẳng đạt được một điều gì ý nghĩa”. (Xin đọc: “Người phụ nữ đang đứng ở đâu và sẽ đi về đâu” trên báo Time, 1972.)

Đó là một lối cường điệu pha chút cáu kỉnh; thật ra lúc bấy giờ đã có nhiều thay đổi được cảm nhận hơn là được trông thấy, đó là sự chuyển động được biểu hiện qua những kỳ vọng của người phụ nữ, một sự chuyển động bắt đầu làm rạn nứt nền tảng của chế độ phụ hệ. “Về phương diện thực quyền – kinh tế và chính trị — chúng tôi vẫn còn trong giai đoạn manh nha”, Gloria Steinem nhìn nhận. “Nhưng nhận thức của chúng tôi thì không còn như cũ”.

Vì thế, thiết tưởng cũng nên dừng lại để nhìn những gì đã xảy cho phong trào phụ nữ trong thời kỳ cả nước bận rộn chấm dứt cuộc Chiến tranh lạnh, bận rộn xây dựng một xã hội đa văn hóa, và thụ hưởng giai đoạn phát triển kinh tế lâu dài nhất trong lịch sử. Lần hồi với những bề bộn trong cuộc sống gia đình, chúng ta dễ dàng trôi theo dòng đời, chỉ đánh dấu những cột mốc quan trọng, hay nhìn con cái dần dà khôn lớn mà quên bẵng cái phong trào giải phóng phụ nữ ấy tự bao giờ. Vào năm 1972, chỉ có 7% số học sinh chơi thể thao ở bậc trung học là nữ sinh; bây giờ con số đó đông gấp sáu lần. Tỉ lệ nữ sinh bỏ học nửa chừng nay đã giảm đi một nửa. Tỉ lệ nam-nữ theo đuổi bậc đại học lúc bấy giờ là 60-40; bây giờ tỉ lệ ấy đã đảo ngược; và gần một nửa văn bằng tốt nghiệp luật khoa và y khoa rơi vào tay nữ giới, một con số tăng trưởng từ dưới 10% vào năm 1970. Một nửa số hiệu trưởng các trường đại học có uy tín của Mỹ là phụ nữ; hai phần ba số điều hợp viên chương trình tin tức (anchors) trên ba hệ thống truyền hình chính của Mỹ (ABC, NBC, và CBS) chẳng bao lâu nữa sẽ là phụ nữ. Ba trong bốn bộ trưởng ngoại giao gần đây nhất là phụ nữ. Ở Mỹ hiện nay có hơn 145 sáng hội (foundations) được thành lập nhằm thúc đẩy sự thăng tiến của phụ nữ toàn cầu, với niềm tin tưởng rằng nỗ lực này là vũ khí mạnh nhất khả dĩ chống lại được nghèo đói và bệnh tật; năm 1972 chỉ có một sáng hội đáng kể là Ms. Foundation for Women, với mục đích giành công bằng xã hội cho người phụ nữ. Mới đây, lần đầu tiên trong lịch sử, có đến 5 người đàn bà chiếm giải Nobel trong cùng một năm (về y khoa, hóa học, kinh tế và văn chương). Chúng ta vừa trải qua một năm tranh cử trong đó Hillary Clinton, Sarah Palin, Tina Fey và Katie Couric là những diễn viên hàng đầu, chứ không phải chỉ là vai phụ trong tấn tuồng lịch sử. Và vị đương kim tổng thống Hoa Kỳ được một người mẹ độc thân nuôi dạy để về sau lại lấy một luật sư có địa vị cao hơn trong nghề với đồng lương cũng cao hơn.

Tuy nhiên hiện nay sự thật vẫn là, các ban giam đốc công ty, các hội đồng giáo sư đại học, các quốc hội tiểu bang cũng như liên bang và một loạt các ngành nghề chẳng hạn như ngành quản lý các quĩ đối xung (hedge-fund) phần lớn vẫn thuộc về nam giới; phụ nữ chỉ chiếm 10% số kỹ sư công chánh và 1/3 số bác sĩ y khoa và bác sĩ giải phẫu, nhưng chiếm đến 98% giáo viên trường mầm non và tá viên nha khoa, và nói chung đồng lương của nữ giới chỉ bằng 77% đồng lương của nam giới. Phụ nữ phải trả tiền bảo hiểm sức khỏe cao hơn, ngoài ra họ còn phải xuất tiền túi để lo cho những nhu yếu khác như ngừa thai và chăm sóc thai nhi. Lắm lúc, dường như những người đàn bà duy nhất có thể vừa đi làm, vừa lo cho chồng con, vừa quán xuyến việc nhà một cách thoải mái chỉ có ở trên TV mà thôi.

