Wednesday, May 23, 2012 10:13:03 AM
Chuyện thắt lòng của bé Thơ…
Phóng sự: Đỗ Doãn Hoàng
Tôi đã cứu được cô bé Thơ 14 tuổi, xinh xắn, hiền ngoan, học giỏi và hiếu đễ ấy. Mỗi lần gặp lại tôi, Thơ chỉ một mực chú đừng gọi cháu là bé nữa, cháu sắp học hết cấp 3 rồi. Thơ chắp tay theo kiểu của người niệm Phật, bảo: chú và các nhà hảo tâm đã cho cháu một kiếp sống khác. Lẽ ra cháu đã vĩnh viễn 14 tuổi vì bệnh tim bẩm sinh rồi. Thơ run rẩy xin tôi cho mượn điện thoại để được nói chuyện với bác sỹ Nguyệt ở Viện Tim mạch Quốc gia. Nhưng khi bác sỹ Nguyệt “a lô” ở đầu bên kia, thì Thơ lại không nói gì. Nó cứ im lặng mãi cho đến khi bác sỹ Nguyệt ngơ ngác buông máy và gọi lại. Thơ khóc.
Cứu một người phúc đẳng hà sa, phúc lớn bằng xây chín cái chùa. Các cụ dạy thế, vậy mà suốt quá trình cứu bé Thơ, chúng tôi cứ thắt lòng lại vì những thao thức lẽ đời.
Đứa trẻ mồ côi, xin ăn, chờ chết ở Bệnh viện Tim mạch Quốc gia
“Lẽ ra Thơ đã chết ở nhà xác Bệnh viện Bạch Mai”, có lần ai đó buột miệng nói thế, mặt Thơ sắt lại, nó không khóc. Chắc là nó hoang mang. Việc nó được sống làm người, với nó như một cơn mơ lạ lùng.
Tình cờ, đúng dịp Trung thu năm 2008, tôi nhận được cú điện thoại tá hỏa từ TS.BS Nguyễn Quốc Hùng, Trưởng phòng Điều trị, Bệnh viên Tim mạch Quốc gia, rằng: “Xót xa quá ông ơi. Chỗ tôi đang điều trị cho một cháu bé tên là Nguyễn Thị Thơ, 14 tuổi, người xã Sơn Công, Ứng Hòa, Hà Nội. Bố chết, mẹ tâm thần đi biệt tích, Thơ đang đi học thì bị ngất. Lên huyện, lên Thành phố, các bác sỹ phát hiện ra nó bị bệnh tim bẩm sinh, “fallot 4”, gây nhiễm trùng nội tạng. Hiện cháu đang bị “viêm nội tâm mạc nhiễm”, mạch máu ở ruột cháu liên tục bị tắc gây đau đớn như có ai rạch ở bụng. Liên tục ngất sỉu. Nếu không phẫu thuật sớm, cháu sẽ chết trong vòng hai tháng. Chúng tôi đã tìm mọi nhẽ, đã miễn giảm đủ thứ, đã xin tài trợ từ các nhà hảo tâm, đã quyên góp, nhưng lực bất tòng tâm. Vẫn cần ít nhất 50 triệu đồng nữa để có thể mổ, thay van, “sửa sang” quả tim để cứu cháu. Mấy chục năm làm ở bệnh viện này, tôi chưa gặp bệnh nhân nào khổ như thế, ông ạ. Hằng ngày anh em nó ăn đói ăn khát, thậm chí xin cả những suất ăn thừa của bệnh viện mà ăn!”. Chị Mai phụ trách bếp ăn của Viện cứ phải xin các suất ăn thừa cho cháu sống qua ngày. Thơ đói, anh trai Thơ (tên là Nguyễn Gia Tự, 20 tuổi) lơ ngơ vào chăm sóc em, cũng đói rạc đói rày. Thế là chị Mai phải đi xin luôn cơm thừa canh cạn cho Tự đắp điếm mà lấy sức nuôi em.
Khi tôi vào khu C6, thì bác sỹ Nguyệt đang nỗ lực truyền dưỡng chất để bé Thơ có thể thở được thêm một vài nhịp nữa sau ca choáng ngất định kỳ. Thơ nhợt nhạt, cạn kiệt sinh khí. Môi nó tím rắt như vừa ăn sim chín trên một miền đồi trung du nào đó. Mắt trắng dã. Bộ quần áo bệnh nhân màu xanh thẫm kẻ xọc lại càng làm cho em bệch bạc hơn. Nó ngồi dậy, khe khẽ “cháu chào chú” rồi lại thiêm thiếp. Môi nứt nẻ như cái ruộng cày mùa hạn. Anh trai Thơ cầm vài đồng bạc lẻ của chúng tôi đi mua cháo, bắt xe khách về quê lấy thêm giấy tờ cho em làm thủ tục với bệnh viện mà cứ ngơ ngẩn. Thằng Tự gầy gò, nó đi phụ việc sửa nhôm kính cho một cửa hàng ở Hà Nội. Lương thấp đến mức không đủ ăn và thuê nhà trọ, nhưng nó vẫn phải cắn răng mua một cái điện thoại loại rẻ nhất kèm một cái sim “rác”. Bởi dạo này Thơ bị nặng, nó luôn hãi hùng nghĩ đến cảnh người ta sẽ gọi cho nó báo tin “vào viện nhìn mặt em gái lần cuối”. Dạo này liên tục bị gọi vào viện khi em choáng ngất, Tự cứ “đứt” việc vài bữa ở chỗ làm thuê, bà chủ cũng thẳng tay đuổi cổ. Thất nghiệp hoàn thất nghiệp. Cậu bé Tự 20 tuổi mà gây nhom, vẫn quần xóc, tóc lù xù, nhìn ai cũng sợ sệt. Đến lúc, người ta đem cả trăm triệu cứu sống em gái mình, dù xúc động lắm, nó vẫn không nói được một lời cảm ơn. Lần đầu tiên gặp tôi, mãi khi ra khỏi khu vực điều trị của em gái, cậu bé Tự mới khóc tấm tức. “Cháu sợ quá chú ạ. Trong khu điều trị bệnh tim như cái nhà xác ấy. Toàn người nằm im im, chốc chốc lại có người khóc khe khẽ, thế là người ta khiêng cáng đi. Một người nữa lại chết. Cháu sợ em Thơ của cháu phải chết. Nó mới chỉ 14 tuổi. Cháu chết thay cho nó được không hả chú?”. Tôi trợn mắt: “Mày thì cũng chưa đầy 20 tuổi, chết thế nào được mà chết”. Nói vậy nhưng lòng cũng đắng đót rưng rưng, chắc gì đã cứu sống được Thơ. Có cách gì cứu sống được Thơ không?
Đứa con của người điên: “Đầu xanh có tội tình gì?”
Tôi về xã Sơn Công tìm hiểu. Hóa ra bố mẹ Thơ đều chung nhau một lý lịch: mỗi người đều mấy đời vợ đời chồng. Họ sống lầm lụi và lầm bụi lắm. Mẹ Thơ tên là Nguyễn Thị Ái, SN 1949, bà này có tiền sử tâm thần, có sổ theo dõi tâm thần và thường vào điều trị ở Trại Ba Thá (Bệnh viện tâm thần Hà Tây cũ). Nhưng bà vẫn hai ba lần lấy chồng. Bố của Thơ là ông thứ hai thứ ba gì đó. Bà Ái đi buôn đủ thứ hàng họ. Buôn thúng bán bưng mà cũng ra trò. Có lần bà nhảy lên phản thịt giữ chợ ngồi chồm hỗm, hò hú. Nhưng lúc tỉnh, vẫn yêu đương và chợ búa có lãi lờ hẳn hoi. Bà nuôi con cái cũng không đến nỗi nào, dẫu thỉnh thoảng vẫn bỏ trốn bằn bặt vì nỗi sợ hoang tưởng rằng có ai đó đang đuổi giết mình... Cơn điên lên thì vào trại, hơi tỉnh một tí thì trốn trại để “tái xuất giang hồ”.
Bà Ái lấy ông Nguyễn Trọng Khơi, bố của Thơ, khi ông này rất già. Ông chết năm 2004, ở tuổi 73, khi mà Thơ mới 10 tuổi, còn líu díu đôi chân thiên thần bé để cắp sách đến trường làng. Một hôm, không chào hỏi hay hò hét gì, bà Ái bỏ nhà đi mất tăm. Thơ và anh trai bổ đi tìm, tìm khắp cả Hà Nội, sang Hưng Yên, xuống Nam Định, người trong họ tuyệt vọng đã đi cầu cúng các nơi để dò “đường âm” mà tìm. Tìm mãi thì thấy bảo bà Ái. Vẫn còn sống. Về nhà, bà lại xé quần xé áo ra đi. Có lần Thơ lạy lục van xin mẹ để được dắt mẹ về nhà, chăm sóc ít ngày, biết nói cười vài câu rồi bà lại tính kế… bỏ trốn. Lần hành tẩu gần đây nhất của bà Ái diễn ra đã 7 năm. Thơ và anh trai đã xin đăng ảnh bà lên báo, phát trên tivi để tìm kiếm nhưng vẫn bặt vô âm tín. Ngôi nhà hoang lạnh, cỏ mọc kín lối vào, mái sụp tường rêu. Bèo trên ao phủ kín mít, hoa tím nở tơi bời, không còn biết chỗ hoang hóa đó là ao hay là… ruộng nữa. Có lẽ, vĩnh viễn không bao giờ Thơ còn nhìn thấy mẹ mình trên thế gian này. Phải nấn ná lắm, chờ đợi lắm, khóc đến đục cả đôi mắt thơ ngây ra rồi, bây giờ Thơ mới dám in cái ảnh ố vàng rách rưới trong cuốn sổ theo dõi bệnh tâm thần của mẹ ra làm ảnh thờ. Bố mẹ ngồi trên bàn thờ, Thơ thì nhập viện với cái án vài chục ngày nữa sẽ chết, nếu không có ít nhất 50 triệu đồng để phẫu thuật. Số tiền ấy, nó lớn đến mức, cả trong mơ bé Thơ và anh trai cũng không dám nghĩ là mình có thể có được. “Anh em cháu chỉ còn duy nhất mảnh đất với ngôi nhà để bán. Nhưng nhà cháu xơ xác, vườn rậm um cỏ rả, ở cái xóm Nghi Lộc xa xôi này thì làm gì có ai người ta đến hỏi mua nhà đất đâu hả chú”, Tự bần thần.
Suốt 50 km con đường xóc nảy với ổ voi ổ khủng long dọc đê sông Đáy; rồi tỉnh lộ nhỏ hẹp và đông đúc xe cộ từ nhà Thơ về Bệnh viện Bạch Mai, tôi cứ đau đáu với “cái ách giữa đàng nó quàng vào cổ” mình. “Thơ ơi, em đừng chết!”, lời thảng thốt của anh trai Thơ cứ như câu thần chú với cả cậu ấy và tôi. Hôm ấy, rằm tháng tám, Hà Nội tràn ngập bánh trung thu, đèn hoa giăng mắc. Nhớ cảnh bé Thơ quằn quại đau đớn, phải xin từng suất cơm thừa ở bệnh viện để nuôi giấc mơ được sống làm người, tôi thấy đắng lòng. Thấy xe ô tô của mình rồi xe của thiên hạ, tiền vài trăm triệu đến vài tỷ đồng, tôi buột miệng nói với người hàng xóm: một cái bánh xe ô tô, một góc chiếc xe máy của ông, là cứu được một cô bé 14 tuổi, xinh, ngoan, là học sinh nghèo vượt khó cấp huyện, sao chúng ta không cứu nhỉ? “Đầu xanh có tội tình gì?”, câu thơ hình như của Nguyễn Du cứ đay đi đay lại như một thách thức.
Tôi hơi sướt mướt, tôi hơi lãng mạn nửa mùa, nhưng đúng là trung thu năm 2008, tôi đã nghĩ đến chuyện tặng Thơ một cái bánh ô tô mình đang đi, để cháu được sống làm người. Tôi và bạn sẽ không có đủ bánh xe hay tài sản để tặng tất cả những người chầu chực bên bờ chết chóc của đất nước này, thế gian này; nhưng tôi tin, nếu về quê Thơ, gặp Thơ, điều tra về gia cảnh của Thơ, bạn sẽ dễ dàng có quyết định “bốc đồng” như tôi. Tôi quyết định đứng ra vận động độc giả chung tay cứu bé Thơ. Lòng tự hứa, nếu không ai hưởng ứng, tôi sẽ cóp nhóp tiền lương và vận động bạn bè cứu bằng được bé Thơ. Nó sẽ là con gái nuôi của tôi. Đêm Trung thu năm 2008 đến với tôi thật đặc biệt. Tổng Biên tập báo Lao Động bấy giờ là TS Vương Văn Việt sau khi đọc vài dòng tôi viết về số phận thê thảm của bé Thơ đã rưng rưng: trước mắt, báo ta trích quỹ Tấm lòng vàng giúp Thơ 30 triệu đồng nhé. Sáng hôm sau, một công ty tặng Thơ quả tim “mới” (đài thọ toàn bộ chi phí phẫu thuật) trị giá 50 triệu đồng. Bệnh viện phải thành lập một đội tiếp nhận quà, tiền của các nhà hảo tâm trong gần 1 tháng ròng. Thơ được chỉ định sang BV Tim Hà Nội mổ. Cửa phòng điều trị mới của Thơ lại có một cái bàn và một cái ban tiếp nhận tiền, quà của những người tử tế. Kết quả, tôi tự tin vỗ vai Thơ: “Bây giờ, giả sử cháu có 5 quả tim thì chú và các nhà hảo tâm cũng đủ tiền phẫu thuật cứu sống cả 5 quả cho cháu nhé”. Tổng số tiền quyên góp được là 350 triệu đồng (trong khi “sửa chữa” một quả tim của Thơ mất 50 triệu).
“Trái tim cho em” hay là trái tim không vô cảm cho tất cả mọi người
Ca mổ khó khăn và nghẹt thở, đích thân bác sỹ Nguyễn Văn Mão, Giám đốc Bệnh viện tim Hà Nội đứng “chủ trì”. Ơn trời nó đã thành công. Thơ hồi tỉnh chậm chạp, da em hồng lên qua từng ngày, nụ cười đã nở trên sự nứt nẻ khô hạn của cặp môi thiểu não của người bệnh tim nặng quá đó. Mỗi lần nhìn cô bé trắng trẻo bước vào tuổi 15 ấy, tôi lại nghĩ: lẽ ra cháu đã chết. Chúng ta có thiếu tiền đến mức vì không có 50 triệu đồng mà những cô bé, cậu bé như Thơ và còn thơ dại hơn Thơ phải bị bệnh viện trả về để chết không? Người ta sẵn sàng lát lại một cái vỉa hè bờ hồ nọ, khi gạch vữa còn đang tốt lắm, lát lại chỉ để cho nó đẹp thôi: số tiền bỏ ra đã là 50 tỷ đồng. 50 tỷ đồng ấy đủ để cứu sống được bao nhiêu cái quả tim cần 50 triệu đồng để được tiếp tục đập nhịp đập trái tim chưa kịp bước vào thời kỳ thiếu nữ như Thơ? Một ngày có bao nhiêu khu nghỉ dưỡng, bao nhiêu khách sạn và khu chung cư được tiếp tục xây và khởi công xây mới? Liệu chúng ta có nghĩ rằng cứu người là việc nên làm hơn, nên làm trước hơn so với những việc cũng đáng làm kia không? Tôi thắc mắc đến lẩn thẩn.
Dù gì thì chúng tôi cũng cứu được bé Thơ rồi. Bé trở về và tiếp tục đi học. Thằng Tự bị đuổi việc ở Hà Nội, nó về làng, dùng chút tiền chúng tôi gửi tiết kiệm cho anh em kiếm kế sinh nhai để mua vật tư nhôm kính làm nghề tại nhà. Thơ đi học, hái rau, nuôi lợn, chăm ao cá. Nhìn đàn lợn to lớn, trắng bạch, hùng hổ lao về phía cô chủ Nguyễn Thị Thơ đòi ăn cám; nhìn xô cám khổng lồ trên đôi tay đã vâm váp của cháu Thơ 18 tuổi, bất giác tôi thấy xúc động lạ kỳ. Không hiểu sao, bấy giờ, ở chuồng lợn ấy, tôi mới thật sự xúc động. Bởi Thơ đã có cuộc sống khác. Thơ đã biết làm ăn đích thực giữa cảnh mồ côi cả cha lẫn mẹ. Nó không còn là bệnh nhân rờ rẫm chỉ biết nặng nhọc ngồi và nằm. Hồi ấy, Thơ đã phải thở nặng nhọc như là thở nốt hơi thở này để trái tim vĩnh viễn… an nghỉ. Ngôi nhà khang trang sau tu tạo; cảnh thằng Tự có tiền của nhà hảo tâm để cưới vợ đẻ con rồi mở hiệu nhôm kính ở xóm Nghi Lộc; cảnh Thơ được cả nhà trường, cả huyện, cả xã thôn mở cuộc vận động quyên góp… - tất cả những điều đó chưa làm tôi xúc động bằng việc Thơ trưởng thành từng ngày kia. Thơ đã biết vừa đi học cấp 3, vừa lao động và kiếm sống như một người khỏe mạnh.
Bây giờ, Thơ đã cao lớn bằng tôi, đã không cho tôi gọi là “bé Thơ” nữa.
Còn hôm ấy, khi tôi lang thang ở hành lang bệnh viện tìm cách cứu Thơ, chợt gặp TS Đinh Thị Thu Hương, Phó Giám đốc Viện Tim mạch Quốc gia, hai chúng tôi đã rất buồn. 50 triệu đồng là số tiền quá lớn với ai đó, nhưng nó cũng không lớn tí nào với nhiều người, với sức mạnh của một dân tộc, đất nước Nó không lớn so với việc cứu mạng một cô bé cậu bé “đầu xanh có tội tình gì” kiểu như Thơ. “Những trường hợp bị bệnh tim được trả về quê để… chết, nhiều lắm, nhiều lắm”, giọng chị Hương trùng xuống như một tiếng rên. “Chúng tôi đã kêu gọi các nhà hảo tâm là Việt kiều, cả bạn bè tử tế của mình nữa, cả vận động cán bộ trong bệnh viện nữa, nhưng chỉ cứu được vài cháu thôi. Còn lại là trả về để chết. Tôi vẫn thường xem tivi, thấy người ta vận động hàng chục hàng trăm tỷ đồng cho người nghèo. Tiền ấy đi đâu mà không dùng để cứu những cháu bé chăm ngoan, học giỏi và cực cực nghèo khổ bi đát như Nguyễn Thị Thơ nhỉ?”, chị Hương rầu rĩ như rên rẩm. Tôi phân tích: có sổ hộ nghèo, mẹ tâm thần bỏ đi chết ở đâu đó, có sổ tâm thần hẳn hoi; bố 73 tuổi chết có bát nhang trên bàn thờ hẳn hoi. Nghèo và bệnh hiểm nghèo đến mức bò lê kéo càng ăn xin ở bệnh viện để hy vọng sống làm người như thế chưa đủ tiêu chuẩn “người nghèo” sao? Thế rồi chị Hương mơ mộng nói về một cái quỹ. Sao chúng ta không lập một cái quỹ, để cứu cho tất cả những bệnh nhân tim bẩm sinh mà tuổi còn trẻ con như bé Thơ. Các cháu cần phải được sống. Các cháu phải chết ở tuổi dưới 14 chỉ vì không có 40 - 50 triệu đồng sửa quả tim tật nguyền thì tàn nhẫn quá. Chúng ta có nghèo đến mức đó không nhỉ?
Sau này, tôi và TS Hương đều rất mừng khi biết tin ý tưởng của chị Hương nói với tôi hôm đó đã trở thành hiện thực, với việc Đài Truyền hình Việt Nam và Tập đoàn Viễn thông Quân đội phối hợp thành lập Quỹ “Trái tim cho em”, để tất cả những bé thơ dưới 14 tuổi của Việt Nam ta được xét duyệt mổ tim miễn phí. Không biết có phải sự tử tế của TS Hương có phép nhiệm màu nào đó thức tỉnh những người khác; hay là số phận như cổ tích của bé Nguyễn Thị Thơ đã mở con đường sống cho hàng trăm hàng ngàn trẻ em bị tim bẩm sinh khác của đất nước này? Tôi chưa có dịp nào tìm hiểu kỹ hơn về câu chuyện đó. Chỉ biết, có lần trở lại Sơn Công, Ứng Hòa, chứng kiến bé Thơ bộc phát chắp tay vái vái cảm ơn những người tử tế đã dường như cho em một kiếp sống khác bằng một trái tim khỏe mạnh mới, tôi đã nhận ra: chiến dịch sửa chữa trái tim tàn tật của Thơ đã thức tỉnh rất nhiều người. Cạnh nhà Thơ, có ông giáo Ngô Cường dạy ở chính mái trường Thơ theo học. Quá thưởng cảm cho số phận bị giời già cay nghiệt như Thơ, ông đã viết thư cho bạn bè, thư cho người thân ở nước ngoài để xin tiền cứu sống cô học trò chăm ngoan học giỏi. Thư lên cơ quan chức năng. Nhưng chờ mãi chưa thấy hồi âm, và ông ngậm ngùi nghĩ đến ngày cô học trò Nguyễn Thị Thơ của mình buộc phải chết. Thế rồi cuộc vận động của tôi và đồng nghiệp được xã hội hưởng ứng. Điều đó cơ hồ đã buộc xã, huyện, và nhiều ban ngành đoàn thể phải vào cuộc thăm hỏi, động viên, quà cáp. Bởi, nếu không có “động thái” nào, biết đâu họ sẽ bị ai đó so bì, trách móc, oán thán; cũng có thể, thấy người ở nghìn trùng xa xôi gửi tiền về cứu bé Thơ, thì người chung một xã một huyện mà không “nhón tay độ thế” họ cũng áy náy, băn khoăn lắm..