Hiện nay nạn suy thoái kinh tế đang đặt ra nhiều nguy cơ mất mát cho người phụ nữ. Nhiều cuộc thăm dò liên tiếp cho thấy nữ giới lo lắng hơn nam giới về an ninh tài chánh của gia đình. Trong khi hầu hết mọi công nhân thấy đồng lương của mình đứng yên hay bị cắt giảm, lương phụ nữ giảm 2% năm 2008, tức giảm gấp đôi mức giảm lương đàn ông. Phụ nữ có xác suất cao hơn đàn ông đến 32% về nợ nhà thứ cấp (subprime mortgages, nợ xấu), khiến họ dễ bị lâm nguy hơn đàn ông trong cuộc khủng hoảng địa ốc hiện nay. Cơ quan nghiên cứu [y tế phụ nữ] Guttmacher Instirute tìm thấy rằng cuộc suy thoái kinh tế đã ảnh hưởng đến cả những quyết định cơ bản nhất trong đời sống gia đình. Gần nửa số phụ nữ thuộc những hộ có mức thu nhập dưới 75 ngàn đôla/một năm muốn trì hoãn sinh đẻ hoặc hạn chế số con họ có. Nhưng đồng thời, phụ nữ cũng ở tư thế sẵn sàng để khi ra khỏi cuộc suy thoái này họ sẽ có nhiều quyền lực kinh tế hơn trước, vì khoảng cách lương hướng giữa nam và nữ ngày càng thu hẹp lại. Một cuộc thăm dò do hãng GfK Roper thực hiện cho NBC Universal đã mang lại một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ cho người giữ vai trò kiểm soát ngân sách: 65% số phụ nữ được tường thuật là người hoạch định tài chánh chính yếu trong gia đình, và 71% số phụ nữ tự xưng là kế toán viên gia đình. Theo một nghiên cứu của Mediamark Research & Intelligence, phụ nữ nắm 75% quyết định mua sắm trong gia đình. Nói chung, nữ giới Hoa Kỳ hiện nay kiểm soát nhiều của cải hơn bao giờ cả trong lịch sử Mỹ.

Sự tiến bộ ít khi diễn ra một cách đơn giản; nó đến với nhiều tổn thất và thương vong, thậm chí khó mà biết được một cuộc thay đổi là tiến bộ hay thụt lùi. Cuộc thăm dò của báo Time cung cấp bằng chứng cho cả hai chiều hướng. Ở mức độ cơ bản nhất, cuộc tranh luận về chỗ đứng của người phụ nữ trong xã hội Hoa Kỳ đã hoàn toàn chấm dứt; cuộc chiến giữa hai giới tính đã trở thành một vở tuồng mang dấu ấn một thời đại đã qua, như Middlemarch hay Mad Men.[1] Đại đa số dân chúng – với tuổi tác, mức thu nhập, và ý thức hệ khác nhau – coi vai trò phụ nữ ngày càng lớn mạnh trong lực lượng lao động là điều tốt đẹp cho cả kinh tế lẫn xã hội nói chung. Hơn 8 trong 10 người được phỏng vấn nói rằng ở sở làm, các bà mẹ cũng có năng suất cao như các ông cha hoặc những người không con cái. Hơn thế nữa, khoảng 84% ý kiến xác nhận rằng ngày nay những ông chồng và những bà vợ đã biết thương lượng với nhau về qui luật, quan hệ ứng xử và trách nhiệm trong gia đình hơn các cặp vợ chồng của những thế hệ trước; khoảng 7 trong 10 người đàn ông nói rằng họ cảm thấy thoải mái hơn cha của họ đối với các phụ nữ làm việc ngoài mái ấm gia đình, trong khi các bà lại cho rằng họ ít lệ thuộc vào tiền bạc của chồng hơn mẹ của họ.