Thơ ơi, có phải các nhà hảo tâm giúp cháu chữa bệnh tim bẩm sinh thân tàn ma dại đó; để rồi cháu lại quay ra giúp nhiều người chữa trị căn bệnh vô cảm chăng? Có một ngọn lửa thương yêu đã thêm một lần được nhóm lên từ số phận đáng thắt lòng vì buồn rồi lại thắt lòng vì vui của bé Thơ. Tôi luôn nghĩ, vì Thơ, vì ý tưởng của TS Hương và vài người tử tế kiểu đó nữa mà chúng ta đã có một chương trình khó có thể nhân ái hơn như “Trái tim cho em”.
Đ.D.H
Kèm theo chùm ảnh
Tên file: 1 bo cua Tho; 13 me cua Tho: Bố và mẹ cháu Thơ đều đã ở trên… bàn thờ. Mẹ Thơ là bệnh nhân tâm thần, bỏ nhà đi biệt tích đã 5 năm.
Tên file: 1 be Tho khi an xin o benh vien, lan dau tien chung toi gap tai BV Tim Bach Mai; 1 be Tho ve nha sau ca phau thuat tim: Gia cảnh và gương mặt thiểu não vì bệnh tật hiểm nghèo của bé Thơ trong lần đầu gặp chúng tôi.
Các file ảnh: 1 be Tho lan dau tien nhan tien cua nha tai tro de phau thuat tim: Bé Thơ lần đầu tiên nhận tiền của nhà tài trợ (đợt 1).
Các file ảnh: 1 hai anh em Tho; 12 hai anh em Tho; 1t Be tho cho lonj an; 1 Be Tho cho lon an: Thơ hiện nay, với ngôi nhà mới, công việc mới, bé đang đi học cấp 3 với sức khỏe tốt.
Wednesday, May 23, 2012 10:10:41 AM
“Thần khèn” thổi giữa hoang vu
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Hoang vu. Cách tỉnh lỵ Cao Bằng hơn 200km, có một cái bản tù mù đèn dầu, muốn gọi một cú điện thoại khẩn cũng phải vượt qua chặng đường 20km tụt theo các rông núi xuống phố núi không tên tiêu điều. Nơi ấy, bản Nà Hôm, xã Thạch Lâm, huyện Bảo Lâm. Bản có một cậu bé được mọi người nể phục gọi là “thần khèn”, cậu đi biểu diễn ở huyện, ở tỉnh, ở nhiều tỉnh khác, ở hội diễn quốc gia cũng đều đoạt giải quán quân. Cậu có thể thổi khèn, múa khèn trên những cây cọc gỗ nhọn chênh vênh, có thể đi trên dây thừng bắc giăng ngang sân khấu, vừa đi vừa thổi khèn Mông réo rắt, vừa nhảy nhót nhào lộn như một ảo thuật gia. Điều đáng nói là: chính điệu khèn mê đắm ấy đã giúp đồng bào bao đời sống sau vách núi được tắm mình trong không gian nguyên bản, cổ sơ của cha anh họ...
Một tài hoa lấm láp
Hoàng A Đô, năm nay 22 tuổi. Chàng trai Mông thanh tú, kiệm lời ấy sinh ra ở tít dưới huyện Hòa An của Cao Bằng, nhà nghèo, bố mẹ sinh hạ được những… 8 anh chị em. “Em học cũng hơi dốt… một tý” - Đô thật thà - “là bởi vì, năm 10 tuổi em mới được cán bộ xã xuống vận động đi học lớp 1, năm nay 22 tuổi mới học đến lớp 12”. Đấy là chưa kể, hồi học hết tiểu học ở cái phân trường gianh tre giữa bản vắng, không đủ sức vượt đèo vượt suối ra với trường cấp 2 ngoài xã, Đô đã phải bỏ ngang tuổi học. Bởi ở đó, muốn đến được trường thì phải qua nhiều bản, nhiều núi, với chiều dài khoảng 10km. Có khi cắp sách ra khỏi nhà, leo núi, đói quá, kiệt sức tựa vào đá, Đô ngủ quên trong hiên núi đến tối mịt khiến cả nhà, cả bản đôn đáo đi tìm.
Đô bỏ học được gần 1 năm, thì chú ruột cậu, ông Hoàng Văn Tu, Hiệu trưởng trường PTCS Thạch Lâm về Hòa An thăm nhà. Thấy thằng cháu đẹp giai lồng lộng, “tinh anh phát tiết” từ khi chưa vỡ giọng mà cứ từ tinh sương đến tối mịt cám mặt vào nương rẫy, ông đau. Ông Tu bảo, “lên Thạch Lâm ở với chú, không có cái chữ thì cái núi nó sẽ đè chết mày mất thôi!”. Nhà có tới 8 anh em trứng gà trứng vịt, nhiều khi bố mẹ ngợ ngợ một lúc mới nhớ hết tên con, nên thấy ông Tu có 5 đứa con gái, suốt ngày khát thèm một “quý tử”, thấy “chú Tu” hứa nuôi con mình ăn học để không bị cái núi nó đè chết, bố mẹ Đô mừng quýnh.
Thế là, Đô đã sống ở Thạch Lâm heo hút được 12 năm ròng. Tháng 6 năm 2008, vừa thi tốt nghiệp lớp 12 xong, Đô bảo tôi: “đi thi, bài nào em cũng làm được, chỉ chờ xem nó đúng sai thế nào nữa thôi!”.
Chuyện học chữ, thì có vẻ Đô ít tự tin. Nhưng nhắc đến cái môn thổi khèn chao lượn trên dây, trên cọc, giữa mây mù ngùn ngụt, giữa đám tang thê thiết ở bản nghèo hay giữa trang hoàng ánh đèn sân khấu một hội diễn quốc gia, thì đôi mắt Đô sáng rực. “Em chưa bao giờ đi hội diễn, đi thi mà không được giải nhất!”. Đô tự nói về mình, thật thà mà kiêu hãnh đến ngỡ ngàng, nó cũng thật thà như kiểu cậu bé vừa lơ lớ tiếng Việt, thổ lộ: “Em học chữ thì cũng hơi dốt một tý, một tý…”.
Mang tiếng làm con nuôi một ông Hiệu trưởng, nhưng nhà chú Tu thì cũng chẳng khá khẩm hơn nhà Đô ở dưới Hòa An bao nhiêu. Đến tận giờ phút này, vẫn không có điện, không có điện thoại, vẫn là mịt mù sơn cước. Người Bảo Lâm có câu ca “tủi tủi” về những đặc sản khốn khó quê mình: “Xa Yên Thổ, khổ Đức Hạnh, lạnh Đồng Mu, sương mù Lũng Pán” (Yên Thổ, Đức Hạnh… là các địa danh của huyện Bảo Lâm). Bảo Lâm là huyện xa nhất tỉnh, những cái khổ của sương mù, núi cao, xa thẳm, lạnh đóng băng tuyết chết trâu chết bò ở các địa danh kia lại còn “đỉnh” hơn nữa. Cái hoang vu của Thạch Lâm như là dấu cộng của những cái khổ kia lại, bà con bảo, chưa đến Nà Hôm, nghĩa là chưa hiểu được thế nào là sơn lam chướng khí của thượng nguồn sông Gâm, con sông xanh biếc, khảm giữa những khối đá sừng sững mà ghềnh thác lao đi.
Trên đỉnh núi, giữa tím rắt sim mua, Hoàng A Đô và bố nuôi Hoàng Văn Tu đang nhào lộn quanh ba cái cọc gỗ nghiến đen trũi như xà beng sắt. Một cuộc trình diễn lạnh xống lưng. Bước chân A Đô như bước chân con báo gấm có miếng thịt đệm dày trứ danh mà băng trên đỉnh đá tai mèo; bàn chân Đô như có mắt, nó chao liệng, phom phóp đặt vào ba cây cọc gỗ. Tôi ớn lạnh, chỉ sợ Đô trượt chân, cọc gỗ nghiến cũ càng sẽ xuyên thủng bụng cậu bé. Trong cơn thần hứng của thứ sa-man giáo nào đó (ý là lên đồng vì nghệ thuật), tiếng khèn Mông vẫn chập chờn loang trong không gian rất là tài hoa. Đô đã co chân nhảy lò cò trên các đỉnh cọc gỗ, có khi em vắt chéo chân xoay tít trong không gian, có khi co quắp đặt một bàn chân lên… đùi mà vừa khèn vừa nhảy. Bước chân như có pháp thuật ấyi lẹ làng hạ gót vào một cái cọc nào đó. Ngẫu hứng, Đô và thầy Tu lại buộc sợi dây thừng vào hai tàng cây bìa núi, rồi Đô nhảy lên đó, lấy thăng bằng, trịnh trọng đưa khèn lên thổi, rồi đắm đuối bước chân lần theo dây, nhảy trên dây, co duỗi chân, xoay người trên dây như một nghệ sỹ xiếc, Đô vừa thổi khèn vừa bay lượn như con đại bàng. Đi trên dây, nhảy nhót trên cọc thì nhiều người làm được; nhưng làm những việc đó mà vẫn thổi khèn, tiếng khèn vẫn đúng, vẫn lung linh hớp hồn người, thì quả là khó.
Chả trách ai đó tiếm phong Đô là “thần khèn”.
Chàng trai Mông nào, xưa nay, cũng mê thổi khèn, mê thưởng khèn, có khi là khèn môi khèn lá, có khi là cây khèn Mông truyền thống - thứ nhạc cụ hào sảng và hào hoa từ hình dáng đổ đi. Nhưng, đúng là tôi chưa từng thấy ai thổi khèn được trên cọc gỗ, trên dây thừng như Hoàng A Đô. Điều đáng nói nhất trong tài hoa đáng ngạc nhiên của Đô không phải là những kỷ lục về chơi khèn Mông mà em đã lập, không phải là những phần thưởng, những bằng khen, giấy khen Đô đã treo ở góc học tập của mình. Mà đơn giản, em là một chàng trai Mông yêu ca hát, yêu võ thuật, sống hồn nhiên và vạm vỡ như con họa mi, như con báo gấm giữa hoang vu. Ông Tu dạy cậu con nuôi của mình chơi khèn, múa khèn, không phải để cháu thành một người hành nghề biểu diễn kiếm cơm, càng không phải để tìm chút hư danh gì nơi phố xá. Mà ông Tu là người mê khèn, ông muốn phục dựng những giá trị mà tổ tiên mình từng sở hữu, giờ đang bị mai một đến xót xa.
Hóa ra, múa khèn trên ba cái cọc, có xuất phát điểm là điệu múa tiễn đưa hồn người quá cố về với Giàng của đồng bào Mông; hóa ra, thổi khèn đi như vũ nữ trên dây thừng là điệu khèn qua cầu qua suối có từ thượng cổ mà cộng đồng người nơi thâm sơn cùng cốc này vẫn biểu diễn xưa nay. Và, trước khi đi hội diễn quốc gia đoạt giải nhất, Hoàng A Đô đã được bố nuôi đưa đi biểu diễn tiễn người trăm tuổi về trời khiến cả làng cả bản rưng rưng xúc động, khiến nhiều “thần khèn” già nua ở bản Mông hậc hậc nhe hàm… lợi móm mém “thế là tao không phải mang các thế “võ khèn” xuống mồ rồi, thế là có thằng để tao nhờ nó giữ các bài khèn cho bọn trẻ con của bản mình rồi”. Góc học tập của Đô ở Thạch Lâm, treo đủ Bằng khen giải nhất cuộc thi khèn Mông toàn quốc tổ chức ở Mộc Châu, Sơn La, năm 2006; giải quán quân tại các hội diễn ở Bảo Lâm, Bảo Lạc, sang tận Bắc Mê của Hà Giang và nhiều tỉnh lân cận; đấy là chưa kể bằng khen của ngành văn hóa, của Ủy ban huyện Bảo Lâm. Trong ánh đèn dầu tù mù, Đô cứ soi và giới thiệu mãi, nhưng rồi, chính em cũng không nhớ hết số lần mình được khen thưởng vì biểu diễn nghệ thuật khèn của người Mông.
Hoàng A Đô sẽ đi về đâu?
Ông Hoàng Văn Tu đã giành nhiều năm nghiên cứu nghệ thuật khèn truyền thống của người Mông, ông cần phải có một truyền nhân, và theo ông, người đó phải là Hoàng A Đô. Bởi ông nhìn thấy ánh lửa đó trong mắt Đô, từ khi cậu mệt nhoài trên nương trong tình trạng thất học… hồn nhiên.
Ngày dạy chữ, đêm về, ông Tu biểu diễn khèn đắm đuối, để cho cái giai điệu, cái chất hoang dã quyến say của khèn Mông ngấm vào Đô. Ông muốn Đô học khèn một cách tự nhiên, tình nguyện. Lúc đầu là nhảy múa trên mặt đất. Co một chân, xoay người trong không gian, nhào lộn, đánh võ mà tiếng khèn không chùng không căng ngoài ý muốn của người nghệ sỹ. Mất vài năm, khi đã thổi, đã múa được vô vàn bài khèn “nhiều lắm không kể hết”, thì bắt đầu chơi bài khó. “Thổi, múa khèn, nó rèn luyện đạo đức, bản lĩnh sống, và cả thể lực (như tập võ nghệ) cho người ta. Lúc đầu tôi cho cháu biểu diễn khèn đi trên tấm ván to, tấm ván bé dần, rồi nó biến thành một sợi dây thừng, biến thành những cái cọc. Nó ngã nhiều, tôi cũng ngã nhiều, nhưng tập mãi thành quen” – ông Đô nói.
“Tại sao lại múa khèn trên cọc và trên dây mà không phải là hình thức nào khó hơn hoặc dễ hơn, hoặc không giống thế?” – nhà giáo Hoàng Văn Tu quay lại đố nhà báo. “Là vì đi trên dây thừng (ra sân khấu biểu diễn phải cõng theo những cái cọc sắt và những sợi dây chão làm “đạo cụ”!); nó rất giống đi trên… cầu khỉ. Bản làng chúng tôi ở giữa hoang vu, chỉ có cầu bằng cây tre cây gỗ bắc qua suối. Người đàn ông Mông suốt đời khoác khèn trên vai. Bài biểu diễn đi trên dây múa khèn, chính là điệu khèn vượt đèo vượt núi (tiếng Mông phiên âm ra là: Tành do đợ do hé”)”. Theo lý giải của ông Tu, ông dạy Đô tập bài biểu diễn khèn tuyệt kỹ trên ba cái trụ gỗ nghiến cao cả mét, cũng là vì: ba cái trụ, là tượng trưng cho các cái cọc giết bò. Xưa, trong đám tang của người Mông, người thổi khèn đến cổng bao giờ cũng chăm chắm nhìn rồi nhảy nhót quanh (hoặc trên) ba cái cọc gỗ mà nhà có đám họ đã cắm để buộc con bò vào “hành quyết”. Người biểu diễn sẽ vừa dùng tiếng khèn, vừa hát bằng tiếng Mông, hỏi vì sao lại giết chết con bò. Rồi theo vết chân bò, theo các dấu hiệu giết bò, tìm ra nguyên nhân là vì: giết bò để làm cỗ - nhà ấy có… người chết. Tiếng khóc ai oán cất lên. Có khi trong đám tang, Đô trực tiếp cùng những người khác thổi khèn, nhào lộn, hát đả kích những người thịt bò thịt trâu nhiều làm mất sức kéo (bò Bảo Lâm rất nhiều và là giống bò nổi tiếng cả nước); đả kích những người say rượu trong đám tang, những người hay đánh vợ chửi con, đánh đấm lẫn nhau…, rất là tài hoa. “Công chúng” xem và nghe khèn của Đô ngày càng đông. Với bà con, đám tang, có cái gì thật lạc quan, trong vắt. Từ tiếng khèn trong nhà đám, đến tiếng khèn biến hóa như ảo thuật ngoài bìa rừng, trên dây thừng, trên cọc gỗ nghiến chênh vênh của Đô, tất cả đều mang tải trong từng giai điệu những lớp lang văn hóa, tộc người quý giá.
Mỗi lúc ngành văn hóa huyện, tỉnh hay các hội diễn các dân tộc vùng cao phía Bắc, Đô lại được xe lưu động của đội chiếu bóng cấp huyện đón đi. Năm thì mười họa có một cuộc để Đô phô bày được công phu luyện tập của mình, còn lại, rời ánh đèn sân khấu, Đô chỉ có mây mù và những con đường dốc dác, nhục nhằn của Thạch Lâm. Thật khó để nói rằng Đô sẽ thi đỗ đại học. Hoàn cảnh khó khăn, bản làng mù mịt, học lực trung bình yếu, nhưng bù lại, Đô đã có tiếng khèn “đặc sản” có một không hai của mình. Thật phí phạm, nếu Đô học hết lớp 12, lại úp mặt vào núi cày cuốc kiếm ăn; rồi cơm áo nhọc nhằn sẽ làm Đô thấy những ngón “thần khèn” của mình trở thành vô tích sự. Giờ đây, nếu có một Mạnh Thường Quân, có một sự phá cách, xé rào, biết “có khi biến có khi tòng” của địa phương, các trường văn hóa nghệ thuật và ngành văn hóa nói chung, thì có lẽ: Đô sẽ phát huy được tài năng. Khi ấy, tiếng khèn, nghệ thuật trình diễn khèn trên dây, trên cọc và nhiều “độc chiêu” mà thầy trò Đô đang công phu tập luyện nữa sẽ đến được với công chúng nhiều hơn, sẽ bay bổng hơn. Phần “được” sẽ thuộc về tất cả chúng ta; và làm như thế, cũng chính là chúng ta đã nâng cánh, đã nhân ái với một người trẻ có tài và biết khát khao cống hiến.
Sẽ có một sân khấu rộng hơn, để “thần khèn” Hoàng A Đô không chỉ biểu diễn giữa hoang vu tím rắt một màu sim mua cằn cỗi kia?
Đ.D.H
Wednesday, May 23, 2012 10:02:25 AM
15 ngày khám phá Tam Giác Vàng:
Ký ức đẹp trong “lãnh địa của Hoàng Tử Chết”….
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Lái chiếc xe ô tô đeo biển số Việt Nam, từ Hà Nội, qua 4 quốc gia để có 15 ngày chinh phục Tam Giác Vàng huyền thoại, chúng tôi luôn sẵn lòng để trải nghiệm những cảm giác mạo hiểm bậc nhất mà tuổi trẻ của mình có thể có được. Thật không ngờ, thủ phủ của cây thuốc phiện, nơi từng cung cấp tới 70% lượng ma túy cho địa cầu ấy lại êm đềm đến vậy. Đến thăm làng của Khun Sa, ông Vua thuốc phiện khét tiếng, Hoàng Tử Chết tàn độc; ghé Bảo tàng Thuốc phiện rồi miền đất của những người cổ dài Myanmar… - chỗ nào cũng thấy một tinh thần làm du lịch “khách hàng là thượng đế”. Người ta xây dựng “Thành phố của những nụ cười” trên chính miền đất mà tận giờ phút này vẫn nóng bỏng các đường dây ma túy hãi hùng nhất. Nơi mà không ít cán bộ quan trọng trong lực lượng chống ma túy của Công an Lào vẫn ngã xuống cách đây chưa lâu. Thế rồi, người ta biến miền đất chết thành “cái ổ của những con gà đẻ trứng vàng” tài hoa đến mức… tôi cảm thấy xót xa cho những bất cập trong “khai thác du lịch” ở Việt Nam.
Sao ở đây người ta tốt thế?
Có lúc tôi đã nhắm mắt lại và ao ước được thêm một lần lái xe ô tô địa hình trên những cung đường nhầy nhụa bùn đất băng qua sương mù từ tỉnh Điện Biên sang các tỉnh Bắc Lào như Phông Xa Lỳ, Hủa Phăn, U Đom Say. Đêm ấy, rời những bản làng ne nép tre pheo trong ánh trăng thượng tuần lơ phơ, chúng tôi không biết hỏi thăm thế nào, bởi người Lào ở bản hoe hoắt ấy không biết nói tiếng Anh, càng không biết một từ tiếng Việt. Rồi cứ bám bùn đất mà quăng xe trượt như con lươn con trạch ra phía dòng sông nhóng nhánh dưới thung xa. Hết đường. Sông đục ngàu dưới ánh đèn pin. Tiếng gọi đò thọt vào thinh không.
Bốn gã sẽ phải ăn lương khô và ngủ ngồi trên chiếc xe bán tải 2 cầu 4 chỗ này thôi. Thì cứ bấm vài hồi còi dài cho đỡ… cô đơn. Tiếng nhạc vàng rền rĩ trong xe văng vẳng, “hồi còi xé nát con tim”, nghe càng não nuột. Thế rồi, khua ánh trăng vàng, có tiếng nhóc nhách ở sau bụi tre ngả mình ven vở nước. Chỉ trỏ, ra hiệu rồi những máy ảnh và ipad, iphone đắt đỏ kỵ nước kia cũng phải liều mình lên con thuyền mong manh như từ cõi yêu ma hiện ra đó để vượt sông. Bỏ xe bên này nhé, ở đây không có trộm đây (tự nghĩ vậy). Vừa đi vừa cầu khấn trời đất. Chiếc quán lá bé xíu, bé hơn cả bối cảnh “rũ áo phong sương trong quán trọ/ lặng nhìn thiên hạ đón xuân sang” của thi sỹ Nguyễn Bính. Hóa ra cô bé mặc váy Lào, béo núng nính, má đỏ hây hây vì củi than trong căn bếp muộn mằn kia biết nói vài câu tiếng Việt. Vì dạo này thợ Việt Nam sang đây làm đường Phông Sa Lỳ mà anh. Bữa cơm mầm đá nhằng nhặng đắng canh rau rừng Lào, khỏi phải nói nó ngon thế nào. Rồi bất ngờ tiếng nhạc văng vẳng khiến không ai không nhớ cố thi sỹ Phạm Tiến Duật: “Trường Sơn Đông nhớ Trường Sơn Tây… Bên nắng đốt bên mưa rừng rơi”. Ôi, đã mấy ngày trông vời “sóng dưới chân tàu không phải sóng quê hương”. Ai nấy lặng đi. Nọng sáo (em gái xinh) ơi, sao em tâm lý thế.
(Sau này, tôi còn gặp nhiều chuyện kiểu tử tế như thế này ở suốt hành trình. Ở Luang Pra Băng cô gái trong vũ trường chắp hai tay cúi đầu cảm ơn khi khách châu Âu… ngã giá “đi chơi” rồi chê ỏng chê eo. Hầu hết lái xe đều hầu như không bóp còi trên đường. Và, họ sẵn sàng nhường đường bằng mọi giá khi bạn nháy đèn hay có tín hiệu xin vượt. Bà chủ quán có thể vui cười khi bạn không ăn thứ bà ta bán, mà vẫn đỗ xe ở cửa hiệu nhà bà ta rồi theo sự chỉ dẫn (của chính bà ta!) đi tìm quán khác. Một cán bộ hải quan ở cửa khẩu quốc tế từ Lào sang Thái Lan tại khu vực Tam Giác Vàng ôm lấy tôi “very good, very nice” đầy thân thiện khi biết tôi và cái xe của tôi đều đến từ Việt Nam. Một gia đình người Thái ven quốc lộ, nuôi khỉ, nuôi cả đàn chim sáo đậu thường bậu trên vai người sẵn sàng cho chúng tôi ngủ nhờ, ăn uống chu đáo mà chưa cần hỏi “bạn đến từ nước nào”. Ở Myanmar, họ làm du lịch “bụi” bằng cách đưa ra những cuốn allbum mà ở đó có ảnh từng di tích, thắng cảnh kèm giá tiền đưa đi bằng xe tuk tuk - như xe lam ở ta - đến đó, không cần mặc cả, họ sẵn sàng lo lắng tận tình chỉ cho bạn từng góc chụp ảnh đẹp, từng miếng ăn giấc ngủ như những người bạn đi xa lâu ngày vừa đoàn tụ. Nhiều lần tôi đã cố lý giải vì sao họ tốt thế, vì sao những cử chỉ người ta coi là bình thường (người với người nhân ái bắt tay nhau) thế mà với người Việt Nam mình lại coi là chuyện khó tin, hiếm gặp? Có lẽ, vì người Lào, người Thái, người Myanmar họ cùng sống ven một dòng Mê Kong ấy - con sông Phật giáo thiện lương. Hầu hết, họ sống tốt như một điều không thể khác, như một sứ mệnh, như một người Có Đạo đích thực, với niềm tin về sự che chở tối cao của Đức Phật).
Ghi được ở Bảo tàng thuốc phiện
Có người bảo, người ta đang xây một loạt các “Thành phố của những nụ cười” để phát triển du lịch, họ phải coi văn hóa ứng xử với du khách là thứ sống còn. Có lẽ thế. Song, điều ám ảnh tôi nữa ở thủ phủ Tam Giác Vàng lại chính là nghệ thuật làm du lịch. Người ta khai thác đến mức: tôi nghĩ, bất cứ ý tưởng nào của bất cứ ai về việc họ sẽ làm gì để lưu ký ức về một lần được đặt chân đến Tam Giác Vàng… thì (có vẻ như) cũng đã được người Thái, người Miến, người Lào đón đầu, làm sẵn! Tam Giác Vàng (tên quốc tế, tiếng Anh là: Golden Triangle) là cụm từ để chỉ vùng đất rộng khủng khiếp: 200.00km2, trùm lên lãnh thổ 4 quốc gia Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Lào. Đỉnh cao “sự nghiệp” của Hoàng Tử Chết Khun Sa, là ông ta có những căn cứ sản xuất và buôn bán ma túy với quân đội riêng đối kháng với các chính phủ lân cận. Trong tay ông ta có tới 15 nghìn tay súng dữ dằn. Vừa rồi, khi chúng tôi có mặt, như sách báo và thông tin chính thống cho biết: Khun Sa mới chết vài năm trước, chết già chết ốm ngay tại thủ đô của Myanmar. Nói như người Việt Nam thì chết chưa kịp cải cát. (Tin khác lại bảo, đám tang ông ta chỉ là một kịch bản “rắn giả… dây thừng”). Nếu trên đời có thứ ma quỷ nào đáng sợ nhất, thì đó là ma túy; và nếu có ông vua thuốc phiện (và các loại ma túy tổng hợp khác) nào khủng khiếp nhất thế gian, thì đó là Khun Sa.
Hai điều ám ảnh nhân loại kia, đã được người dân tân tiến ở vùng đất Tam Giác Vàng “chớp thời cơ” đem ra làm du lịch. Họ khai thác huyền thoại về ma túy quá tài giỏi. Trái tim Tam Giác Vàng chỉ là một doi đất được tạo thành từ sự chung đụng hòa sắc của hai dòng sông lớn: sông Me Sai và sông Me Kong. Đúng chỗ ngã ba sông đó, là nơi “một tiếng gà mang ba quốc tịch”. Chú trống choai nọ nếu gáy te te thì người nước Lào, người nước Thái và người Myanmar cùng nghe thấy. Du khách nào đến “City of Golden triangle” (thành phố của Tam Giác Vàng) thì đều ao ước được lên đỉnh đổi cao nhất miền tột Bắc Thái Lan để cùng lúc phóng tầm mắt bao quát núi sông của 3 quốc gia láng giềng. Khách có thể gặp ngàn lẻ một thứ mang nhãn hiệu “Golden Triangle” (Tam Giác Vàng) trên phần đất ngã ba biên giới, ven sông Me Kong của tỉnh Chiang Rai (Thái Lan); hoặc tỉnh Bò Kẹo (Lào); hoặc Thành phố Tachilek (Myanmar). Khách sạn 5 sao, resort, cả hệ thống sòng bạc, cả đại lộ, cả một bảo tàng, cả khu bệnh viện, bưu điện, nhà hàng, đồ lưu niệm, tượng phật, thuyền bè, bến nước, áo mũ, bật lửa, tranh ảnh, từng mụn vải miếng sắt nhỏ bé nhất… - người ta đều quyết tâm dán thương hiệu “Golden Triangle” vào bằng mọi giá.
Thậm chí người ta còn làm những cái triện bôi mực triện cồm cộp lên tấm thiếp (post card) với các vuông triện có dòng chữ “Golden Triangle”. Hầu hết mọi người đều thích thú triện nhãn hiệu bánh heroin xịn Con Sư Tử và dòng chữ “Golden Triangle” vào sổ tay hay… sổ hộ chiếu của mình, coi đó như một niềm tự hào khám phá nho nhỏ. Thậm chí, có cả Bệnh viện “Golden Triangle”, cả khu resort triệu triệu đô la mang tên “Golden Triangle” đã mọc lên. Ở ở Myanmar là có cả thành phố biên thùy sầm uất cắm biển “City of Golden Trianggle” tên là Tachilek.
Đỉnh cao của công nghệ bắt vùng Tam Giác Vàng biến thành “con gà đẻ trứng vàng”, có lẽ là việc ra đời các sản phẩm du lịch mang tên Bảo tàng Thuốc phiện (House of Opium - Museum) - một cái tại Chiềng Rai (Thái Lan) và một cái ở Myanmar; kèm theo đó là tua thăm Căn cứ địa của Khun Sa (Khun Sa Old Base Camb). Ở Bảo tàng Nha phiến, bạn sẽ được “phục vụ đến tận chân răng” các thông tin về bản đồ, lai lịch, địa lý vùng đất rộng lớn Tam Giác Vàng; cung cách, mùa vụ, bí quyết trồng, chăm sóc, thu hái nhựa cây thuốc phiện; lịch sử buôn bán và giết chóc của “bóng ma” thuốc phiện trên toàn thế giới. Người ta cũng kết hợp âm thanh rên rỉ nỉ non, tiếng gào thét rợn người rồi hình ảnh video thê thảm để diễn tả những điều khủng khiếp mà ma túy đem lại cho nhân gian: cha giết con, vợ giết chồng, các hình nhân tiều tụy rên xiết vì nghiện và các lầm lạc do nghiện. Rồi cuộc chiến tranh Nha Phiến ở Trung Hoa với 1,2 triệu lạng ma túy bị đốt dưới sự chỉ đạo của Lâm Tắc Từ. Bảo tàng còn “quái đản” tới mức, trưng bày những thứ mà người Việt Nam có lẽ vĩnh viễn không bao giờ được mục sở thị ở ngoài đời: các lại quả cân đủ hình dạng cầu kỳ, dụng cụ chích nhựa và bào chế thuốc phiện, heroin; các loại lô-gô, nhãn hiệu, thương hiệu heroin loại xịn nhất mà Tam Giác Vàng từng phân phối đi khắp thế giới (various heroin logoes). Ở các bảo tàng thuốc phiện này có lẽ cũng là nơi duy nhất trên toàn cầu các tấm biển có chữ thuốc phiện “Opium” được treo thoải mái, sản phẩm liên quan đến “opium” bày bán thoải mái. Nhiều nhất vẫn là các bộ sưu tập cân tiểu ly, quả cân, đĩa cân, các hình thức đo lường cổ xưa và tân kỳ nhất với muôn hình vạn trạng mà người dân cùng các ông trùm vùng Tam Giác Vàng thường dùng để buôn bán ma túy… Chúng tôi ghi chép được các biển hiệu bán “thuốc phiện” (opium), gồm - xem ảnh: “opium weights”, “opium scales”, “opium boxes”, “opium pipes” (cân bán thuốc phiện, bàn đèn, ống tẩu, ống điếu hút thuốc phiện…).
Gặp tượng phật khổng lồ trong cứ địa của Khun Sa
Rời Bảo tàng Nha phiến, vẫn trong chuyến khám phá Tam Giác Vàng huyền thoại kỳ bí, chúng tôi sang Myanmar thăm bộ tộc người cổ dài (long neck) ở ven thành phố biên thùy Tachilek. Và, cách doi đất ‘trái tim Tam Giác Vàng” 80km, là làng Me Sai, nơi từng là căn cứ địa đầy bí ẩn, lắm chết chóc của Khun Sa và các “bộ tướng”, dưới sự bảo vệ cẩn mật của 15.000 tay súng thiện xạ. Nơi này, từng khiến cả nhân loại hãi hùng.
Trong rêu phủ xanh rì, dưới những tán cổ thụ thâm u, vượt qua những con đèo uốn lượn vào hàng “quán quân” của thế giới, đúng là Khun Sa Old Base Camb không hổ danh là tử địa của bất cứ đạo quân nào muốn xâm nhập. Có lẽ đó cũng là một lý do quan trọng để cả CIA, cả quân chính phủ Lào, Thái rồi Myanmar đã nhiều thập niên bất lực trước móng vuốt của trùm ma túy lớn nhất mọi thời đại Khun Sa. Cuối đời, Khun Sa quy hàng chính phủ Myanmar với rất nhiều yêu sách, kể cả việc cho phép y tiếp tục điều hành những tập đoàn xe tải và các mỏ đá quý. Mảnh bom mà “liên quân” ném xuống vẫn dựng ở kia, chiếc camera hiệu Cannon mà Khun Sa từng dùng treo đó, hàng trăm bức ảnh về việc “mãnh hổ” trong vương quốc ma túy được trưng bày. Cô cháu gái nhỏ nhẹ, áo tím, tóc dài của dòng họ nhà Khun Sa (nội ngoại tộc gì đó khá xa) dịu dàng mở cửa “bảo tàng Hoàng Tử Chết”. Có khi Khun Sa thả hồn bên suối vắng, gác chân lên khẩu súng lớn trong chuyến điều binh khiển tướng giữa rừng già. Có khi ông ta đi thử vũ khí vừa mới nhập về. Có khi giao tiếp với người nước ngoài da trắng thương thảo điều gì đó bên những xe hơi cáu cạnh. Tất cả tư liệu được trưng ra. Khách sững sờ vấp phải một bức tượng lớn, nặn bằng sáp. Khun Sa ngồi đó, ung dung tự tại, vắt chân chữ ngũ, dường như ông ta vừa hằm hè vừa khinh khỉnh mời khách cứ tự nhiên mà “vuốt râu hùm”. Ngoài sân, dấu dày từng bước in rêu rành rành, giữa hoang lạnh bịt bùng ở nơi sát sàn sạt đường biên giữa Thái Lan và Myanmar, một bức tượng cao đến ba bốn mét án ngữ lối đi. Hóa ra lại vẫn Ông Hoàng Thuốc Phiện đang cưỡi ngựa thong dong. Ông ta vừa ghì cương “nhìn” khách ạ đăm đăm? Tít hút trên đỉnh núi giữa làng, một bức tượng Phật khổng lồ được dựng lên. Tượng to như là một phần của trái núi.
Người ở cái làng là Căn cứ Khun Sa ấy rất lạnh lùng. Đường vào, chúng tôi cũng phải qua rất nhiều ụ cát có lính mặc rằn ri, với súng lớn lăm lăm dí vào mặt khách mà… kiểm soát. Ánh mắt người Me Sai lạnh lẽo, cái lạnh không phải do khách tưởng tượng ra khi vào lãnh địa của Hoàng Tử Chết. Tuy nhiên, dường như bức tượng Phật quá lớn ở trên đỉnh núi kia, rồi ruộng rẫy và những cánh rừng quá màu mỡ ở nơi chín suối mười đèo xa thăm thẳm này vẫn giúp khách có được cảm giác an toàn nào đó. Thêm chút xúc cảm ở êm êm ở chốn đã hơn nửa thế kỷ là “hang hùm miệng sói” này nữa, thế là đầy đủ miền ký ức đẹp mê mải về Tam Giác Vàng, nơi một thời khét tiếng là “lãnh địa của Hoàng Tử Chết”.
Đường về tôi cứ “băn khoăn lòng lại hỏi lòng” mãi. Sao người ta làm du lịch tài tình thế? Sao người ta ứng xử với các giá trị văn hóa và lịch sử công bằng thế nhỉ?
Đ.D.H
Kèm ảnh, tên file và chú thích như sau:
khun sa 10: Tượng Khun Sa tại căn cứ địa cũ.
tam giac vang : Doi đất là khởi nguồn của tên gọi Tam Giác Vàng, với ngã ba sông giáp ranh giữa 3 nước Lào, Thái, Myanmar.
tam giac vang 0 : Bức tượng Phật màu vàng khổng lồ trên đất Thái, ở trung tâm Tam Giác Vàng.
Tam Giac Vang 2 , cung la diem cucj Bac Thai Lan : Công trình đánh dấu điểm cực Bắc Thái Lan, cũng có chữ Tam Giác Vàng (Golden Triangle).
tam giac vang 4 : Cảnh chiết nhựa cây anh túc.
tam giac vang 4uu : Bảo tàng Thuốc phiện ở Chiềng Rai.
tam giac vang 14 : Bức tượng trên ngọn đồi Pu Khao nổi tiếng, nơi có thể nhìn bao quát toàn khu vực «trái tim » Tam Giác Vàng.
tam giac vang 17 : Xe địa hình của chúng tôi vượt đèo dốc trên đất Lào.
tam giac vang 39 : Những tấm biển như thế này được cắm khắp nơi, như một lời quảng bá du lịch quyến mời nhất.
tam giac vang 366 : Người cổ dài ở Myanmar, khu vực Tam Giác Vàng.
tam giac vang yyy : Họ trưng bày cả các nhãn hiệu horoin nổi tiếng nhất được sản xuất tại Tam Giác Vàng.
tam giac vang yyyrww : Những tấm biển, những món hàng bạn chỉ có thể mua ở Tam Giác Vàng ! (đồ lưu niệm của người hút và buôn bán thuốc phiện).
Wednesday, May 23, 2012 9:57:42 AM
Chuyện ghi được trên “nóc nhà thế giới”…
Phóng sự và chùm ảnh: Đỗ Doãn Hoàng
Trên thế giới, đúng là hiếm có vùng lãnh thổ nào biệt lập, giữ lắm kỷ lục và mỗi bước chân là biết bao quyến rũ như Tây Tạng. Có lẽ vì thế mà nhân loại xưng tụng Tây Tạng với rất nhiều tên gọi chứa đầy sự cảm thán, như: “Nóc nhà thế giới”, “Thành phố mặt trời”, “Cực thứ ba của Trái đất” (cùng Bắc Cực và Nam Cực), “Thánh mẫu của Vũ trụ”, “Miền đất Chư thiên”, “Xứ sở của những đỉnh tuyết sơn và hồ xanh thiên đường”.
Sau nhiều ngày khám phá vùng đất mênh mông đến rợn ngợp chỉ vỏn vẹn có hai triệu dân sinh sống đó, tôi trở về mà lòng tràn ngập sự cảm khái rưng rưng. Những cơn choáng ngất đến độ không dám tin mình còn có thể tiếp tục sống (vì hội chứng độ cao), những khi lút mình trong cảm xúc vô tận về vẻ đẹp cũng như sự khắc nghiệt đến sửng sốt của thiên nhiên ở nơi cao nhất địa cầu, tôi luôn có cảm giác mình cứ …thêm một lần, rồi lại thêm một lần “lột xác”.
Chinh phục Everest là để cho tinh thần của núi ngấm vào mình!
Nhà thơ Xuân Diệu khi viết về đỉnh núi cao nhất thế giới Everest cao 8.850m so với mực nước biển của dãy Hymalaya hùng vĩ phủ trùm lên lãnh thổ Tây Tạng, Nepal và Ấn Độ kia, đã thốt lên: “Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất/ Không có chi Bè Bạn nổi cùng Ta”. Nhìn cuốn hộ chiếu với đủ “sưu tập” in dấu bàn chân mình khắp các quốc gia vòng quanh miền Thánh mẫu vũ trụ nọ, đôi lúc tôi đã thấy mình là người khá may mắn. Song ngẫm lại, để chinh phục được đỉnh Everest, tôi cũng như rất rất nhiều người, vẫn đành hẹn để “phấn đấu” vào kiếp sau hoặc kiếp sau sau nữa.
Cũng may, văn sách của các triết gia Phương Đông không bao giờ khuyến khích người hành hương làm việc báng bổ là leo lên ngọn núi thiêng hay tắm mình xuống dòng sông thiêng để gọi là chinh phục. Người Tạng cần hiểu núi, ngấm cái tinh thần của núi vào tâm thức của mình. Họ đi vòng quanh núi thiêng Ngân Sơn, cứ ba bước chân lại một lần nằm rạp mình trên mưa tuyết vái một cái thật đĩnh đạc và quyết liệt, phải làm sao cho năm bộ phận trên cơ thể khách hành hương phải đụng được xuống mặt đất (quy tắc: tam bộ nhất bái, ngũ thể nhập địa). Có người dành cả đời để đi bộ và quỳ lạy lụp xụp suốt nhiều nghìn cây số chỉ với ước vọng được một lần đến thánh địa, được chứng thực xứ sở thánh thần rồi sống nốt phần đời còn lại trong rưng rưng cảm kích. Nếu tận mắt chứng kiến bà con đi miên man qua các đỉnh đèo cao nhất thế giới 5.190m ở Shigaste thì bạn mới tin rằng: đúng là loài người đã có những tín đồ mộ đạo đến ngần ấy. Quanh Tu viện ở nơi cao nhất thế giới Potala, bên các hồ Yamdrok- tso, Hồ Thánh Thần và Hồ Của Quỷ (Nam-tso là hồ nước mặn cao nhất thế giới rộng… như biển, tới 1.940km2!; bên cạnh các hồ thiêng Rakastal, Manasarovar)… tôi gặp những khách hành hương quần áo rách bươm sau quá trình dài lăn lê bò toàn liên tục quỳ lạy Đấng Siêu nhiên. Họ lấy một viên sỏi về, mài ra uống nước đó, coi như nước thánh. Họ lấy vài ngọn cỏ hoặc xác những con chim thiêng bị sóng đánh dạt vào bờ, đem về sắc ba ngày ba đêm để uống và tin rằng nó là thuốc chữa bách bệnh. Thế rồi bệnh khỏi thật.