Điều này không có nghĩa là giữa nam nữ không còn vấn đề gì nữa để tranh luận. Hơn 2/3 số phụ nữ được thăm dò nghĩ rằng đàn ông thường có ác cảm với các phụ nữ nhiều quyền lực, tuy nhiên chính đàn bà chứ không phải đàn ông lại cho rằng làm việc dưới quyền các bà lại khó hơn làm việc dưới quyền các ông. Đa số đàn ông nghĩ rằng phụ nữ không còn gặp rào cản trên đường thăng tiến sự nghiệp, trong khi đa số đàn bà lại cho rằng đàn ông vẫn có lợi thế hơn. Những người được phỏng vấn chia làm hai phe đồng đều khi trả lời câu hỏi, liệu “cuộc chiến” giữa các bà mẹ đi làm và các bà mẹ nội trợ đã hoàn hoàn chấm dứt chưa?

Một điều nổi bật không kém, đó là sự kiện cả đàn ông và đàn bà rất đồng ý với nhau về những vấn đề từng chia rẽ họ chỉ một thế hệ trước đây. Gail Collins đã viết trong một cuốn sách mới xuất bản, When Everything Changed: “Mọi việc thay đổi nhanh chóng đến nỗi cuộc cách mạng cơ hồ đã chấm dứt trước khi mỗi phe thực sự đến tận hàng rào của phe kia”. Dường như những người có lý trí luôn bận rộn với nhiều vấn đề đến nỗi không buồn cãi nhau với vợ hay với chồng mình ai là người phải xách rác ra ngoài hay ai mới thực sự xứng đáng ngồi vào địa vị quản lý của công ty. Cả đàn ông lẫn đàn bà hiện nay chia sẻ nhiều mâu thuẫn sâu sắc nhất trong cuộc sống. Nhất là trong trường hợp không có trợ cấp xã hội, không được du di sắp xếp công việc ở sở làm hoặc không có nhà trẻ với phí phải chăng, thật không đáng ngạc nhiên khi một đa số gồm cả đàn ông lẫn đàn bà cho rằng giải pháp tốt đẹp nhất cho trẻ em là có một ông cha đi làm và một bà mẹ nội trợ. Một trong những thay đổi ngoạn mục nhất trong thế hệ vừa qua là sự tách rời đời sống hôn nhân với cuộc đời làm mẹ; đa số đàn ông chứ không phải đàn bà nhìn nhận hôn nhân là “rất quan trọng” cho hạnh phúc của họ. Đàn bà không còn coi hôn nhân là một chặng tất yếu trên con đường đi tới ổn định tài chánh hay để được làm mẹ. Tỉ lệ trẻ em được các bà mẹ độc thân sinh ra tăng vọt từ 12% [năm 1972] đến 39% hiện nay. Trong khi đại đa số trẻ em vào giữa thập niên 1970 được nuôi nấng do bàn tay của một bà mẹ nội trợ, con số đó hiện nay chỉ còn chưa được 1/3, và gần 2/3 số người được phỏng vấn cho rằng sự kiện này là một khuynh hướng tiêu cực cho xã hội Hoa Kỳ.

Một trong những thay đổi khó hiểu nhất là chứng liệu, được ghi nhận trong nhiều cuộc thăm dò, rằng trong khi phụ nữ có thêm nhiều tự do, nhiều học vấn và nhiều quyền lực kinh tế hơn, thì họ lại cảm thấy kém hạnh phúc hơn xưa. Không có một lý thuyết gọn gàng nào có thể giải thích khuynh hướng này – đây là ghi nhận của kinh tế gia Justin Wolfers, thuộc Đại học Pennsylvania và là đồng tác giả cuốn The Paradox of Declining Female Happiness (Nghịch lý của sự kiện hạnh phúc đang suy giảm trong nữ giới). “Chúng tôi đã nhìn qua mọi khu vực – trẻ hoặc già, có chồng hay độc thân, có học hay ít học, đang đi làm hay ở nhà — sự kiện nói trên vẫn không hề thay đổi”, tác giả nói về dữ liệu thu thập được. Wolfers thêm rằng: “Nhưng có vài cách thế để nhìn dữ liệu. Như Susan Faludi đã nói, tiêu chí của phong trào phụ nữ không phải là hai chữ hạnh phúc”. Rất có thể phụ nữ ngày nay đã thẳng thắn hơn xưa khi nói ra những điều làm họ khổ tâm. Hoặc có thể là, ngày nay phụ nữ được tự do vật lộn với chính những sức ép và những mâu thuẫn một thời đã tạo ra niềm bất hạnh riêng cho nam giới. Hoặc là, cuộc sống tân tiến trong một nền kinh tế toàn cầu vốn tạo thêm nhiều căng thẳng cho mọi giới nhưng đặc biệt là đối với nữ giới, những người vừa làm việc dài giờ ở sở vừa phải chỉ huy việc gia đình. “Một số chuyển biến xã hội khác diễn ra trong vòng 35 năm qua – tức những thay đổi trong gia đình và ở sở làm – có lẽ đã ảnh hưởng lên nam giới một cách khác với nữ giới”, Wolfers nhận xét. “Vì thế, có lẽ chúng ta không thấy được những chuyển biến do phong trào phụ nữ mang lại mà chỉ bàn đến những thay đổi trên toàn xã hội nói chung”.