Cũng may, bây giờ, người Nepal đã kinh doanh tua ngồi máy bay trực thăng lượn vài tiếng đồng hồ để khách đắm chìm trong thế giới mê hồn của Thánh mẫu vũ trụ. Tuyết trắng miên man, các đỉnh núi phủ băng vĩnh cửu cứ tinh khôi thế, triệu triệu năm qua chưa từng in dấu chân người. Khi máy bay ở tầm thấp, có thể nhìn thấy những hồ xanh như không có thật. Các nhà khoa học đem nước đi xét nghiệm vẫn còn đang tranh cãi có phải vì chất magnesium mà hồ xanh “kinh dị” như vậy không. Xanh hơn cả một miếng ngọc bích khổng lồ. Mà kỳ lại hơn: giữa đỉnh trời tuyết trắng, lại xuất hiện cả mấy cái hồ nước mặn rộng đến mức mắt thường không thể nhìn từ bờ nọ sang bờ kia, biệt lập hoàn toàn với 4 biển của thế giới. Thế rồi mây gió băng đăng vô tận sẽ dạy cho con người ta một lẽ sống sao cho đáng sống. Rằng kiếp người thật nhỏ bé đơn côi, mọi thù hận tị hiềm chỉ là trò thảm thương ngu tối.
Người ta bảo, nếu thật sự yêu thiên nhiên, bạn sẽ không thể xử ác được với người, với đủ thứ xung quanh bạn. Bởi thiên nhiên, cả vẻ đẹp và sự nhẫn tâm của nó, là thứ tôn giáo đáng nói hơn mọi thứ tôn giáo mà loài người từng nghĩ ra. Có lần, bay từ Sài Gòn, ba bốn chặng khắp Thẩm Quyến, Thành Đô để đến được thung lũng xám ngoét núi và trắng nhức mắt toàn tuyết Lhasa, tôi đã chợt giật mình: lẽ ra cái việc bay qua núi tuyết ở miền đất Chư Thiên Tây Tạng, nó phải thành một cái tua du lịch bán vé riêng. Cô tiếp viên Tạng choàng chiếc khăn dài thượt trắng hơn cả tuyết lên cổ bạn như một nghi lễ cầu may, rồi điệu dân vũ lí lơi. Đây, Everest, Thánh mẫu Vũ trụ đang ngự. Kia, sông Áp lục - Tsangpo, con sông ở nơi cao nhất thế giới hiện ra. Sông ấy còn gọi là Mê Kong, chia tay Tây Tạng, nó trôi mình qua 6 nước, về đến Việt Nam biến thành sông Tiền, sông Hậu rồi hòa vào Thái Bình Dương.
Tôi có diễm phúc đã “gặp” Mê Kong ở đủ 6 nước mà nó đi qua.
Vị cứu tinh mang tên trâu yak
Người ta sống có Đạo với thiên nhiên. Thiên nhiên, núi, tuyết, sông hồ là Tôn giáo của họ. Di sản văn hóa thế giới cung điện Potala 13 tầng, với 1.000 phòng, cao tới 117m. Hơn thế, nó còn tọa lạc trên một cái nền xây cung điện chon von nhất thế giới: hơn 4.000m so với mặt biển. Cung điện được xây theo phong cách “núi cũng là đền, đền cũng là núi”. Các đạo sư dựng cung thất tròn, nhỏ, có vẻ như họ chỉ vã đất, xếp đá qua quýt, rồi làm lễ ẩn mình vào đó mà tu hàng chục năm giời. Nhiều tu viện mà chúng tôi đến, người ta mượn thành lũy là các dãy núi xám phủ băng tuyết, rồi tòa ngang dãy dọc cứ men theo đó mà mọc lên. Có một số “di tích” Phật giáo Tạng truyền cứ bờm xờm cỏ rơm, tua rua toàn cờ phướn làm nhiệm vụ gieo những lời mật chú vào trong gió khoáng đạt. Góc tu viện ấy bé xíu trên đỉnh núi cao nhất, giống như cái tổ chim, hay cái phòng trà đón gió của kẻ lãng du “giày cỏ gươm cùn ta đi đây”.
Potala đã được Anagarika Govinda - tác giả cuốn sách của người nước ngoài viết về Tây Tạng được đọc nhiều nhất xưa nay (“Con đường mây trắng”) - miêu tả: “(Potala) Cổ điện đã biến thành cát đá và cát đá đã vươn lên như cung điện uy nghi. Toàn bộ ngọn núi hùng vĩ hiện ra như một tảng đá cẩm thạch vĩ đại, trong đó khắc họa một thành quách hoang đường: với lâu đài và cung điện, với tháp với vách, cao như muốn đụng đến mây, đứng dựng trên vách đá thẳng cheo leo, như một tổ ong với hàng trăm hàng ngàn ngăn hộc”. Tôi đi vòng quanh trong nhiều giờ, đi cả đêm lẫn ngày, thì thấy Di sản thế giới này, thực ra là một ngọn núi từ thuở khai sinh lập địa gần như… y nguyên. Con người chỉ khảm khắc… 1000 căn phòng vào đó, như cái tổ chim. Sức mạnh hùng thiêng của thiên nhiên vẫn là một tôn giáo ở ngay trong lòng tu viện cao nhất thế giới này.
Ở Tây Tạng, 21h 30 phút tối (giờ của họ “nhanh” hơn giờ của Việt Nam 1 tiếng), trời vẫn cứ ong ong nắng. Không hổ danh là “Thành phố mặt trời”. Lạnh đến 2 độ C mà vẫn nắng chói chang, bỏng rát. Lhasa là một trong những vị trí có số giờ nắng trong năm cao bậc nhất thế giới. Ít khi tôi thấy người Tạng đội mũ khi ra đường. Dường như họ ý thức rất rõ, họ là một phần của thiên nhiên. Họ sống như cây cỏ. Các hướng dẫn viên địa phương đều tự hào khoe: nhiều khi người Tạng chỉ cần tắm 3 lần trong đời: lúc sinh ra, lúc lấy chồng lấy vợ và khi về… Trời. Thánh Mẫu vụ trụ đã ban cho người Tạng một người bạn tuyệt vời, ấy là con trâu yak. To, khỏe, sừng cong dài dữ tợn, trâu yak trở nên kỳ dị với bộ lông cực ấm. Những sợi lông to, đen nhánh, cứ rủ từ lưng trâu xuống gần mặt đất. Lúc nào cũng khoác cái “chăn ấm” hết cỡ đó, thì trâu yak mới chống trọi được với giá rét, bão cát, bão tuyết và hội chứng độ cao khắc nghiệt nhất.
Vị “thiên thần hộ mệnh” trâu yak này có thể cày bừa, cõng vật nặng, bảo vệ ông bà chủ, chở nhiều người cưỡi một lúc như một chiếc công nông leo núi đồi và thảo nguyên. Có thể cung cấp hầu hết nhu cầu thịt, sữa. Mỡ trâu yak quanh năm, đời đời thắp sáng các túp lều và cả các ban thờ. Sữa trâu yak có ở mọi bàn trà Tây Tạng. Đặc biệt, phân trâu yak nhuộm hồng mọi bếp lửa của người Tạng giữa băng tuyết triệu triệu năm, giữa khi nhiệt độ ngoài trời xuống đến dưới 40 độ âm. Nhiều người nghe chuyện này có cảm giác khó tin lắm. Khi đi miên man qua các khu làng nhuộm đen kịt toàn phân trâu yak được ngào, nặn thành từng cục lớn ném dính lên bờ tường hoặc xếp dọc các bờ bao (để phơi khô), chúng tôi đã tò mò dừng lại… ngửi thử.
Bà con rất hồn nhiên. Nhà ai lắm của thì nghĩa là tích trữ được lắm phân trâu yak. Nó là củi, là điều hòa nhiệt độ hai chiều, là bình nước nóng lạnh, cũng là biểu hiện cho cái đức chịu thương chịu khó của những người phụ nữ, là minh chứng cho cái tài ăn nên làm ra của các người chồng người cha. Phân trâu yak ở xứ cực lạnh này đã trở nên không có mùi hôi thối. Chúng cứng như đá. Người ta ra đường vẫn có thói quen đeo cái túi vải trước bụng, đi đâu mà gặp phân trâu yak là nhặt thả vào đó. Phân trâu này cho ngọn lửa cháy đều, tỏa nhiệt nhiều, hầu như không có khói. Bà con thậm chí còn dùng các tảng phân trâu yak làm “khăn giấy” để lau bát ăn cơm, như một thói quen khó hình dung nhất, một truyền thống tôn trọng khách phương xa.
Thiên táng, thủy táng và những “mật chú” gửi vào trong gió
Điều làm tôi thấm thía nhất ở xứ Tạng, có lẽ là tinh thần mộ đạo. Cảm giác như người nơi này họ sống không phải vì cái kiếp trần gian cụ thể này của họ. Bất kỳ gò đất nào ven đường nhựa, hay các xó làng hẻo lánh, cũng thấy người ta dựng các gò manidoi - họ xếp đá khéo léo, khi hùng vĩ, khi nhỏ xíu như hòn giả sơn trong bể cá cảnh. Tôi để ý, không phải họ xếp làm một địa chỉ tâm linh, như ta xây chùa xây đền đâu. Mà họ xếp cho họ, nên họ có thể xếp… ở bờ ruộng nhà mình, ở chỗ không ai nhìn thấy cũng được. Hàng triệu lá cờ sặc sỡ chăng ngang quốc lộ lớn, phủ kín núi non, sà xuống cả những mép nước mà hiếm khi có ai nhìn thấy hoặc bước xuống. Chuông chuyển kinh phật đúc bằng đồng óng ả, có khi to như cái thùng phuy lúc nào cũng quay, có khi bé bằng cái bao diêm quay mãi trên tay cô bé cậu bé mới 5 tuổi đầu. Họ làm như thế để lời cầu nguyện của mình được bay lên với Thánh mẫu vũ trụ. Ngôi chùa cổ kính và nổi tiếng nhất Tây Tạng là chùa Đại Chiêu, do Công chúa Đường triều Văn Thành xây khi vu quy về xứ Tạng với vua Tùng Tán Cương Bố từ 1.300 năm trước. Ở đó và ở nhiều nơi khác nữa trên đất Tạng, đều có các pho tượng đúc bằng vàng ròng. Mỗi ngày, các tín đồ lại cung tiến vàng thật, dát một lớp lên tượng quý như một cách cầu kinh. Các bức tượng mình vàng cứ lớn lên từng ngày, theo đúng nghĩa đen.
Trước khi đến Tây Tạng, điều tôi tò mò nhất, có lẽ là táng thức làm sửng sốt nhiều người trên thế giới này: lễ xẻ xác người thả lên núi cho chim kền kền xâu xé mang đi. Người ta gọi là “thiên táng”. Tiểu thuyết cùng tên “Thiên táng” của một nhà báo lừng danh phương Tây có chi tiết về một anh lính quân y trót bắn chết chim kền kền “táng” xác người để rồi anh ta phải tình nguyện trở thành người bị thiên táng theo đúng lối của người Tạng để chuộc lỗi lầm. Tôi thắc mắc, từng có chuyện như thế thật không? Một anh bạn người Tạng bảo: người Tạng tôn thờ với những con kền kền hung dữ đó lắm. Vì khi vị “pháp sư” làm lễ, người ta cung kính băm xác trần của người quá cố ra, họ mời kền kền về rất trịnh trọng. Chim không về, họ phải đốt lửa, đốt hương liệu quyến rũ ngào ngạt bầu trời để dụ dỗ chúng. Người ta xẻ thịt, rồi băm xương. Chúng tôi có mặt ở ngọn núi làm lễ “thiên táng” mà thấy chợn rợn.
Anh Cường, một người mộ Phật đã 13 lần đi Tây Tạng; xuống núi, xem lại những bức ảnh, những thước phim vừa quay về lễ thiên tháng được coi là rùng rợn bậc nhất thế giới rồi nhỏ nhẹ cùng “bình” với tôi: sợ hay “bình thường”, hay thấy đó là một phong tục cần trân trọng. Ấy là do quan niệm của mỗi cộng đồng người. Bạn xem lại đi. Bà con người Tạng rất tự hào được “thiên táng”. Phải là người có của nả, địa vị mới được xẻ xác bón cho kền kền. Còn lại nhiều người phải thả xuống sông “thủy táng” cho cá ăn. Chúng tôi đến những bến sông, đi suốt dọc con đường huyết mạch xuyên Tạng, chỗ nào cũng thấy bà con vẽ những cái thang bắc từ nước, bắc lên núi, bắc thẳng lên… phía Trời. Thang để cho linh hồn người thủy táng được lên cõi Thánh thần, cõi của Tổ tiên.
Tây Tạng, với tôi, dường như là một duyên phận.
Wednesday, May 23, 2012 5:34:09 AM
Bài trước:
http://my.opera.com/dodoanhoang/blog/Đối thoại về bí quyết trị bệnh ung thư với “đệ tử chân truyền” của vị thiền sư Tây Tạng:
Bài 2:
Thuốc trị bệnh ung thư của tôi không đắt bằng tiền mua một bát phở đâu!
- Thu nhập của ông hồi làm thuê ở Tây Tạng có nhiều không?
Ông Lâm: Bấy giờ họ thuê tôi và chỉ trả cho số tiền đủ để sống thôi. Người ta nuôi ăn thôi, đến khi về nước thì mới trả tiền đầy đủ, trả một cục. Họ chơi thân với tôi, quý tôi cũng bởi tôi không nói gì đến tiền nong cả. Cũng vì biết thân phận mình làm thuê nên tôi không đòi hỏi gì.
-Thế lỡ mà họ quỵt thì sao, thưa ông?
Ông Lâm: Ở nơi đất khách quê người, họ không trả thì mình cũng phải chịu thôi. Tôi đã xác định là mình đói nghèo, bệnh tật, chẳng có gì để mất nên cứ làm thôi, mọi việc khác thì mặc kệ.
Có thể ngồi thiền ngày nọ qua ngày kia trên đỉnh núi hoang vu. Như con hổ con báo cả tuần không ăn gì vẫn sống khỏe.
- Điều trị thuốc lá trên núi Tây Tạng bao lâu thì ông cảm thấy bệnh ung thư phổi di căn của mình có biến chuyển rõ rệt?
Ông Lâm: Chỉ độ khoảng 10 ngày là tôi đã thấy chuyển bệnh và khỏe hơn rồi. Tôi thấy dễ thở, dịch trong phổi cũng ít dần. Đến độ 1 tháng thì đã cảm thấy bệnh đi rồi. Hơn 3 tháng thì thấy khỏe như bình thường, không đau đớn chỗ nào nữa, không ho hắng gì cả.
- Mỗi lần ông ngồi thiền được bao lâu?
Ông Lâm: Bây giờ tôi có thể một hai ngày ngồi im liên tục như pho tượng. Tôi ngồi thiền khác nhiều người. Như các bạn chẳng hạn, sẽ ngồi ít hơn tôi vì điều kiện xã hội và công việc. Mỗi lần muốn ngồi thiền tôi đều phải lên Phanxipang, chui vào hang, vì ở trên đấy yên tĩnh, không có gì tác động. Chứ ngồi ở dưới này mà người khác gọi thì còn nói chuyện gì nữa. Trên kia chẳng có ai gọi thì có mà ngồi… hàng năm.
- Ý ông nói là, ông thường ngồi 1- 2 ngày trên núi cao, trong rừng sâu, một mình, mà không ăn uống gì?
Ông Lâm: Bình thường tôi vẫn một hoặc hai ngày không ăn uống mà. Kể cả lúc đi lại lững thững trong rừng, miễn là đừng ai gọi thôi, vì lúc đó đang rơi vào vô thức. Nếu chỉ nghĩ đến một điều là đi thôi thì không thấy đói đâu.
- Tôi không hiểu, nếu đúng như ông nói thì năng lượng để ông đi lại trong rừng, sống sót giữa hoang vu, đặc biệt cho hoạt động sống bình thường của con người thì nó ở đâu ra?
Ông Lâm: Bạn cứ tưởng tượng bây giờ, con hổ con báo có khi cả tuần mới được bữa ăn mà nó vẫn cứ sống khỏe như…hổ báo, vì nó không…nghĩ. Con người tiêu năng lượng nhiều nhất vào cái đầu, ngay cả khi ngủ bạn vẫn nghĩ lan man. Làm sao để không nghĩ gì cả, đầu trống rỗng thì năng lượng sẽ giảm tối thiểu, nuôi cái xác thì chỉ cần năng lượng tối thiểu thôi. Bạn thức một đêm, suy nghĩ một đêm thấy mệt mỏi kinh khủng. Có khi, như sách vở nói, Ngũ Tử Tư nghĩ một đêm bạc đầu. Đi bốc vác có khi còn khỏe lên vì tiêu năng lượng vào cơ bắp là không đáng kể, chứ tiêu năng lượng vào suy nghĩ thì rất tốn.
“Sau này, thấy nhiều người đến tìm tôi để cảm ơn, thì tôi mới biết là mình chữa khỏi được bệnh ung thư giúp họ”
- Ông có nghĩ ông được chữa khỏi bệnh hiểm nghèo ở Tây Tạng, đó một phần còn là vì kho thuốc của Tây Tạng rất phong phú, độc đáo, còn ở mình, do thiên nhiên quy định, chắc chắn các loài thảo dược trị bệnh cứu người sẽ không phong phú bằng?
Ông Lâm: Không. Ở mình có một số cây còn nhiều hơn ở Tây Tạng đấy. Vì họ khai thác kiệt quệ từ hàng nghìn đời nay rồi, rất nhiều người Tạng biết những cây thuốc này, nên họ khai thác quyết liệt lắm. Hồi tôi sang bên Myanma còn thấy nhiều chứ ở Tây Tạng, Trung Quốc thì bị khai thác kiệt quệ lắm.
- Sau khi khỏi bệnh, đến thời điểm nào thì ông bắt đầu chữa trị cứu giúp những người bị bệnh hiểm nghèo?
Ông Lâm: Tôi cũng không nhớ. Ngày tôi về, tôi ở trên đỉnh đèo Ô Quy Hồ (đèo cao nhất Việt Nam) hay gặp khách du lịch từ Sa Pa đi qua, họ cứ hỏi sao ông lại ở trong rừng như thế. Tôi kể chuyện bệnh tật, bảo tôi từ Tây Tạng về, lên đây tìm thuốc lá tự cứu mình, thế là họ khâm phục lắm. Từ đấy những người bị bệnh hiểm nghèo đều nhờ tôi đi lấy thuốc. Cùng cảnh đau bệnh như tôi hồi trước, nên tôi tình nguyện giúp họ, leo núi, lấy cho họ hàng bao tải thuốc mà không lấy tiền, không tính công xá gì cả. Tôi đã quên việc ấy, nhưng mấy năm vừa rồi, nhiều người chưa chết vì bệnh ung thư nhờ uống thuốc lá tôi cho quay lại tìm tôi để cảm ơn, để xin thêm thuốc. Bấy giờ tôi mới biết tôi chữa khỏi được bệnh cho họ.
- Ông suốt ngày ở trong rừng thế này, làm sao họ tìm được ông để mà cảm ơn và xin thêm thuốc để kéo dài sự sống sau khi phát hiện ung thư?
Ông Lâm: Họ lên hỏi Vườn Quốc gia Hoàng Liên, vì bao nhiêu năm tôi gắn bó với rừng già Hoàng Liên mà. Những người thường xuyên có mặt trong khu vực đều biết tôi, gọi tôi là “người rừng”.
- Chuyện ông gắn bó với nhiều cán bộ Trung ương, kể cả lãnh đạo cấp cao nhờ chữa bệnh cho người nhà của các vị đó; rồi có chuyện họ tặng ông cả chiếc xe bán tải xịn để đi lại tìm kiếm dược liệu - thật ra là như thế nào?
Ông Lâm: Ngày trước những cán bộ Viện dược liệu lên Phanxipang tìm cây thuốc rồi nghiên cứu. Họ có cái trại dược liệu ở Sa Pa mà. Họ thuê tôi lấy một số thảo dược, giá mỗi ngày 100- 200 nghìn đồng. Tôi không chỉ cho họ là tôi lấy những lá gì, cây gì mà chỉ vặt những lá lẩu đó, thái nhỏ rồi trộn với nhau, tôi bảo đây cũng là một thứ thuốc, nếu các anh phân tích thì sẽ hiểu. Họ bảo sao không chỉ cho tôi biết các cái cây thuốc quý kia, tôi bảo: tôi mà chỉ cho các anh, các anh “loa” lên cho bàn dân thiên hạ biết thì cây thuốc quý sẽ bị tuyệt chủng mất.
Họ mang thuốc đó về phân tích, sao chế rồi biếu một đồng chí lãnh đạo. Ông ấy uống nhưng không biết là thuốc của tôi mà cứ nghĩ là thuốc của viện dược liệu. Bà vợ ông ấy cũng bị bệnh hiểm nghèo, ông ấy lại cho uống. Cái lần có một nhóm cán bộ người Trung Quốc sang, ông ấy cũng mời họ uống. Họ bảo thuốc này nguồn gốc ở Tây Tạng, chỉ người Tạng mới có được, mới biết cách đi lấy chứ ngay cả người Hán cũng không biết được. Không hiểu làm sao những thảo dược này lại về Việt Nam được. Về, vị lãnh đạo kia mới quay lại hỏi cán bộ ở Viện dược liệu – những người đã từng lên đỉnh đèo Hoàng Liên Sơn lấy thuốc kia. Khi đó họ mới đi tìm “ông Lâm” bằng cách gọi điện thoại cho tỉnh ủy, rồi từ tỉnh ủy lại gọi xuống mấy lần nữa mới đến lượt tôi nghe, bảo tôi về gặp gỡ cán bộ. Khi tôi về thì vị lãnh đạo kia nói chuyện rằng: thuốc của ông tôi uống thấy rất tốt. Vợ tôi bị ung thư phổi, đã đi hết cả các nước rồi, y học phương Tây bó tay, uống thuốc của ông mà bà ấy cầm cự được bao nhiêu năm.
Chuyện chỉ có thế thôi mà.
Tôi quan niệm rằng: nợ ai thì phải nhớ, còn cho ai thì cứ quên đi
- Lại nói chuyện phẫu thuật và truyền hóa chất cho bệnh nhân ung thư. Xin hỏi: có phải những người truyền hóa chất rồi thì khả năng khỏi bằng thuốc nam ít hơn?
Ông Lâm: Không. Cơ hội là như nhau. Như bà Điệp ở Ngã ba thông tin của thành phố Lào Cai này này, đã mổ rồi, thế mà tôi chữa cho giờ khỏe như người thường. Cả cô Nhàn là vợ anh Cừ ở Phòng LĐTBXH thành phố. Hồi ấy có nhiều người đến hỏi tôi về bệnh ung thư. Tôi bảo: thực ra tôi không phải thầy thuốc cũng không phải nhà nghiên cứu. Tôi chỉ biết có bà Điệp với cô Nhàn cùng bị ung thư phổi đấy, một người mổ rồi, truyền hóa chất rồi, xạ trị rồi, còn một người chưa đụng chạm dao kéo gì cả, hiện nay hai người đều khỏe như nhau.
- Hay là thuốc của ông có tác dụng đặc biệt hơn với bệnh nhân ung thư phổi. Ông ung thư phổi và nhiều người khác ung thư phổi cũng được ông chữa khỏi?
Ông Lâm: Rất nhiều người ung thư dạ dày đã được tôi chữa khỏi đấy chứ. Hỏi nhà tôi thì bà ấy nhớ, chứ tôi hay ở rừng nên cũng chả nhớ làm gì.Tôi quan niệm rằng nợ ai thì phải nhớ, còn cho ai thì cứ quên đi. Thế nên có khi tôi gặp lại họ mà tôi cũng chẳng nhớ đâu. Có cái ông lấy thuốc xong, gặp lại cứ kể ngày trước bác chữa cho em, tôi bảo tôi không nhớ được, nhưng ông khỏi được bệnh, thoát được chết, thế là tốt rồi.
- Các bệnh nhân ung thư dạ dày ông chữa được nhiều không, ông có nhớ vài ca tiêu biểu không?
Ông Lâm: Nhiều chứ. Cơ hội chữa trị khỏi với người ung thư dạ dày còn nhiều hơn là với người ung thư phổi ấy chứ.
- Ông có tin là họ thật sự được chữa khỏi không? Hay chỉ là cầm cự? Hay họ sống sót thật ra là do xác xuất bệnh ung thư cho phép họ sống. Thí dụ: 100 người ung thư, thì sẽ có 10 người còn lâu mới chết. Và bệnh nhân ông “cầm cự” cho họ còn lâu mới chết đó nó lại nằm vào con số xác xuất 10% kia?
Ông Lâm: Bây giờ phải có công trình nghiên cứu. Ngay như bản thân tôi đây, bảo khỏi cũng không phải là khỏi. Nhưng kéo dài sự sống được. Chứ ngay cả người khỏe còn không biết là chết lúc nào cơ mà. Nhiều người ung thư dạ dày, tôi đã điều trị, bây giờ cũng ổn định rồi. Mấy gã chủ quan còn điện lên cho tôi bảo “tôi lại đi uống rượu tiếp đây “lương y” ơi”. Có cậu ở tận trong Vũng Tàu bị ung thư xương, chẳng đi lại được. Nhưng mấy năm nay khỏi rồi.
Các “giáo sư” họ chỉ thích nghiên cứu từng cây từng cây. Những cái ông ấy lại không biết chữa bệnh.
- Khi làm chuyên đề về bệnh ung thư và những thần y, thần dược cứu người, chúng tôi thấy có vấn đề này, không hiểu tại sao mình không làm sớm đi, rằng: người bệnh ung thư thì khổ hết chỗ nói rồi, bệnh viện quá tải đến khốn khổ khốn nạn và không thể hình dung được rồi - nhưng tại sao những người có được bài thuốc dân gian có thể “chữa được bệnh ung thư” như ông và vài người khác nữa không dám đứng lên tuyên bố tôi chữa khỏi ung thư?! Ông có dám chọn tình cờ 50 người ung thư phổi, 50 người ung thư dạ dày về và tiến hành chữa cho người ta dưới sự giám sát của khoa học và báo chí? Để xem kết quả thế nào?
Ông Lâm: Về khoa học thì tôi không biết. Nhưng các “giáo sư” họ chỉ thích nghiên cứu riêng từng cây, từng cây. Mà những ông nghiên cứu thì lại không chữa bệnh. Bạn bảo, như ông P.T.K, cả đời chả chữa cho ai mà chỉ nghiên cứu cây nọ cây kia thôi. Khoa học Việt Nam nó nham nhở thế đấy. Chứ như Trung Quốc, họ rất khuyến khích các bài thuốc cổ truyền. Châu Âu hiện nay cũng thế. Tôi cứ lầm tưởng châu Âu chỉ dùng tây y nhưng không phải. Khi tôi ở trong rừng, các nhà khoa học châu Âu đến Hoàng Liên Sơn, gặp tôi, họ nói: đất nước các anh cái gì cũng thích mới. Các loại thuốc Tây cứ được mua về theo cơ chế “ăn theo”. Mua một nghìn bán hai nghìn cho nó nhanh thôi, chả ai nghiên cứu cả. Thực ra lịch sử của loài người là hàng chục nghìn năm còn lịch sử của thuốc Tây mới có 300 năm thôi. Ngày xưa con người ta vẫn sống bằng thuốc Nam, thuốc từ tự nhiên. Ngay bây giờ Mỹ đang quay lại dùng thảo dược chứ không dùng hóa chất tổng hợp nữa. Cơ chế của thảo dược ra sao, chúng ta chưa thực sự nghiên cứu sâu về nó.
Một nhà nghiên cứu phương Tây mới bảo tôi: bây giờ thuốc Tây mà cùng lúc đổ thuốc xương, thuốc khớp vào với thuốc tim mạch thì nó tác dụng với nhau, nó ra một cái hợp chất thứ ba chẳng có tác dụng gì. Nhưng cây cỏ, anh có thể đổ tạp pí lù vào nhưng nó không tác dụng với nhau bởi các dược chất, các yếu tố cấu thành của cây cỏ rất bền vững. Anh có thể đổ các thứ vào nấu như một nồi lẩu nhưng rau nào nó vẫn ra rau đấy, không ra một loại rau thứ tư được. Nhưng với hóa học thì nó ra một cái thứ tư. Một trong những cái hay của cây cỏ là như thế. Những nhà khoa học châu Âu kia còn nói với tôi rằng: “Các bài thuốc Nam mà anh đang giữ bí quyết sẽ hầu như không có giá trị gì đối với xã hội của các anh đâu.” - Họ nói thẳng thế mà.
Sau 5 ngày uống thuốc, người ung thư “ngồi chồm chỗm, cười ha hả giữa giường, nói năng nheo nhẻo”
- Ông có dám chứng minh với tây y là thuốc của ông chữa được bệnh ung thư bằng cách chữa cho các bệnh nhân ung thư đã có kết luận, Viện K đang điều trị hoặc đã “trả về”?
Ông Lâm: Cái đó tôi không dám nói trước. Vì chữa khỏi hay không thì không chỉ phụ thuộc vào thuốc của tôi. Không tiên liệu được vì ngay cả khi vào bệnh viện, cùng một bệnh nhưng cũng có người khỏi người không, nữa là chỉ một bài thuốc như của tôi. Không có bài thuốc nào được một trăm phần trăm các bệnh nhân khác nhau cả. Người ta nói còn một phần là do may rủi. Ngay ở trên Tây Tạng tôi từng sống và được chữa bệnh kia, chỉ có 60% số người được chữa lành bệnh và xuống núi thôi. Trong số 60% xuống núi đấy không biết còn bao nhiêu người sẽ chết. Còn 40% người nằm lại vĩnh viễn trong hang núi hoang lạnh. Chứ không phải là trăm phần trăm đâu.
Ông sư chữa cho tôi thì nói với tôi rằng khỏi bệnh hay không thì 80% là do mình, 10% là do thuốc, 10% nữa là do thầy thuốc thôi. Anh uống thuốc, chịu khó rèn luyện, tin tưởng khỏi thì anh qua được. Còn như mấy bệnh nhân béo ị chữa trị cùng đợt với anh kia kìa, đưa cả người hầu hạ theo, thì nó sẽ chết. Tôi để ý, lúc đó ông ta còn khỏe hơn mình nhiều, nhưng rồi ông ta chết rất nhanh. Chữa bệnh không như chữa một cái xe máy vì mỗi con người là một hệ thống phức tạp.
Cứ như cô Nhàn, xuống viện chụp phim xong, người ta bảo: thôi đi về. Về đây, ông chồng gọi tôi ra bảo em chuẩn bị xong hết cả quan tài với lễ lạt rồi, nghe nói bác là “thần y” thì bác cứ cho nhà em thuốc, kéo dài được ngày nào thì hay ngày ấy. Còn nếu không thì cũng đành. Lúc đó cô Nhàn thở còn chả được nữa. Tôi đưa cho 15 ngày thuốc, 5, 6 ngày sau, tôi đang ở trên Phanxipang thì anh chồng gọi điện bảo tôi về ngay, tôi tưởng cô Nhàn chết rồi cơ nên bảo “vâng, tôi sẽ về”. “Thôi cô ấy “đi” thì tôi cũng vuốt mắt vuốt miếc cho cô ấy” - Tôi nghĩ vậy, còn chưa chưa kịp “chia buồn” . Tôi về thì thấy cô Nhàn ngồi chồm chỗm, nói năng nheo nhẻo giữa giường, chốc chốc lại cười ha hả.
Còn vợ anh Xoan - cảnh sát khu vực ở khu phố nhà tôi đây, mổ ung thư vú, cùng với sáu cô nhưng chỉ có cô ấy là uống thuốc lá. Thấy sáu cô kia toàn người hiện đại, nhất định không uống lá lẩu, mà đi mổ, đi xạ trị, hóa trị đủ thứ nhưng chết hết rồi, cô ấy sợ quá xuống đây khóc tu tu, bảo: Chỉ còn em là đứa cuối cùng. Tôi nói với cô ấy, nếu có phải chết thì mình cũng vui vẻ bởi vì mình là người chết sau cùng, cô sợ gì cái chuyện đấy. Mình còn sống tức là chưa chết, chết tức là không biết gì nữa, thế mà chưa chi đã ầm ĩ lên rồi. Thế mà giờ cô ấy vẫn bán hàng ở chợ Cốc Lếu, lại còn béo khỏe hơn. Gặp lại, cô ấy cười: từ hôm bác nói thế em nghĩ chí lý quá. Thế là em chả nghĩ gì nữa. Mà các bà xung quanh lại bảo mày đẹp ra, thế thì còn chết thế nào được nữa.
- Người ta có câu: “Bản thân cái chết không có gì đáng sợ cả, bởi vì khi nó chưa đến thì mình không biết nó là ai, khi nó đến rồi thì mình không còn biết gì nữa”!
Ông Lâm: Đúng là thế đấy nên mình cứ vui vẻ. Nhiều người cứ bảo, chú leo núi để tìm cây thuốc, đi đến hàng tuần biền biệt trong rừng già thế có vất vả không? Mình bảo không, tôi thấy hạnh phúc vì trên núi chỉ toàn những người từ 55 trở xuống leo thôi chứ chẳng có hơn sáu mươi như mình cả, mình leo núi tức là mình vẫn khỏe. (Cười)
“Tiền thuốc của tôi không bằng tiền mua một bát phở sáng đâu. Cũng không cần lên gặp tôi làm gì”
- Sau khi báo Tuổi trẻ Đời sống đăng bài viết đầu tiên về ông, nhiều độc giả đã xin số điện thoại của ông để tìm hiểu chữa ung thư. Ông đã gặp họ ra sao?
Ông Lâm: Tôi bảo họ không phải lên đây đâu. Tôi cứ leo núi, lấy được thuốc thì tôi sẽ gửi về. Tiền thuốc không bằng một…bát phở sáng đâu. Những người chưa nhận được thuốc thì tôi dặn phải rèn luyện, cơ bắp, đau đớn cũng phải đi chứ đừng nằm bẹp, ung thư mà nằm là chết chắc. Vì con người ta phải chiến đấu với bệnh tật là chính. Như cô Nhàn cạnh nhà tôi, uống thuốc được bốn năm ngày, vẫn thấy đau như xé nhưng cố lên đồi làm cỏ chè. Cô ấy bảo: em học tập bác, thế là em thoát. Một mặt uống thuốc, một mặt lao động, không bị ám ảnh về bệnh tật, coi như cái gì đến phải đến, mình còn khỏe thì cứ làm, không phải lo nghĩ gì về nó cả.
-Uống khoảng bao nhiêu thang thì có thể bệnh sẽ thuyên giảm?
Ông Lâm: Thường thì uống đến ngày thứ 10 mà cảm thấy sức khỏe không tăng lên, người yếu đi, mệt mỏi thì thôi, tức là sẽ không khỏi được. Còn nếu uống đến ngày thứ 5, thứ 6 mà thấy thoải mái, ăn ngủ tốt hơn một chút là được.
-Bao nhiêu phần trăm số người bị ung thư được ông chữa mà bệnh có tiến triển tốt?
Ông Lâm: Cũng tùy từng đợt. Có những đợt được khoảng 50 - 55 % số người thông báo là tốt. Còn uống không có tác dụng gì là khoảng 20%. Trong khi khoảng 15 - 20 % là thấy yếu đi, tôi khuyên dừng ngay lại không uống nữa.
-Tuổi trẻ & Đời sống xin chân thành cảm ơn ông.
Wednesday, May 23, 2012 5:31:32 AM
Đối thoại về bí quyết trị bệnh ung thư với “đệ tử chân truyền” của vị thiền sư Tây Tạng
Trên “Tuổi trẻ Đời sống” các số 62 và 63, chúng tôi đã đề cập đến số phận kỳ lạ của ông Trần Ngọc Lâm, một người chiến thắng căn bệnh ung thư phổi (đã di căn) nhờ sang Tây Tạng gặp bài thuốc của một thiền sư xuất chúng; rồi ông Lâm lại được “thần y” đó truyền dạy các bí quyết thâu hái thảo dược trên núi cao để “cứu nhân độ thế”. Phóng viên cũng đã gặp trực tiếp, tìm hiểu số phận nhiều bệnh nhân ung thư có bệnh án cụ thể, trở về từ Bệnh viện K, Hà Nội để… chờ chết; qua uống thuốc của ông Lâm, bây giờ họ đã khỏi bệnh và khỏe mạnh. Dường như không còn nghi ngờ gì về việc nhiều bệnh nhân khỏi bệnh ung thư nhờ uống thuốc lá do ông Lâm hái trên nóc nhà Đông Dương - Phanxipang.
Tuy nhiên, còn nhiều độc giả liên lạc về tòa soạn với nhiều thắc mắc: ông Lâm đã sang Tây Tạng ra sao, được cứu sống bằng phương cách nào? Thuốc của ông Lâm làm từ gì, ai khỏi ai không thể khỏi, tỷ lệ khỏi bệnh theo ông Lâm thống kê là bao nhiêu phần trăm? Giá bao nhiêu tiền một liều thuốc, phải làm những gì để uống thuốc có hiệu nghiệm? Nếu thật sự ông Lâm có thể chữa được nhiều ca ung thư “kỳ diệu” như thế, sao giới khoa học Việt Nam không nghiên cứu, tham khảo, sao không gấp rút bảo tồn các thảo dược tuyệt vời đó trên núi Hoàng Liên Sơn?...
Để giải đáp những thắc mắc đó, xin gửi đến độc giả cuộc trò chuyện của chúng tôi với ông Trần Ngọc Lâm (đang sinh sống tại TP Lào Cai, tỉnh Lào Cai, điện thoại: 0977931585).
Bài 1:
Ông Lâm đã “hành xác” trên đỉnh tuyết sơn của Nóc nhà thế giới ra sao?
Ung thư phổi, đau quá, đêm nào tôi cũng đi lang thang đấm vào gốc cây, đấm vào cột điện. Cảnh sát khu vực cứ tưởng tôi là người nghiện.
- Thưa ông, dạo này sức khỏe và bệnh ung thư di căn của ông ra sao?
Ông Lâm: Tôi vừa uống thuốc vừa tập luyện. Nhưng nhiều người uống thuốc mà không thể tập luyện được. Khi đã có bệnh thì càng nằm nhiều càng dễ chết ấy mà. Không thể hy vọng là có bài thuốc tiên nào trăm phần trăm đem lại sự thần kỳ cho sức khỏe con người có bệnh ung thư như tôi đâu. Có chăng, thuốc chỉ giúp người bệnh kéo dài thời gian sống hoặc đỡ đau đớn hơn thôi. Tác dụng của thuốc còn tùy thuộc cơ địa của từng người. Thuốc cũng giống như…quả ớt, người ăn được thì thấy ngon, không ăn được thì thấy cay đến phát sợ.
- Lần đầu tiên ông phát hiện ra mình có bệnh hiểm nghèo như thế thì bệnh viện nào đã đưa ra kết luận đó?
Ông Lâm: Bệnh viện K (Ung bướu) Trung ương đấy. Trước đó tôi khám ở Viện Quân y 103 họ đã bảo là bị u phổi rồi. Sau phải sang viện K làm sinh thiết. Hai lần họ đều kết luận giống nhau: là u phổi.
- Bệnh viện trả về hay là ông tự bỏ về quê chờ chết?
Ông Lâm: Ngày đấy có điều trị gì đâu. Cũng không có bảo hiểm. Họ cũng giữ lại ở bệnh viện, các bác sĩ già họ bảo cứ điều trị, nhưng các bác sĩ trẻ họ bảo chả khả thi gì đâu, nói chung chỉ kéo dài sự sống được thêm vài tháng thôi. Nếu như thuốc tốt, chữa theo tiêu chuẩn của “lãnh đạo”, của “nguyên thủ quốc gia” thì may được một hai năm thôi. Ung thư thì cũng không có cách nào khác đâu. Rồi họ bảo là điều trị hết mấy triệu một tháng nữa. Ngày ấy tiền triệu là to lắm, bán cả họ đi cũng không được vài triệu đồng ấy chứ. Lương hồi đó có mấy chục đồng mà. Tôi không có tiền, thế là xách ba lô về quê. Về vợ hỏi, thế khám không có bệnh gì à. Tôi bảo tôi chết vì bệnh này rồi.về.
Nhưng nghĩ đến cảnh các cháu còn nhỏ quá, vợ lại yếu, nên tự bảo mình không thể chết được. Còn sống ngày nào thì cố gắng kiếm tiền nuôi chúng nó ngày ấy. Sáng ra thì vẫn đi Cửa khẩu Hà Khẩu (giữa Việt Nam và Trung Quốc, thuộc tỉnh Lào Cai, gần nhà ông Lâm) kia kiếm tiền. Tối về nhà, đêm chỉ biết rên la tựa lưng vào bà ấy. Bọn cái Linh (con gái ông Lâm) đến lúc lớn rồi mới biết là mình rên suốt đêm vì đau. Và thỉnh thoảng phải vặn người cho dịch tràn trong phổi nó ra chứ không đi hút. Vì hồi ở dưới Hà Nội điều trị, các bác sĩ ở Bệnh viện Quân y 103 bảo: cái loại bệnh này nó sẽ tràn dịch nhưng càng hút thì càng kích thích nó tràn dịch nhiều hơn. Tôi nghĩ thôi mình không hút cũng được. Ngày bé mình có học võ, giờ cố gắng mình ép dịch nó ra chứ mỗi lần đi hút dịch cũng đã mất cả núi tiền.
Từ tối đến đêm, tôi cứ đi lững thững ở ngoài đường suốt, anh em phụ trách an ninh trật tự lại tưởng tôi nghiện ma túy nên cứ theo dõi. Sau các anh ấy mới hỏi, bác bị làm sao mà cứ đi suốt đêm thế, thi thoảng lại đấm vào gốc cây, vào cột điện? Tôi nhăn nhó trả lời “tôi đau vì bị bệnh ấy mà”. Họ cười cười bảo, chúng cháu tưởng bác nghiện, nhưng lại không thấy bác hút, không thấy bác rẽ vào đâu cả, cứ lững thững ngoài đường. Lúc ấy tôi đau quá rồi, ngồi nhà thì còn đau đớn hơn, vợ con lại chứng kiến mình đau thế thì cũng khổ, nên tôi cứ đi như thế hết đêm này qua đêm khác.- Sau đó thế nào mà ông lại sang bên Tây Tạng để rồi được các nhà sư ẩn dật chữa bệnh ung thư, cứu sống nhờ bí quyết đặc biệt?
Ông Lâm: Lúc đầu là tôi mang cái thân đau ốm oặt oẹo đi làm thuê thôi, làm cửu vạn bốc vác đủ thứ hàng sang bên Trung Quốc kia, cả tháo dỡ ô tô nữa. Sau tôi đánh nhau với chủ, chủ nó thấy tôi võ giỏi nên nhận vào đoàn của nó. Cả đoàn chúng tôi đi làm ở Tây Tạng, nên lúc đầu tôi đến Tây Tạng chỉ là để làm thuê kiếm tiền gửi về cho vợ con chứ có phải là đi chữa bệnh đâu. Thế rồi lên đấy thì gặp nhà sư này, nên ông ấy chữa cho ấy mà.