Tất cả những mảnh hình trong trò chơi puzzle[2] đang biến dạng. Nếu có một sự đồng thuận nào đó về một vấn đề cơ bản, chẳng hạn làm thế nào để chúng ta sống như chồng vợ, như người yêu, như cha mẹ, như người hùn hạp, thì sự đồng thuận đó cũng khó đạt được, như ta cố ghép những mảnh lẻ đang biến dạng kia thành một bức hình có ý nghĩa; cần phải bẻ cong chúng, may ra. Trong bản nghiên cứu, số đàn ông ngang với với số phụ nữ khi họ than phiền về sự căng thẳng thường xuyên trong cuộc sống hằng ngày, và gần như mọi người đồng ý rằng các dịch vụ của chính phủ cũng như của các doanh nghiệp đã không thích ứng kịp thời với những thay đổi trong đời sống gia đình. Với nền Kinh tế cũ (the Old Economy) đang rã rệu trước mắt chúng ta, cả đàn ông lẫn đàn bà đã đưa ra những tiêu chí trong đời cực kỳ giống nhau khi được hỏi đến tầm quan trọng của tiền bạc, sức khỏe, công việc và gia đình. Nếu nhiều việc làm của nam giới tiếp tục biến mất, nếu sức mạnh cơ bắp mất dần giá trị trong các hãng xưởng, nếu tầm quan trọng ngày càng nghiêng về lãnh vực giáo dục, một lãnh vực mà nữ giới ngày càng gặt hái nhiều thành quả đáng kể, thì chẳng bao lâu nữa chúng ta sẽ bàn về các vấn đề tương ứng như: Cần phải làm gì để giải phóng người đàn ông Mỹ để họ thể hiện trọn vẹn tiềm năng của mình? Mọi người đều có thể mường tượng được sự đảo ngược vấn đề chỉ trong vòng một thế hệ.

Thế giới ngày nay không còn là thế giới của đàn ông. Nhưng quốc gia này cũng không phải là quốc gia mẫu hệ. Chúng ta đang sinh hoạt trong một hợp tác xã, mà nội qui cần được thương thuyết thường xuyên, với kỳ vọng là lợi nhuận được chia đều cho cả nam giới lẫn nữ giới.

Nancy Gibbs là biên tập viên và bình luận gia thường xuyên của tạp chí Time. Tiểu luận này được viết với sự cộng tác của các phóng viên Andréa Ford và Deirdre van Dyk.

Nguồn: Time, Wednesday, October 14, 2009 http://www.time.com/time/specials/packages/article/0,28804,1930277_1930145,00.html

Bản tiếng Việt © 2010 Trần Ngọc Cư

Bản tiếng Việt © 2010 talawas


[1] Middlemarch: một tiểu thuyết hiện thực của nữ văn sĩ Anh George Eliot (1819-1880), trong đó tác giả phản ảnh một số biến cố lịch sử như Đạo luật Đại cải tổ (the Great Reform Bill) thay đổi hệ thống bầu cử của Anh, những ngày đầu của hệ thống hỏa xa, cái chết của vua George VI và sự lên ngôi của em ông là Quận công Clarence. Madmen: một loạt show truyền hình mô tả một số lề thói xã hội Mỹ trong thập niên 1960s. [ND]

[2] Một trò chơi đòi hỏi phải ghép các mảnh màu sắc lại với nhau thành một bức hình có ý nghĩa. [ND]

Phản hồi

3 phản hồi (bài “Nancy Gibbs – Ngày nay phụ nữ Mỹ muốn gì?”)

  1. @công tử “Bờ Lờ”:

    Ngoạc tay cọc cọc đo bàn phím,
    Liếc mắt thả lời nghệ như phim,
    Ào ào hỉ nộ bày ra cả,
    Quân tử đã đơ thì cứ chìm.