- Chúng tôi cũng vừa ở Tây Tạng về, xin hỏi, ở Tây Tạng ông đến vùng đất nào?
Ông Lâm: Mọi người nếu đi theo đường du lịch thì khác với tôi. Tôi đi theo đường “thổ phỉ” - tức là đi làm thuê - thì nó mới có điều kiện vào sâu trong dân được. Còn mọi người đi theo tour thì nó khó.
Tôi đã đi khắp Tây Tạng. Đi thủ đô Lhasa, xuống La - tư, cách thủ đô 300km về phía Tây Nam. Qua đấy rồi sang tỉnh Lan Châu, hết Lan Châu rồi đến Tát-zích. Ngày đó tôi đi làm thuê, đầu tiên là sửa chữa ô tô, sau nó thấy mình lái được thì nó bảo đi vào cái đoàn xe đấy, giao nhiệm vụ vừa lái xe, vừa phụ trách việc sửa chữa xe cộ. Tôi lái công-ten-nơ cho nó, lúc nào cũng có sáu thằng thợ trên xe. Tôi đi cùng họ để thu nhặt những cái xe hỏng dọc con đường từ cửa khẩu Thanh Thủy (Hà Giang) sang giáp biên giới Tát-zích. Rồi lấy đủ thứ hàng của Việt Nam mình, nhưng chủ yếu là lấy cá khô, cá mực và thảo quả Hà Giang với Hà Khẩu này để chở vào trong nội địa Trung Quốc. Đi bằng ấy đường đã là hàng vạn cây số rồi. - Người đầu tiên chữa bệnh cho ông là người như thế nào? Chúng tôi hình dung ông ấy phải râu tóc dài, phong cách bí hiểm, ở trong các dãy tuyết sơn vĩnh cửu…
Ông Lâm: Người chữa bệnh cho tôi là nhà sư áo vàng bình thường thôi. Người ông ấy khô như quả bầu, không râu tóc gì. . Bạn lên Tây Tạng rồi, thấy các nhà sư trên đó thế nào thì sư phụ của tôi cũng giống hệt như thế đấy.
Được nhà sư Tây Tạng dùng “khổ nhục kế” trong hang đá ở âm 5 độ C
- Ông đã gặp nhà sư đó như thế nào?
Ông Lâm: Độ ấy ở Tây Tạng có vụ đổ núi băng. Thế là tắc đường. Tôi chở hàng từ Lasha đến La – Tư, La – Tư là một thị trấn nhỏ, nằm ở độ cao 5.200m so với mực nước biển. Cách Lasha 300 cây số về phía đông nam. Khi chở hàng sang là mùa đông, cái núi băng nó lở, lấp mất đường, nê mới dừng ở La - Tư để đợi công binh đến thông đường. Tôi đi lang thang ở thị trấn đó thì gặp nhà sư ấy. Chỉ là vô tình gặp thôi. Ông ấy nhìn tôi rồi bảo anh sắp chết rồi. Tôi gật đầu bảo vâng. Ông ấy nói qua một cậu người Hán, cậu này mới nói lại với tôi bằng tiếng Quan Thoại, “ông ấy hỏi sao sắp chết mà vẫn đi làm?” Nói . Tôi bảo mày dịch cho ông ấy hộ tao là tao còn con nhỏ, vợ thì yếu nên tao phải đi làm, chứ tao cũng biết là tao sắp chết rồi. Ông sư hỏi có muốn chữa không? Tôi trả lời có muốn chữa chứ. Ông ấ lại hỏi thế có phải người Trung Quốc không? Khi tôi nói tôi là người Việt Nam thì ông ấy vui lắm, vì ông ấy rất quý người Việt. Thế là ông ấy tình nguyện chữa cho tôi thôi. Ông sư ấy đưa tôi về núi chữa bệnh. Thầy trò leo lên độ cao có lẽ phải hơn 6.000m so với mực nước biển. Vì là lên trên đó tôi thấy rất khó thở, thấy ở đâu cũng toàn băng với băng, nên tôi đoán phải cao hơn La Tư khoảng sáu bảy trăm mét. Thầy trò lên đấy, ở trong ngôi chùa nửa nổi nửa chìm rất u tịch. Và việc chữa bệnh rất công phu.
- Nhà sư đó chữa bệnh theo phương pháp nào?
Ông Lâm: Bằng cây cỏ thôi. Lúc tôi lên đã thấy ông ấy có sẵn lá lẩu rồi. Tôi cứ đun và uống. Uống độ một tuần thì ông ấy đổi phương pháp khác. Ông vừa cho tôi uống thuốc, vừa cho đi theo để lấy cây cỏ. Một tuần đầu tôi đi không được vì đang quen lái xe, nên hễ đi bộ là không đi được, lại trong điều kiện nhiệt độ dưới 0, không khí loãng, khổ sở lắm. Sau này tôi mới biết đó là cách ông sư ấy rèn luyện cho tôi một phương pháp tập luyện trị bệnh. Cách cái hang phải đến 10 cây số có một cái vách băng thấp hơn, ấm hơn. ngày ngày ông ấy bắt tôi phải đi cùng với những bệnh nhân khác, xuống đó lấy nước đóng băng lên để làm nước uống. Người ta phát cho những miếng vải làm bằng vỏ của loại cây liễu lùn. Mỗi người miếng vải to, xuống vách băng đó lấy hòn đá (khối băng), bọc lại, cho lên vai vác về. Giày dép thì bằng cỏ ô la. Đầu tiên đi cả ngày tôi chỉ vác được một hòn bé tí, sau rồi vác khỏe dần lên, cục băng tuyết cõng trên vai cũng to dần.
Ở đó phải âm sáu, bảy độ, khí hậu cực kỳ khắc nghiệt nên có những người bỏ cuộc, không đủ can đảm lao động chữa bệnh. Tôi thì cứ kiên trì, vì thứ nhất là chả có việc gì làm, mình lại là dân lao động, mình phải cố đi bộ để còn lấy được thuốc, còn có hy vọng trở về với vợ con. Đi rách hết giày, rách hết lớp cỏ thì cơ thể tôi cũng thích nghi dần với băng tuyết lạnh, có thể đi thẳng chân trần xuống đất lạnh được. Việc vác các khối băng cũng vậy, lâu ngày tấm vải trên vai bợt dần. Đến lúc vải rách thì tôi cho thẳng đá lên vai vác được. Lúc đầu cũng thấy lạnh nhưng sau thì quen dần, thấy chỉ hơi hơi lạnh thôi. Sau tôi mới biết sư phụ đang rèn luyện cho tôi. Đó chính là phương pháp chữa bệnh.
Ngay cái việc ăn uống cũng vậy, đầu tiên họ cho tôi ăn hai bữa như những người khác, ăn kham khổ lắm, ăn hạt đậu răng ngựa, to bằng ngón tay cái. Thêm một ít hạt kê, với một ít đại mạch nấu cháo, với lại ăn toàn rêu đá nữa thôi chứ không có gì khác đâu. Rêu đá nấu muối lõng bõng lắm. Đầu tiên thì ngày hai bát to, sáng một bát, chiều một bát. Sau họ rút dần còn nửa bát, sau nữa thì mỗi ngày chỉ được ăn nửa bát vào bữa trưa. Ăn ít đi nhưng vẫn phải đi lấy cây cỏ, vác đá quần quật như thế. Tôi đi mãi thành ra quen. Giờ cũng thế, tôi vẫn đi, vẫn leo núi Phan Xi Păng ngày nọ qua ngày kia như bình thường, vẫn một ngày ăn một bữa trưa thôi. .
Sau này, ông sư kia dạy tôi thế này, sau tôi nhận ra nó là phương pháp rất là khoa học, đó là bí quyết ngồi thiền. Ông bảo rằng: con phải làm sao cho đầu óc không nghĩ ngợi đến cái gì nữa, thả lỏng nó ra. Khi năng lượng tiêu thụ ở mức thấp nhất thì sẽ không cảm thấy đói, không cảm thấy mệt. Tôi cũng bắt chước làm như thế, rèn luyện, hơn một tháng sau thì tôi cũng có thể ngồi thiền cả ngày được, mà không thấy đói gì cả.
- Nhà sư chữa bệnh cho ông, có thể vì lòng nhân ái, nhưng điều ít ai tin được là ông ta có thể trao truyền “bí kíp” thâu hái và bào chế thảo dược cho ông!
Ông Lâm: Trước, tôi cứ rên la dựa vào bà vợ suốt đêm, tưởng là chết. Vợ tôi đúng là tận khổ, nuôi ba đứa con, lại suốt đêm làm chỗ dựa cho chồng, tôi thì cứ kêu ầm ầm, vợ không tài nào ngủ được. Năm 1991 tôi tưởng là mình sẽ chết. Nhưng rồi tôi ở trên hang, cứ rèn luyện theo ông sư Tây Tạng như thế, hóa ra cơ thể lại tự điều chỉnh và đuổi được bệnh tật đi.
Sau khi rèn luyện một thời gian thì ông ấy dẫn tôi đi lấy cây thuốc. Sở dĩ ông dạy cho tôi, cũng chính vì mình là người Việt Nam. Không rõ vì lý do gì mà ông rất quý người Việt, quý một cách đặc biệt. . Ông dẫn tôi cùng đi lấy thuốc, cây thuốc lại mọc thấp hơn cái hang núi mà tôi và vị sư ở. Tôi đoán nó chỉ cao vào khoảng 4.000 đến 5.000m so với mực nước biển thôi. Vì xuống chỉ ở độ cao đó thì mới có cây cối, có liễu, có tùng, có cây lâm san chứ còn ở độ cao như trên hang núi chúng tôi ở thì toàn băng đá với rêu thôi.
Lấy thuốc ở dưới thấp xong lại mang ngược lên trên hang núi bào chế rồi uống. Thuốc gồm toàn là cây cỏ thôi. Tôi ở đấy chữa bệnh liền tù tì với ông sư khoảng 4 tháng. Ấy là tôi phỏng đoán thế chứ ở trên đấy, đầu óc mụ mị đi, chả có lịch có liếc gì cả, mà Ngày đấy . Mà trên ấy thường là ngủ sớm dậy sớm cho nên đồng hồ sinh học cũng thay đổi, tôi không chú ý thời gian nữa. Thứ hai là người ta quan niệm giờ chết của con người nó rơi vào khoảng 1h đến gần sáng, và đa số những người có bệnh đều chết vào lúc nửa đêm về sáng. Về sau tôi lên núi, tôi mới hỏi các nhà khoa học, người ta bảo đúng vì nhịp sinh học lúc gần sáng là thấp nhất nên người bị bệnh là hay chết vào lúc đó . Ở Tây Tạng họ ngủ rất sớm, mà thức dậy cũng rất sớm. Có hôm hai, ba giờ sáng họ đã đi làm, đã lôi những con bò Tạng rồi cừu dê đi lên núi rồi. Tôi cũng bắt chước họ như thế, nên về sau tôi leo núi cũng chẳng cần đèn đóm gì nữa.
-Nhưng mà chỉ có bốn tháng ông ở trên núi Tây Tạng mà đã được chữa khỏi ung thư phổi ư?
Ông Lâm: Tôi ở liên tục trên đó chỉ khoảng bốn tháng. Rồi khi xuống núi, tôi tiếp tục đi lái xe thuê, thì lúc nào rỗi thì lại lên núi với nhà sư. Có lúc lên nửa tháng, có lúc lên một hai tuần, tôi cũng không để ý, không nhớ số lần lên núi nữa. Nhưng giữa kì chuyển hàng nào tôi cũng đều lên núi chữa bệnh.
- Tổng cộng thời gian ông sống ở Tây Tạng là bao nhiêu năm?
Ông Lâm: Tôi ở trên đó, đi qua đi lại suốt từ năm 1992 đến tận năm 1998 cơ mà. Sau năm 2002, tôi lại sang đó ở vài năm nữa.
(còn nữa)
Wednesday, May 23, 2012 5:27:45 AM
Bài 3:
Mọi người đều có thể tự mình… “chiến thắng” bệnh ung thư!
Xem bài tại đây: http://www.tuoitredoisong.vn/Default.aspx?id=79#t=1262
Luôn chân thành, luôn rưng rưng xúc động khi nói về nỗi đau bệnh tật của những kiếp người không may mắn, bà Hồ Thị Thu giống một nhà tu hành hơn cả một nhà tu hành. Hơn hai chục năm qua, chiến đấu và chiến thắng bệnh ung thư vú đã di căn, bà Thu tự coi mình đang sống một kiếp khác do môn học về năng lượng sinh học ban tặng. Bà thấy cuộc đời vô ưu, dù sáng mai ra mình vĩnh viễn thì cũng đã quá thanh thản rồi. Nguyện dâng hiến cuộc đời mình cho người cùng khổ, bà ăn chay, sống thanh bần trong vườn nhà để đón tiếp người bệnh. Không lấy của ai dù chỉ một đồng bạc lẻ, một lời cảm ơn chân chất tự đáy lòng, hay một gói chè mạn xứ Bắc mang vào...
Bà vẫn đi làm cỏ điều, tưới cây, trồng rau, xách nước cho bò uống. Đôi khi việc nặng nhọc nào đó lại làm bà ho ra một bụm máu. Có lúc bị cơ quan chức năng phạt vì chưa kịp báo cáo nốt danh sách vài người bệnh nặng vừa “bò” đến “tạm trú”, bà Thu lại phải xách mấy đôi gà đi bán lấy tiền “nộp”. Đôi khi, vì thoáng tủi hờn “gian nan con đường làm việc thiện” đã khiến bà Thu nản chí. Thoáng thế thôi. Bởi bà luôn có niềm tin vào việc làm tử tế của mình có thể cứu giúp nhiều nghìn người khổ sở vì bệnh tật khác.
Cuộc trò chuyện của PV TTĐS với bà tiên áo trắng chữa ung thư Hồ Thị Thu diễn ra trong tiếng lá điều rơi xao xác giữa những dãy nhà lợp phibroximang lúp xúp, đơn sơ mà vợ chồng bà đã ki cóp xây làm nơi ăn chốn ở cho mấy chục nghìn lượt bệnh nhân nghèo:
“Phần đời còn lại của tôi, không có gì quan trọng hơn việc giúp cho nhiều người được khỏi bệnh”
- Thưa bà, một bệnh nhân muốn đến nhà bà học thiền chữa bệnh, họ cần phải có điều kiện gì?
Bà Hồ Thị Thu: Cần duy nhất một thứ là ghi tên thôi, rồi vào học. Tôi không nhận một đồng thù lao hay bất cứ thứ vật chất nào. Tôi chỉ tìm cách giúp họ khỏi bệnh. Họ giải được bệnh là niềm vui lớn nhất của tôi rồi. Nhà cửa của tôi tuềnh toàng, ai đến cũng sẽ hiểu ngay mà (cười).
- Thật ra thì bà giúp họ, nhưng bệnh khỏi hay không là do nỗ lực của chính họ, niềm tin và sự công phu của chính họ.
Bà Hồ Thị Thu: Trong bản tham luận tại Hội thảo về Năng lượng sinh học trị bệnh cứu người diễn ra tại Buôn Ma Thuột hồi tháng 3/2012, tôi có nói: Người không thành công trong chữa bệnh bằng năng lượng sinh học là người không có lòng kiên trì, không hiểu thấu được môn học. Nên họ dễ bỏ cuộc giữa chừng. Có những người đi học chủ yếu vì tò mò. Bệnh của họ nhẹ, nên khi bớt được một số bệnh thì họ lao vào lo cơm áo gạo tiền, nên không chú tâm và nhụt chí trong luyện tập. Họ mất cả niềm tin để tiếp tục chống chọi với bệnh tật. Trong khi niềm tin và công phu luyện tập là điều quan trọng bậc nhất để loại trừ mọi tác nhân gây bệnh.
Tôi thích nhất câu “Giữ lấy trái tim đòi sống yêu đời” trong bài hát “Tình Ca”. Nên trong phần đời còn lại của tôi, không gì quan trọng hơn việc có nhiều người được khỏi bệnh, được sống an bình. Càng nhiều người bớt bệnh thì tôi càng vui. Việc nhiều người có bệnh phải đến với tôi, để tôi phải phục vụ họ mà không lấy công sá gì lại càng khiến tôi thấy thanh thản hơn. Quan trọng nhất vẫn là việc tôi phải cố gắng hết sức để giúp người ta chữa bệnh, để người ta có thể nở nụ cười “chia tay” tôi (về nhà tự ngồi thiền) càng sớm càng tốt.
- Chúng tôi và chắc chắn sẽ có rất nhiều người khác còn hoài nghi với việc môn học mà chúng ta đang nói có thể giúp người bệnh ung thư kéo dài sự sống nhiều năm, thậm chí khỏi cả bệnh.
Bà Hồ Thị Thu: Không thiếu những người đã khỏi bệnh nhờ môn học này. Trong “trường” của tôi, những người hiện đang giúp tôi giảng dạy, mở luân sa, trị bệnh, đều là những bệnh nhân mà bệnh viện trả về. Nhưng còn sợ cộng đồng xa lánh nên đôi khi họ chỉ nói rằng mình có bệnh hiểm nghèo. Ví như ông Vinh, ông nói mình bị xơ gan cổ trướng, bị chai gan. Nhưng thật ra là ung thư gan. Gan chai cứng đi rồi nên tất cả thức ăn độc hại, rồi máu thừa đã bị lưu lại gan và gan hầu như không hoạt động nữa. Thế mà ông ấy đã sống thêm được 7 năm rồi đấy. Hay như bệnh nhân Hoàng Thị Vũ (SN 1977) bị ung thư tủy, bệnh viện trả về. Lúc mới đến, nó đến đau ghê lắm, da tái, mặt mày hốc hác, phù thũng, ngất lên ngất xuống, lúc nào cũng phải có hai người khiêng mới di chuyển được. Ai cũng tưởng nó sẽ chết trong ít ngày nữa thôi. Thế mà qua học tập, bây giờ sống khỏe mạnh, mập và đẹp hơn cả thời con gái. .
Trong khoa học có “tâm linh” nhưng không có gì là “bí ẩn” cả
- Một bác sỹ tây y mà nghe chuyện kiểu này thì họ sẽ rất rất khó tin.
Bà Hồ Thị Thu: Trước đây tôi đến với môn trường sinh học với tâm thế của người có bệnh đi vái tứ phương. Tôi cứ tập… cầu may thôi. Ngồi thiền rồi nghe trong người có phần nhẹ nhõm. Nhưng tôi vẫn chưa tin, vẫn uống thuốc tây. Đến lúc thấy mình khỏe ra thật, tôi đã từ từ bỏ không dùng thuốc.
Luyện tập trong 14 tháng 21 ngày, tôi từ hơn 30kg tăng lên đến…53 kg. Khi thấy đã hoàn toàn khỏi bệnh ung thư, tôi được thầy cho học lớp cao hơn, sau đó tôi về quê mở lớp từ năm 2000. Tôi cũng nghiên cứu thêm tài liệu sách vở do các GS, TS nổi tiếng trong lĩnh vực này viết. Và tôi nhận thấy, trong khoa học cũng có tâm linh.
- Trong khoa học có tâm linh. Chuyện này cụ thể ra sao, thưa bà?
Bà Hồ Thị Thu: Tất cả ung bướu chưa có hóa chất, đến với trường sinh học, cơ hội lành bệnh là rất nhiều. Khi truyền hóa chất với các loại chất độc vào cơ thể người bệnh thì “vi khuẩn” chết, nguyên nhân gây ung thư được loại trừ một chút, nhưng tế bào của con người cũng sẽ tiêu tan. Hóa chất bắn vào sẽ giết chết cả những tế bào tốt, tế bào khỏe. Thế là người bệnh hai lần kiệt quệ, vì bệnh ung thư và vì hóa chất trị ung thư. Người chưa truyền hóa chất vào cơ thể, nếu kiên trì tập, năng lượng sinh học sẽ cân bằng lại âm dương trong cơ thể, cân bằng nhịp sinh học, chống rối loạn thần kinh, sắp xếp lại nhiều hoạt động sống, giúp cơ thể khỏe mạnh.
Tôi là một trong những người đầu tiên giảm được tổn thương tế bào do ung thư. Nên tôi dám khẳng định rằng: nếu kiên trì luyện tập thì nhất định người bệnh ung thư (và một số bệnh hiểm nghèo khác) sẽ thành công trong trị bệnh, sẽ tự cứu được mình. Cả xã cát Hiệp và Phù Cát ai cũng biết tôi đã tuyệt vọng nằm chờ chết ra sao, rồi họ lại chứng kiến tôi sống được nhờ trường sinh học. Tôi đã tự thấy sức mạnh tuyệt vời của nguồn năng lượng này, tôi muốn giúp mọi người thấy điều đó và cũng được lành bệnh. Khi chết đi không ai mang theo được vật chất, may ra chỉ mang được niềm vui sướng rằng mình đã sống tử tế, đã giúp đỡ người khác khỏi cơn đau khổ và chết chóc. Tôi đã mang cái đức của mình ra giúp đời, như là một cách bày tỏ niềm tri ân với đức tổ sư.
Khi cận kề cái chết, đau đớn ngồi thiền tìm cách cứu mình, tôi đã ngồi trước bức ảnh của đức tổ sư màthề: nếu có được năng lượng tốt, sống sót, tôi sẽ dâng cả cuộc đời mình để giúp mọi người khắp Việt Nam này thoát khỏi bệnh tật. Tôi cũng không ngờ, đến nay, lời nguyện đã dần trở thành sự thật. Có lẽ tôi có duyên nghiệp với trường sinh học, hy sinh cả đời cho trường sinh học. Từ ngày nhận chìa khóa mở luân sa cho người khác ngồi thiền chữa bệnh đến nay, 13 năm trôi qua, tôi đã tạo nhiều niềm vui lành bệnh cho nhiều người. Thế nên tôi thanh thản lắm, nếu đêm nay tôi phải ra đi vĩnh viễn (chết), tôi cũng không hề luyến tiếc.
Điều nguy hiểm nhất ở những người học thiền trị bệnh
- Thuốc tiên thuốc thánh nào cũng thế thôi, sẽ có nhiều người dùng mà không hề khỏi bệnh. Bà đã từng ngậm ngùi chia tay nhiều “môn đệ” kiểu đó không?
Bà Hồ Thị Thu: Tôi không tu nhưng ăn chay đã gần 20 năm nay. Tôi chứng kiến nhiều người khi đến chỗ tôi, tập luyện tốt, kiêng khem tốt, nhưng khi về quê thì họ lại không kiên trì kiêng ăn uống. Đó là nguyên nhân khiến họ không khỏi được bệnh. Khi họ ăn thịt cá, thức ăn tăng trọng và các loại hóa chất trong thịt động vật sẽ làm chân tay đau nhức, gây đau đớn khi ngồi thiền. . Thế là, thay vì thanh tịnh trong lòng, trong chế độ kiêng khem và điều độ để có thể ngồi thiền suốt một tiếng đồng hồ; thì bây giờ vì ăn thịt cá, vì quan hệ chồng vợ nên họ không ngồi thiền lâu được. Dần dần họ rút ngắn thời gian ngồi thiền hoặc bỏ qua việc ngồi thiền. Thế là họ đánh mất cái tinh - khí - thần, các yếu tố tạo nên năng lượng và sức khỏe cho người bệnh.
- Bà vừa nói, người tập thiền trị bệnh không được quan hệ tình dục?
Bà Hồ Thị Thu: Tôi chỉ nói với người bệnh nặng như ung thư. Khi sức yếu quá, thì không nên làm việc đó. Còn người ung thư mà chịu tập, sức khỏe tốt thì không cần kiêng. Chứ tập không đến nơi đến chốn, mà lại quan hệ là mất đi yếu tố “tinh” - bị yếu lực. Khi cơ thể yếu thì “con vi trùng” sẽ tấn công. Khi yếu lực là biết bao nhiêu hoạt động sống bỗng dưng trở thành con đường để bệnh tật xâm nhập. Khi ăn, uống, hít thở, tiếp xúc với vi khuẩn cực độc, lực trong cơ thể không đủ để đào thải, ngăn chặn độc tố là sức người yếu đi ngay. Nếu biết giữ gìn và luyện tập, mỗi ngày ngồi ba lần để năng lượng trường sinh học phủ lên mình. Lớp năng lượng dự trữ đó cũng như tấm áo giáp giúp ngăn chặn bệnh tật vào cơ thể.
Người đã truyền hóa chất trị ung thư rồi, khi tập nó “đẩy” độc tố ra, mùi hôi ghê lắm!
- Như bà nói, người bị ung thư, đã đụng dao kéo phẫu thuật, đã truyền hóa chất là tập ngồi thiền chữa bệnh bằng năng lượng sinh học không có nhiều tác dụng nữa?
Bà Hồ Thị Thu: Người mổ và truyền hóa chất thì phải học và luyện tập dài ngày hơn, tôi phải động viên và phụ lực thêm cho họ nhiều hơn, để đẩy giúp họ vượt qua “cái dốc cao” đó. Tôi cứ hình dung như họ kéo cái xe quá nặng, sức yếu vì hóa chất và bệnh tật rồi, tôi phải đẩy và kéo giúp họ, vượt qua đỉnh dốc, rồi họ sẽ tự đẩy xe và đi con đường của họ được. Những người truyền hóa chất trị ung thư rồi, những “độc tố” bị “đuổi” bằng lực của mình, nó hôi ghê lắm.
- Vậy là lúc đầu bà Hồ Thị Thu cũng chưa tin vào việc có thể chữa bệnh nan y bằng năng lượng sinh học thông qua việc “ngồi im như tượng”?
Bà Hồ Thị Thu: Hồi đó tôi đau quá, cơ thể không chịu được, muốn nổ tung, tôi không biết làm sao dành phải ngồi thiền, rồi tôi cảm thấy năng lượng giúp mình êm nhẹ. Tôi ngồi từ sáng đến trưa, ăn xong lại ngồi từ trưa đến tối. Thật không ngờ, ngồi mãi, luân sa quay, năng lượng vào, giải được bệnh cho tôi. Khi bớt bệnh, tôi còn chưa tin, tôi đi xét nghiệm thì các bác sỹ kinh ngạc ko hiểu vì sao tôi sống sót. Nay tôi đã tăng lên đến 66 kg, nặng gần gấp đôi hồi đóng quan tài chờ chết. Nên tôi tin năng lượng trường sinh học sẽ trị được bệnh ung thư..
Bà Thu có dám tuyên bố với giới khoa học là mình có khả năng chữa khỏi ung thư không?
- Bà và cả xã hội đều biết, người ung thư quá khổ sở, hóa chất đắt đỏ, bệnh viện chật chội, cơ chế đầy bất cập, đặc biệt là càng hóa trị, xạ trị thì người ta càng nhanh chết và chết trong đau đớn hơn. Sao bà tin là mình có thể giúp người khác chữa khỏi bệnh ung thư bằng năng lượng sinh học? Bà đã chữa cho nhiều người rồi, sao mà bà không làm trắc nghiệm để giúp muôn ngàn người bệnh kia một con đường sáng hơn?
Bà Hồ Thị Thu: Cái khó nhất hiện nay mà tôi đã nêu trong các cuộc tranh luận hội thảo, là tôi đang đi xin để có một tư cách pháp nhân - một sự chính danh để trị bệnh cứu người. Tôi muốn được sống và làm việc theo pháp luật của nhà nước. Chứ từ trước tới giờ tôi cứ phải làm việc nhân đức một cách thầm lặng. Tôi sẵn sàng giúp đỡ tất cả mọi người để họ trị bệnh, họ khỏi. Và tiếng nói của người khỏi bệnh sẽ thuyết phục hơn là tiếng nói của tôi
- Xin được tranh luận, nếu mục đích của bà không vụ lợi gì cho cá nhân mình. Thì ngại gì mà bà sợ mang tiếng. Trong khi nếu bà mạnh dạn thì bà sẽ cứu được rất rất nhiều người, nếu thật sự môn học của bà có tác dụng chữa bệnh hiểm nghèo!
Bà Hồ Thị Thu: Áp lực đây không phải là tiếng tăm hay vật chất. Mà từ phía cơ quan chức năng ở địa phương nơi tôi sinh sống. Tôi đã viết đơn, xin phép nhiều lần, nhưng họ không cho tôi thành lập câu lạc bộ chữa bệnh bằng năng lượng sinh học.
Đấy là chưa kể áp lực từ phía người bệnh. Nếu người ta không luyện tập căn bản, không tin tưởng tuyệt đối vào môn học thì sẽ không kiên trì luyện tập. Bệnh ung thư đau chát chúa nên nhiều người đã lén uống viên giảm đau. Đã không tin, đã uống thuốc khi tập thì rất khó có kết quả tốt. Tôi không sợ điều tiếng gì đâu, nhưng rõ ràng: người bệnh có bớt bệnh hay không là do bản thân họ chứ không phải nguyên nhân từ sự tận tụy lo toan cho họ của tôi!
Nếu người bệnh biết thay đổi con người mình, biết có tâm thanh thản vui vẻ, bình yên, thì bệnh sẽ thuyên giảm, tiến tới khỏi được. Thiện ác đều do cái tâm mà ra, Tâm họ không ổn định thì “thầy thuốc” có nói trời cũng không bao giờ bớt bệnh được. Bởi thế, tôi không dám nói trước điều gì với những người không có quyết tâm và niềm tin trị bệnh tự cứu mình thông qua ngồi thiền.
Còn cái Tâm ghen ghét, đố kỵ và tham tiền vàng, thì không bệnh nào khỏi được!
- Có lẽ, như bà nói lúc đầu, ngoài khoa học ra, cái Tâm của người bệnh có ý nghĩa sống còn trong trị bệnh?
Bà Hồ Thị Thu: Ví dụ như người nào còn giữ cái ghen ghét đố kị thì không bao giờ giải quyết được bệnh tật. Vì ngồi thiền mà cứ nghĩ việc ở chỗ khác thì không hiệu quả được. Tham sân si phải tránh, cái tâm phải thanh thản, không thì bệnh tật sẽ theo đó mà vào. Thiền là đi tìm cái chân thiện mỹ, tìm cái tính thiện mà mình đã có từ thuở ông bà sinh ra(Nhân chi sơ tính bổn (bản) thiện). Làm việc quá sức, giành giật, lúc nào cũng tính đến tiền là một điều tai hại, vì thế nên mới có chuyện cuộc sống vật chất đi lên chừng nào thì sức khỏe của không ít người đi xuống chừng đó. Có người bảo tôi: chúng ta chưa xuống đất thì làm sao mà không ham tiền được? (cười). Tiền bạc làm cho con người khốn đốn khổ sở là vì thế. Đấy là chưa kể độc tố từ thức ăn thời buổi mới tràn vào cơ thể con người.
- Bà đã nhận được nhiều bằng khen, giấy khen của cơ quan chức năng. Bà cũng đã được cấp phép hành nghề. Không hiểu mong muốn trị bệnh cứu người của bà và cộng sự bây giờ còn khó khăn gì nữa?
Bà Hồ Thị Thu: Tôi đi các nơi thì người ta rất quý mến. Đi mở lớp ở các tỉnh, hàng nghìn người theo học và quá nhiều người khỏi bệnh, cả những bệnh nan y bệnh viện đã trả về. Ra Phú Thọ, lên Đăc Lăc ai cũng thương. Họ thương ở chỗ mình…thương họ thật lòng. Tôi dùng hết sức, dùng tất cả những gì tôi biết được qua trường sinh học để giúp họ trị bệnh. Tôi chia sẻ nỗi sân si của họ, giúp họ thoát ra khỏi những bon chen, bực bội hay thất bại trong cuộc sống. Giờ tôi là Phó Chủ tịch kiêm trưởng ban huấn luyện của Hội Tâm năng dưỡng sinh tỉnh Đăc Lăc, chúng tôi có tài khoản, có con dấu, có lương nhà nước cho anh chị em hẳn hoi.
Nhưng ở Bình Định thì khác. Tôi chỉ ước mơ có được tư cách pháp nhân ở Bình Định, để câu lạc bộ Tâm năng dưỡng sinh ứng dụng trường sinh học trị bệnh cứu người của tôi được thành lập tại xã Hội Vân này. Để tôi yên tâm giúp cho bà con lành bệnh. Chứ sống với sự giúp đỡ nhiều nghìn người này mà không có tư cách pháp nhân thì khổ lắm. Và tôi đã nhiều lần xin nhưng huyện Phù Cát chưa bao giờ trả lời. Cả Trung tâm Tâm năng dưỡng sinh của Đăc Lăc, nơi tôi làm Phó Chủ tịch Hội, người ta cũng mất cả năm trời qua đi lại giữa Đăc Lắc và Bình Định để tìm gặp, đưa đơn, xin cho thành lập CLB Tâm năng dưỡng sinh ở Phù Cát. Nhưng kết quả vẫn là… chưa được.
“Cứ ông này chỉ ông kia, ông kia chỉ ông nọ. Cứ như vậy họ chỉ mình đi hoài. Cứ vậy thôi”
- Vậy suốt nhiều năm bà và nhiều người đưa đơn, cơ quan chức năng tỉnh Bình Định và huyện Phù Cát trả lời ra sao?
Bà Hồ Thị Thu: Họ không trả lời, họ chỉ nói là chờ. Cứ ông này chỉ ông kia, ông kia chỉ ông nọ. Họ chỉ tôi đi hoài. Cứ vậy thôi.
- Bà như người tu hành, chỉ duy nhất một ao ước được trị bệnh cứu người, phương pháp của bà nếu không có hiệu quả thì cũng không tổn hại gì đến ai, bà không lấy gì của ai, không tuyên truyền điều gì sai trái, tôi nghĩ cái Tâm của bà chẳng ai trách được. Cũng chẳng ai ngăn cấm được, nếu đứng ở góc độ luật pháp!
Bà Hồ Thị Thu: Khi không được thành lập câu lạc bộ, bất lợi dữ (nhiều) lắm chứ. Ví dụ hiện giờ tôi phải báo cáo liên tục về tình hình “tạm trú tạm vắng”. Một tuần, thứ 7 báo cáo, chủ nhật báo cáo, đếm từng người một để rồi thứ 3 lại đi báo cáo. Thừa ra một người nào chưa kịp báo cáo là họ phạt tiền triệu. Tôi đâu có lấy tiền của ai đâu, nên để có thể tuân thủ được điều đó và tránh được phạt là khó khăn lắm. Nếu họ (huyện) công nhận có ban vận động của câu lạc bộ , thì sẽ qua tỉnh để xin chính thức thành lập câu lạc bộ. Nhưng huyện đã “giam” đơn, hồ sơ của tôi ở đó nên không làm sao đệ mong muốn lên tỉnh được.
- Vậy là, cái mắc của bà bây giờ chỉ là tuân thủ quy định về tạm trú tạm vắng của địa phương. Và, suốt đời trị bệnh cứu người, không tơ hào ngụm nước đồng xu nào của ai, mà gặp cảnh như vậy, chắc bà tủi hờn lắm?
Bà Hồ Thị Thu: Tôi ngồi thiền, thanh thản lắm nên cũng không tủi hờn gì. Tôi chỉ thắc mắc, cũng là nước Việt Nam, là công dân tuân thủ luật pháp như tôi, sao tỉnh Đăc Lăc người ta công nhận cho thành lập Hội Tâm năng dưỡng sinh, cho tôi làm Phó Chủ tịch Hội. Tỉnh, Mặt trận tổ quốc Việt Nam, trung tâm Tiềm năng con người ngoài Hà Nội đều tặng bằng khen cho tôi. Mà ở Bình Định tôi xin làm câu lạc bộ tại xã cũng không được, bao năm rồi, bao đơn từ rồi mà không trả lời cho tôi biết lý do. Từ năm 2003 đến giờ, tôi rất khốn đốn. Bị gọi lên gọi xuống, bắt cam đoan, tường trình, kể cả mạt sát tôi rồi đòi phạt tôi mấy triệu đồng. Người Đăc Lăc, người Phú Thọ thương tôi quá mới mời tôi đi phụ bệnh ở quê họ. Rồi cho tôi làm hội viên danh dự, hội viên chính thức, rồi Phó Chủ tịch kiêm trưởng ban huấn luyện, có lương cho tôi hàng tháng, lương nhà nước ở tỉnh của họ!
- Thay mặt độc giả TTĐS, xin cảm ơn bà vì cuộc trò chuyện chân tình!
Wednesday, May 23, 2012 5:24:09 AM
Kinh ngạc với những “biệt dược” và “thần y” chiến thắng “án tử hình ung thư” !
Nhóm PVTTĐS thực hiện
http://www.tuoitredoisong.vn/Default.aspx?id=78#t=1182
Bài 2: Chuyện nhiệm màu của những người từ cõi chết trở về
Việc bà Hồ Thị Thu cầm bệnh án ung thư vú đã di căn ra toàn bộ ổ bụng, về quê chờ chết rồi “bỗng dưng” sống khỏe lúc đầu khiến nhiều người dân ở Phù Cát hết sức ngạc nhiên. Họ kéo đến xem người đàn bà được thần Phật phù trợ rất đông. Xóm mạc ngạc nhiên một, thì chính bà Thu lại ngạc nhiên đến mười phần. Hơn ai hết, bà từng thấy rõ tử thần nằm chung giường với mình, túc trực ở đầu giường của mình. Gia đình đã tính chuyện sắm quan tài loại gì, có cái gì ngon cái gì đẹp cho bà Thu ăn và mặc trước khi ra đi, tạm gọi là an ủi “ngậm cười nơi chín suối”. Thoắt thế mà đã 22 năm trôi qua, cô Thu năm xưa đã lên bà, tóc bạc da mồi rồi mà cô vẫn sống khỏe. “Văn võ bá quan” đi trị bệnh cứu người cùng bà, hầu hết toàn người ung thư với bệnh viện trả về để chết. Sáu mươi nghìn người đã qua học ở “trường”, tất cả đều được bà Thu trực tiếp giảng bài rồi bà cùng vài người thân tín lần lượt mở từng luân sa cho họ, ngồi thiền hết ngày dài lại đêm thâu cùng với họ.
Ngồi thiền như “Phật sống” mỗi ngày
Thấy vậy, có người không hiểu ngậm ngùi thương cảnh “vác tù và hàng tổng”, mình vì mọi người đến tận cùng của bà Thu. Rằng: bà phải nói ra rả cả ngày, phải đăng ký tạm trú tạm vắng và có thể còn chịu nộp phạt nếu ai vi phạm cho tất cả bệnh nhân. Thế mà nói xong, bà lại ngồi bất động nhiều tiếng đồng hồ cùng biết bao nhiêu là người đến từ nhiều dân tộc, nhiều vùng miền, nhiều tầng giới khác nhau. Nghe vậy, bà Thu mỉm cười cảm ơn, rằng “tui ngồi thiền là cách để tui tự cứu tui. Không ngồi thiền là tui chết. Không làm việc thiện thì tui cũng chẳng còn là tui nữa”. Rồi bà cười, cái cười đặc chất nông dân ở miền đất võ trời văn Bình Định. Quê bà cát trắng nhức mắt, nghèo đến tận cùng. Nhà bà cũng nghèo nhất nhì trong khu vực, lại thêm tán gia bại sản do ổ bệnh trong người bà đột nhiên bùng phát với cả án tử hình ung thư vú di căn ra đủ phổi, gan, đại tràng. Sự thật là vậy, nhưng chưa bao giờ bà thấy mình nghèo, cũng chưa bao giờ thấy thiếu gạo lứt nấu cơm, gạo lứt rang nghiền pha vào nước sôi để nguội mà sống qua ngày.
Bà Thu chiến thắng bệnh ung thư vú đã di căn, là nhờ ngồi thiền. Bà bảo, ở nước ngoài, người ta nói, Phật sống cũng chỉ ngồi thiền ở tư thế kiết già (tư thế cực kỳ “đẳng cấp” và khó ngồi: xếp bằng tròn, hai ống chân vắt chéo, hai mu bàn chân úp vào hai đùi) được vài tiếng. “Riêng tôi, nếu tính thế thì thành Phật từ lâu rồi. Mỗi ngày tôi ngồi 4-6 tiếng, ngày nào cũng như vậy. Nếu chia ra, một ngày có 24 tiếng dành cho mọi hoạt động sống, tôi thường dành đến 1/6 quỹ thời gian để ngồi thiền, để nghiền ngẫm sự đời, giữ cho Tâm thanh sạch hướng thiện, chìm sâu vào tĩnh lặng để thu năng lượng của vũ trụ mà trị bệnh cứu mình. Rồi tìm cách cứu những người bệnh tận khổ khác”, bà Thu tâm sự.
Trở lại thời điểm thập tử nhất sinh của bà Hồ Thị Thu vào năm 1990. Lê lết vào đến huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương gặp “thầy” Lương Đình Phú tiếp cận với môn học chữa bệnh bằng Năng lượng sinh học, lúc đầu bà Thu cũng chỉ bán tín bán nghi. Gọi là không có con đường sống nào khác, không lẽ ngồi nhà chờ chết, thôi thì hy vọng gặp thầy gặp thuốc sống thêm ngày nào hay ngày đó. Sau 1 năm ngồi thiền, kỳ công học tập, bà Thu cảm thấy cơ thể mình ổn định, ăn được, ngủ được. Những cơn đau bớt dần. Càng tin tưởng vào sức sống thần kỳ của con người khi tiếp cận được nguồn năng lượng vũ trụ kỳ ảo đó để trị bệnh, bà càng quyết tâm học, với niềm tin mãnh liệt là mình có thể sống sót ở cõi trần còn bao dang dở mẹ già con thơ này.