  2. Công tử Bạc Liêu nói:

    Thân gửi chị Hoa Bất Tử:

    Nhân ngày Phụ nữ, em giai xin thề suốt đời ủng hộ phụ nữ vùng lên, không dám mảy may có ý nào khác.

    Nhưng hình như phụ nữ thường bị gán với cái “đức tính” cao quý là rất… nhiều lời. Nhiều đến mức phái mày râu phải bịt tai chạy mất. Em giai thấy chị Hoa Bất Tử ngày nào cũng giơ tay xin phát biểu cả chục lần, lần nào cũng rất dài, về đủ mọi đề tài, như thể trên diễn đàn này chỉ có chị gái là nói giỏi nhất, thì em giai cũng sợ lắm. Không biết các anh giai khác có tính nhát như em không. Chị ơi, dù có nói hay đến đâu mà nói quá nhiều thì cũng thành nhàm chán đấy. Nhân ngày Phụ nữ, em giai xin tặng chị món quà là lời góp ý chân thành này, mong chị đừng giận.

  3. “Ngày 8/3/2010 là chẵn 100 năm từ thời điểm nữ chính khách nổi tiếng Clara Zetkin, một trong những người sáng lập Đảng Cộng sản Đức, đề xuất ý tưởng lập ra Ngày Đấu tranh vì các quyền của phụ nữ. Về sau “đấu tranh” trở thành lễ hội – Ngày Quốc tế Phụ nữ 8/3.”

    Đọc lời dẫn từ một tờ báo tôi nhớ lại Clara Zetkin mà trước đây đã được biết về bà và những gì bà đã đóng góp chúng ta Những điều tốt đẹp ấy tưởng như khi con người nhận ra và được hưởng ứng thì thế giới sẽ có những chuyển biến nhanh. Nhưng mọi chuyện trên đời từ phong trào biến thành hiện thực trong đời sống đâu có dễ dàng. Bây giờ, mọi nơi trên thế giới vẫn ứ đầy những tiếng kêu bi thương của người phụ nữ, nạn nhân của rất nhiều chuyện mà thế giới con người chúng ta còn cần thêm nhiều năm nữa mới nhận thức hết được.

    Clara Zetkin là nữ chính trị gia người Đức, đại diện cho giai cấp cộng sản Đức quốc tiền phong cho Quốc Tế cộng sản, khởi nghĩa cách mạng tháng 10 Nga đại diện nổi bật là cách mạng- xã hội chủ nghĩa Karl Marx. Vai trò của bà rất lớn trong lịch sử nổi dậy đấu tranh của dân tộc Đức theo sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Đức quốc nói riêng và người dân theo phe Cộng sản nói chung tại những nước Đông Âu đầu thế kỷ 20.

    Nhưng hiện tại, Đảng cộng sản tại Đức hoàn toàn mất uy tín trong quốc hội do chính sách cực đoan. Mỗi kỳ bầu cử tại Reichtag – quốc hội nước CHLB Đức- Đảng Cộng sản chưa bao giờ giành được quá 5% phiếu bầu của người dân quá 3 lần để có chỗ ngồi trong quốc hội từ sau năm 1989. Ngày 8.3 tại Đức cũng là một ngày làm việc bình thường. Phụ nữ Đức cũng ko lấy ngày này để tự hào rằng mình là phụ nữ, bởi họ có cả năm gồm 365 ngày , xã hội bao giờ cũng ưu tiên phụ nữ và trẻ em, đặc biệt phụ nữ có thai từ phòng khám bệnh cho tới cột đèn đỏ sang đường, lối lên xe bus, tàu điện ngầm… Tuy nhiên, trong ngày chủ nhật lần thứ 2 vào tháng 5 hàng năm, người phụ nữ Đức càng vinh dự hơn khi được những người con , người em,… trong gia đình mua hoa quà tặng, bởi ngày đó tuy không phải ngày lễ quốc gia, nhưng được người dân gìn giữ như phong tục truyền thống của dân tộc Đức.

    Lấy ngày 8.3 để phụ nữ vùng lên chỉ có những phụ nữ ở những quốc gia nghèo đói hiện tại trên thế giới gồm: Angola, Armenia, Azerbaijan, Burkina Faso, Eritrea, Georgia, Guinea-Bissau, Kazakhstan, Campuchia, Kyrgyzstan, Lào, Madagascar, Moldova, tại Mông Cổ, tại Nepal, Nga, Zambia, Serbia, Tajikistan, Turkmenistan, Uganda, Ukraina, Uzbekistan, Việt Nam, Belarus, và đảo Síp, Trung Quốc. Link tham khảo: http://de.wikipedia.org/wiki/Internationaler_Frauentag.

    Bởi chỉ có hàng năm trong 364 ngày vốn luôn luôn phải quỳ gối, hay thậm tệ hơn là phải cúi gằm mặt, vái lạy, nằm sấp, nằm ngửa… nên phụ nữ phải chọn 1 ngày gọi là 8.3 để vùng lên !!!??? Câu hỏi đặt ra là phụ nữ tại những nước nghèo đói trên thế giới vùng lên xong trong ngày này có nằm xuống tiếp trong những ngày sau không? Có chịu kiếp cúi đầu,kiếp thân phận hèn mọn tiếp không, để đợi chờ ngày 8-3 năm sau vùng tiếp lên?!

    Chuyện giải phóng phụ nữ ở nước ta đã đã thay đổi được một bước dài, nhưng còn phải cần một chiều sâu và cần một chất lượng hơn nữa đi vào cuộc sống chứ không phải những bó hoa đắt tiền, những chuyến ngao du một ngày tặng chị em của cơ quan đoàn thể. Dù là hi hữu, nhưng hôm nay mùng tám tháng ba tôi không thể quên chuyện ở Tây Nguyên, về cái chết của một người phụ nữ đi mót cà phê bị chó xé xác mà chủ nhân nuôi chó lại coi như mình vô can, pháp luật lại hững hờ. Còn bao nhiêu cái đói cái khổ như thế trong mỗi gia đình đè lên vai người phụ nữ? Bao nhiêu chuyện ở ta chỉ dừng ở phong trào mà chưa thành đời sống thật? Liệu có phải chúng ta bị chủ nghĩa hình thức lôi kéo, và lôi kéo đến bao giờ, mọi chuyện chỉ cần đại khái bằng người là xong.

    Quyền lợi gì nhỉ, đấu tranh để làm gì nhỉ. Tôi nhận thấy tư tưởng XHCN từ những tín đồ của CNCS hiện nay luôn coi trọng hình thức. Một bó hoa hay 1 món quà trong 1 ngày có thể lu mờ bao nỗi bất công oan trái. Đi đâu trong các thành phố lớn cũng thấy gái bán hoa. Mùng tám tháng ba, cần đi vào thực chất cuộc sống cho vai trò người phụ nữ để cho những bông hoa trao trong ngày này có sức nặng đời sống thật sự chứ không phải vẻ hòa nhoáng bề ngoài. Giới thanh niên trẻ tại những thành phố lớn ở Việt Nam lại quan niệm,ngày 8.3 là ngày cho phụ nữ, thì ngày mùng 3.8 là ngày dành cho đàn ông. Hỡi ôi, những cái đầu non nớt và những thân thể được sống sung túc trong thừa mứa cơm gạo tiền bạc, phú quý sinh lễ nghĩa. Chúng có biết, ngày 3.8, thời điểm vụ giáo hạt gần kề, nhà nông thiếu đói khi lâm cảnh lụt lội hay nắng hạn oi bức, gạo không có đủ mà ăn. Ngày tự xưng đó dành cho một bộ phận nhỏ người thành thị, phú quý sinh lễ nghĩa, hay còn gọi như các cụ nhà ta là “ăn no rửng mỡ”. Chúng đâu biết, một bó hoa để mua trong những ngày này được người nhà quê mua cả yến gạo, đủ no trong cả tháng. Khi xã hội bị chênh lệch giai cấp quá sâu nặng, mới có cảnh người ăn không hết, người mò không ra như tại những nước XHCN như Việt Nam.

  • talawas - Lời tạm biệt

    Nói lời chia tay sau 9 năm tồn tại, chúng tôi thiết tha hi vọng vào sự ra đời của những mô hình báo chí và truyền thông mới, thực hiện bởi những người được trang bị những khả năng và phương tiện mà chúng tôi đã không thể có, với cùng một nhiệt thành phấn đấu cho một nền báo chí tự do cho Việt Nam... đọc tiếp >>>

  • Phản hồi mới nhất của độc giả