Công phu luyện tập, có niềm tin mãnh liệt vào môn học, có cái Tâm trong sáng để cái thân khỏe mạnh giúp mình, giúp đời… - đó là bài học nhập môn của bà Thu khi đến với Năng lượng sinh học. Học gần hết “vốn” của thầy Phú, thầy lại chuyển bà Thu đến học thầy Trần Văn Mai (cũng ở tỉnh Bình Dương), một bậc thầy của ông Phú. Càng học, càng thấy thanh thản đầu óc, cơ thể ổn định, trọng lượng “bệnh nhân ung thư” Hồ Thị Thu từ 39kg tăng lên 62kg. Niềm tin và lòng hướng thiện là sức mạnh đầu tiên giúp bà Thu vượt qua bệnh tật. Bà tự hứa với lòng mình, hứa với hai bậc sư phụ đã đem đến một kiếp sống khác cho mình, rằng: “con sẽ dành toàn bộ phần đời còn lại của mình để chữa bệnh cho bà con mình, không vụ lợi, không đòi hỏi bất cứ điều gì”. Sau này, có điều kiện đọc sách, cô “nông dân” Hồ Thị Thu mới hiểu, lời hứa hồn nhiên của mình với các thầy lúc đó, nó có cái gì rất giống lời thề Hypocrat của ngành y trên thế giới - thứ mà bà chưa bao giờ nghe thấy! Các thầy thuốc nguyện chữa bệnh cho bất kỳ bệnh nhân nào, vượt qua bất kỳ khó khăn nào, không kể giới tính, quốc tịch, màu da, giàu nghèo, vượt qua mọi khắc nghiệt, tị hiềm, thù hận… Trở về quê, sẵn có sức khỏe “môn học ban cho”, lại có vườn rộng, bà Thu chắt bóp mua gạch đá về xây dựng những căn nhà nhỏ để làm nơi tá túc cho người nghèo đến theo môn học nhằm chữa bệnh. Bà thu nạp đệ tử, biến vườn nhà mình thành ngôi trường tràn ngập tình thương yêu. Bà hiểu, bà từ cõi chết trở về. Những người bệnh không có tiền, không có cả niềm tin là mình thoát khỏi cõi chết kia đến với bà. Bà thương họ như thương chính bàn tay bàn chân mình, bà tin họ như tin chính người thân của mình. Thế nên, đôi lúc ở vườn nhà bà Thu, số người ốm đau và người chăm sóc đông hơn một cái bệnh viện cấp tỉnh. Đủ ăn uống, ngủ nghỉ (không thu phí), cả trăm người và hơn thế nữa, nhưng tuyệt nhiên không mất vệ sinh, không có trộm cắp hay ẩu đả nghi kỵ nhau. Lý do đơn giản: bệnh nhân đến gặp “cô Thu” toàn người quá khổ sở, giữa đôi bờ mong manh của sự sống và cái chết, dường như tiếng gọi của vật chất nó cũng xa vời và vô nghĩa dần với những người như thế. Người ta sống với nhau bằng cái tình của con người với con người trong thảm họa!
Bí quyết trong mỗi buổi tập thiền chữa ung thư
Bí quyết chiến thắng bệnh ung thư của bà Hồ Thị Thu chỉ đơn giản là ngồi thiền đúng cách, được thầy mở luân sa đúng cách. Trước khi ngồi thiền, hai bàn tay xòe ra, 4 đầu ngón tay chụm lại, ngón tay cái quặp lại đặt lên đầu gối. Hít vào bằng mũi thật sâu, thở ra bằng miệng thật sâu đủ 3 lần trong tư thế ngồi thiền kể trên (trước khi kết thúc buổi thiền, cũng hít vào thở ra theo phương pháp đó, số lần đó, y như lúc bắt đầu). Sau đó, chìm vào tĩnh lặng tuyệt đối. Cơ thể tự vận hành theo cơ chế của nó. Suy nghĩ tập trung vào hệ thống luân sa, có thể là lấy khí lành vào qua luân sa số 6 ở trước trán rồi để cơ thể vận động các nguồn khí nhằm đào thải ra khí độc. Chữa bệnh. Tùy theo bệnh tình của mỗi người mà cố gắng vận khí vào một “cửa luân sa” ở một trong 6 vị trí đã quy định của cơ thể người. Luân sa số 7, thì phải người học ở đẳng cấp cao mới được phép sử dụng.
Khóa học sẽ giúp người ngồi thiền hiểu về từng luân sa và đặc điểm trị bệnh của nó. Đặc biệt là người ta không thể tự mở luân sa cho mình được, cũng không học qua băng hình hay sách vở được, mà phải có thầy đủ công lực thâm hậu để giúp mình làm việc đó. Sau khi lấy khí ấm, khí lành từ vũ trụ vào cơ thể mình, người bệnh sẽ được các vòng quay luân sa và sức mạnh luyện tập của mình đẩy khí độc ra. Hoạt động đó gọi là “trượt” (đẩy khí ra ngoài). Các vết trượt đó, người thiền có thể cảm nhận được nó bò trên cớ thể, trên mặt mình như những “con sâu” thật sự, đôi khi còn cảm giác ai đó dùng lửa hơ lên mặt mình, có nước chảy buồn nhây nhẩy trên mặt và cơ thể mình. Có thể cảm nhận được luồng điện bí ẩn đi vào 10 đầu ngón tay, vào các huyệt đạo trên cơ thể người tập thiền chữa bệnh đúng quy cách. Dần dà họ có thể điều khiển luồng khí chạy đi chữa trị bệnh ở từng vùng cơ thể. Người ta có thể học cấp 1, bắt buộc ngồi thiền ít nhất 30 phút mỗi ngày. Rồi nâng dần lên cấp 2 và cấp 3 với thời gian ngồi thiền và chế độ kiêng khem kéo dài và nghiêm cẩn hơn. Dĩ nhiên, năng lượng thu được cho việc trị bệnh và sống thanh thản khỏe mạnh cũng sẽ nhiều hơn, hiệu quả hơn. Kiêng nhất của môn học có lẽ là sự lười thiền, mất niềm tin và các suy nghĩ hành động xấu xa, hắc ám.
Người học cũng được hiểu về lịch sử ra đời môn học này, với ông tổ là một tiến sỹ y khoa Đasira Narada, một con người thành đạt và thông tuệ người gốc ở Slilanca. Ông đã bỏ tất cả giàu sang phú quý, sự hiển đạt tột cùng để vào trong hang núi tuyết lãnh lẽo vùng nóc nhà thế giới Hymalaya tu luyện, tìm mở luân sa cho mình, tìm ra chìa khóa mở luân sa cho người khác. Rồi bí quyết này được truyền dạy mãi sang Việt Nam và đi khắp thế giới. Đó là một môn khoa học thực sự, được thế giới và Việt Nam ghi nhận.
Bà Hồ Thị Thu, với tư cách là người phụ trách CLB Trường sinh học ở Hội Vân quê mình, là Phó Chủ tịch phụ trách nghiệp vụ của Hội Tâm năng dưỡng sinh phục hồi sức khỏe tỉnh Đăk Lăk đã phát biểu tại một cuộc hội thảo lớn về lĩnh vực này diễn ra ở thành phố Buôn Ma Thuột, tháng 3 năm 2012 vừa qua, như sau: “Nhớ ơn tiến sỹ Đasira Narada - người Slilanca đã kỳ công ngồi thiền trong hang núi suốt 17 năm để mở luân sa cho mình và tìm chìa khóa mở luân sa cho người khác, khai sinh ra môn học chữa bệnh bằng việc đưa năng lượng vũ trụ vào cơ thể người - tôi đã nguyện dành cả đời chữa bệnh cho những người khác khi họ cần và tìm đến với tôi. Tôi thấy, trường sinh học là phương pháp dưỡng sinh rèn cả Tâm lẫn Thân. Để khắc phục được những trở ngại, xóa bỏ được những nguyên nhân dẫn đến rối loạn hệ thống điều chỉnh như hệ thống thần kinh, nội tiết, nhịp sinh học, thì việc thực hiện dưỡng sinh Tâm là căn bản nhất. Bất kỳ ai, dù ở lứa tuổi nào, cũng cần coi dưỡng sinh Tâm là khâu quan trọng nhất của sự sống, vì việc điều khiển từng lời nói đến sai khiến chân tay làm việc, tái tạo mọi hành vi, mọi hoạt động đều do Tâm mà ra. Không ai có thể phủ nhận vai trò của dưỡng sinh Tâm trong nâng cao sức khỏe con người”. Trong tham luận, bà Thu cũng trân trọng trích lời của GS.TS. Viện sỹ, nguyên Viện trưởng Viện Vật lý Việt Nam, ông Đào Vọng Đức: “Những người theo học Trường Năng lượng sinh học với tôi cũng đạt kết quả cao và hết lời ca tụng. Trong khi đó, tôi rất ngạc nhiên vì một số người chưa tìm hiểu, chưa thực nghiệm đã hồ đồ vội bác bỏ. Thực tế, thái độ như vậy đối với khoa học là hoàn toàn không đúng”.
Những người thoát “án tử hình” nói về “thuốc tiên”
Thực tế, bà Thu không chỉ cứu được mình khỏi án tử hình ung thư di căn ra toàn bộ ổ bụng, trong số 60.000 người theo học ở chỗ bà, có rất rất nhiều người đã khỏi bệnh nan y. Nhiều người về quê sống và ngồi thiền thanh thản, khỏe mạnh, tự cứu mình. Cũng có nhiều người cảm cái nghĩa của bà Thu và môn học kỳ diệu đã tình nguyện ở lại cả đời, phục vụ không công cho công tác hướng dẫn, chăm sóc bệnh nhân đến cầu cứu “cô Thu” tại “trường” ở Hội Vân. Hoặc bản thân họ cũng nối nghiệp bà Thu trao tuyền, đi khắp các tỉnh làm việc thiện bằng cách mở các câu lạc bộ năng lượng sinh học thu hút nhiều nghìn người tham gia.
Hầu hết số này là người từ cõi chết trở về, họ muốn trả ơn cuộc đời. Đó là ông Nguyễn Thanh Nam, 58 tuổi, ở Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định, bị bệnh nan y liên quan đến phổi, ho ra máu trong thời gian dài, nhờ luyện tập đã lành bênh. Hiện ông Nam là người hướng dẫn luyện tập môn học này tại Bình Định. Đó là ông Cao Xuân Tiến, 57 tuổi, bị u phổi, viêm đại tràng rất nặng, nhờ luyện tập này đã khỏi hẳn và đang tham gia giúp đỡ người khác ở câu lạc bộ trường sinh học ở quê nhà. Rất nhiều người mà chúng tôi phỏng vấn, họ đều thừa nhận mình đã ở tình trạng đóng quan tài, bệnh viện trả về, nhưng họ bảo “chúng tôi rất ngại nói lên báo mình là người bị bệnh ung thư, vì thật ra bệnh của tôi là ung thư, nhưng nói là ung thư thì người ta kỳ thị, họ còn nghĩ con cháu chúng tôi cũng sẽ bị ung thư, xóm làng nghĩ này nghĩ nọ”. “Anh cứ bảo chúng tôi bị bệnh hiểm nghèo, nằm chờ chết, nhờ tập luyện mà đã khỏi thật sự”. Ông Cao Xuân Tiến nhiều năm là cán bộ giữ rừng có uy tín ở Ea H’leo, tỉnh Đăk Lăk, rất đôn hậu và cởi mở, ông từ cõi chết trở về và muốn tri ân cuộc đời qua việc giúp đỡ người khác bằng cách tập tâm năng dưỡng sinh trị bệnh. Điện thoại của ông Tiến 0914057921. Ông Tiến cho biết: tôi là thành phần bệnh nặng đến mức bệnh viện bó tay rồi. Thận, gan, dạ dày, đại tràng đều sắp… hỏng hết. Đi khắp bệnh viện ở Đăk Lăk, Sài Gòn, rồi cả viện Ung bướu TPHCM. Tôi trở về với hai chai nước truyền hai bên “thi thể”, gia đình bảo thôi thì tìm thuốc nam, may ra sống thêm được ngày nào hay ngày đó. Ai cũng biết tôi là người ung thư phổi, nhưng văn bản người ta không ghi rõ như vậy, hoặc gia đình giấu mình vì sợ mình không đủ can đảm đương đầu với bi kịch ở phía trước. Cũng sợ nói mình là bệnh nhân ung thư thì xung quanh họ “đặt vấn đề” về gia đình mình xem liệu có “dòng máu ung thư” không, sẽ ảnh hưởng đến con cái. Ông Tiến nói: “Tôi kiên trì theo học, thế mà từ bấy đến nay, sống khỏe, được 7-8 năm rồi. Tôi phát động cả nhà tôi theo môn học này. Con gái tôi bị bướu đa nhân ở họng, bệnh viện Đà Nẵng phát hiện và kết luận rất đáng sợ. Con tôi theo học trường năng lượng, bây giờ khỏe mạnh, có chồng có con rồi”.
Ông Tiến mỉm cười chua xót nhớ lại hồi mới khám bệnh: Phổi của tôi có nhiều “chấm”, nguy hiểm đến mức người ta không thèm nói đến nó nữa. Họ chỉ kể ra những cái bệnh còn có chút hy vọng chữa được, như gan nhiễm mỡ độ 2, ứ nước ở thận độ 2, hai bên thận hai hòn sỏi. “Bây giờ có nhiều người ung thư đến học theo môn học này lắm. Họ khỏe lên, có người hết bệnh và trở về quê. Thấy người ta được đưa đến, tôi đau xót lắm; nhưng khi họ hoan hỉ trở về quê tiếp tục ngồi thiền tự chữa bệnh, tôi lại thấy mình như khỏe ra nhiều phần. Vì tôi cũng từ cõi chết trở về như họ, đồng bệnh tương lân (có bệnh như nhau mới thật sự hết lòng thương nhau được) là như thế”, ông Tiến nói.
Bây giờ ông Tiến khỏe mạnh. Đặc biệt, sự liên kết giữa “trường” của bà Hồ Thị Thu và những người tâm huyết với môn học ở Đắc Lăk, nhờ những người tâm huyết như ông Tiến, đã có những phát triển đáng ngạc nhiên: họ mở được 31 lớp, với gần 5.800 học viên. Ngoài cơ sở ở khắp nhiều huyện trong tỉnh Đăk Lăk, bà Thu và cộng sự còn mở các câu lạc bộ tâm năng dưỡng sinh ở: Phan Thiết, Bình Thuận; Cẩm Khê, Phú Thọ; Tam Kỳ, Quảng Nam… với nhiều nghìn người tham gia.
Giá mà tôi rủ được ông thông gia của tôi đi học thiền, thì ông ấy đã không phải chết từ 6 năm trước
Ông Cao Đình Vinh (ĐT 0976110069), người An Nhơn, Bình Định, 60 tuổi cũng mắc bệnh nặng đến… hết thuốc chữa. Gan của ông đã bị sơ đi, bị chai đi rồi, chỉ ít ngày nữa là gan không còn hoạt động, hoặc chuyển sang ung thư gan di căn. Bệnh viện Chợ Rẫy trả về, cơ may sống sót chỉ còn trong hy vọng… mong manh. Qua luyện tập, hết sức bất ngờ là đến nay ông Vinh đã sống thêm được 8 năm, hiện đang khỏe mạnh, giúp bà Thu phụ bệnh cứu người tại Hội Vân. Ông Vinh bảo: “Tôi đã gặp rất nhiều người bị ung thư đến đây chữa và kéo dài được sự sống, rồi trở về quê sinh sống bình thường. Một năm có tới 9-10 nghìn người đi đi về về tại cơ sở này, thật lòng tôi không nhớ hết được. Tôi chỉ nhớ là chính họ còn không hiểu tại sao mình khỏi bệnh. Đi khám bác sỹ cũng rất ngạc nhiên vì khối u không còn nữa. Nhiều chị em bị luyện tập, “tiêu” mất cả khối u nang buồng trứng, u sơ tử cung”. “Bệnh của tôi lúc đó, chữa trị không đúng, uống nhiều thuốc, nó tích độc trong gan, làm cho chai xơ gan đi. Chỉ một chút xíu nữa là sang ung thư ngay. Ông thông gia với tôi, cũng bằng tuổi tôi, bệnh như tôi, không đi tập luyện, uống thuốc tây là chết ngay từ năm 2006. Dùng thuốc tây nhiều, bụng chướng lên, gan chai đi, là chết. Tôi rất áy náy việc này. Lẽ ra tôi nên bảo ông ấy đi tập cùng tôi, thì bây giờ ông đã không phải nằm dưới đất sâu những 6 năm rồi. Thú thực lúc đầu tôi theo cô Thu tập luyện, tôi vẫn chưa tin tưởng là có thể khỏi bệnh. Chứ nếu không tôi đã rủ ông ấy đi học môn học này. Ông ấy chết với khối u trong gan 3cm”, ông Vinh buồn bã kể.
Một bệnh nhân ung thư tủy sống sót kỳ lạ!
Đặc biệt nhất trong số những người được phương pháp luyện tập màu nhiệm này cứu giúp, có lẽ phải là chị Hoàng Thị Vũ, nhà ở thị trấn Ngô Mây, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định. Số điện thoại 0906508677. Sinh năm 1977, làm nghề buôn bán nhỏ đang phát đạt và yên bình, bỗng dưng cô Vũ lên cơn đau xương, đi khắp viện ở Quy Nhơn, Sài Gòn, thì người ta mới phát hiện ra bị Ung thư Tủy. Khi Trung tâm Huyết học ở TPHCM trả Vũ về để vui với gia đình ngày nào hay ngày đó trước khi vĩnh viễn chia tay cõi sống, Vũ kiệt quệ cả tâm lẫn sức. Cuộc sống mờ đi trước mắt, từ sáng đến tối cô chỉ nghĩ về cái chết và đắng lòng lo cho tương lai của cha mẹ, chồng con. Chân Vũ không đi được nữa, người nhà phải bế khi mang Vũ đến gặp cô Thu. Sau một tháng khai mở huyệt đạo, luyện tập âm dương, Vũ có thể đi lại được. Nhưng bệnh ung thư tủy đã làm xương cô rệu rạo, hai xương khớp háng bị thoái hóa, không thể cử động nâng giơ chân lên hoặc hạ chân xuống được. Cô không thể ngồi thiền theo phương pháp truyền thống, mà phải ngồi trên ghế, xoạc chân ra… để thiền. Cả lớp học, cả gia đình và khu dân cư xôn xao: Vũ có thể đi lại được sau 1 tháng luyện tập.
Đã 6 năm trôi qua, cô vẫn sống khỏe. Đặc biệt, khoảng nửa năm nay (từ cuối năm 2011), Vũ quyết tâm ngồi thiền ở mức 3 tiếng một ngày. Cô thấy sức khỏe trở lại với mình như có phép tiên. Hễ giảm xuống mức ngồi thiền 2 tiếng một ngày là ăn kém, đau ê ẩm trong người. Với mức ngồi thiền “cao tay” như Vũ, bệnh ung thư đã được đẩy lùi. Vũ nói: “Bây giờ tôi có thể coi sóc con cái, nhà cửa, nấu cơm nước cho gia đình được rồi. Bệnh án của tôi rõ ràng là suy tủy, ung thư tủy. Bài học của tôi ở đây là: kiên trì ngồi thiền, có niềm tin vào môn học. Tôi lúc đầu người nhà phải bế, cõng. Học xong thì đi được. Lúc thiền 30 phút/ ngày thì vẫn yếu, thỉnh thoảng vẫn phải trực tiếp gặp cô Hồ Thị Thu nhờ phụ (chữa) bệnh thông qua năng lượng trong người bà. Nhưng khi tôi ngồi thiền 2 tiếng/ ngày thì tôi khỏe hơn nhiều. Nhưng bệnh quá nặng, thỉnh thoảng vẫn mệt mỏi nhiều, tôi quyết tâm chuyển lên ngồi thiền 3 tiếng/ ngày, thì sức khỏe rất tốt. Hễ tôi chuyển xuống ngồi 2 tiếng/ ngày, sức khỏe lại suy giảm, ăn uống kém, đầu óc kém linh hoạt. Điều đó cho thấy, thiền đối với tôi là sự sống, thu hút năng lượng của vũ trụ vào cơ thể mình giúp mình trị bệnh là quan trọng sống còn. Và niềm tin, tinh thần tập luyện là do chính mình tạo ra, không có ai giúp được mình hết. Ở đây là một khoa học, một sự công phu, chứ không có “phép màu” nào cả”.
(het)
Wednesday, May 23, 2012 5:20:35 AM
Kinh ngạc với những “biệt dược” và “thần y” chiến thắng “án tử hình ung thư” !
Lãng Quân thực hiện
Xem tại đây: http://www.tuoitredoisong.vn/Default.aspx?id=77#t=1130
Lời tòa soạn:
Những tưởng mắc bệnh ung thư là dính “án tử hình”. Nhiều người bị bệnh viện trả về chờ chết. Song, kỳ lạ thay, trong nỗi tuyệt vọng tận cùng kia, nhiều bệnh nhân đã đã được lời dặn dò của cha ông xưa giúp ứng nghiệm: “bệnh quỷ khắc có thuốc tiên”. Họ đã tìm vào thuốc Nam, các phương pháp chữa bệnh có vẻ như huyền bí, mơ hồ, vẻ như “khó tin” nhưng thành công thì lại thật sự. Có khi là gan cóc, mật cóc ăn thẳng vào bụng. Có khi là ngồi thiền thu hút năng lượng của vũ trụ. Có khi là uống lá lẩu bí ẩn mà bí quyết chọn tìm này đến từ nghìn năm lịch sử Việt Nam hay từ những vùng đất huyền thoại xa xôi như Tây Tạng. Thế rồi, nhiều bệnh nhân đã “cãi trắng”, cãi thắng trước cái phiên tòa mà Diêm Vương vừa tuyên án tử hình cho mình - trước sự ngạc nhiên của giới khoa học, cũng như của… chính bản thân người bệnh.
Bài 1:
Thoát bệnh ung thư nhờ… ngồi im như tượng
Hình như chưa có ai so sánh mức độ cận kề, cầm chắc cái chết của bệnh ung thư với “án tử đã tuyên” - HIV/AIDS. Nhưng rõ ràng, với sự phát triển của y học, nhiều thứ thuốc can thiệp chống suy giảm miễn dịch đã giúp bệnh nhân HIV bớt thảm sầu, kéo dài sự sống được hàng chục năm. Trong khi đó, ung thư đang “chiếm thế thượng phong” trong việc kéo thần chết về gần hơn, gần sát sàn sạt với mỗi bệnh nhân xấu số. Các bệnh viện ung bướu (gọi tắt là viện K) ở các thành phố lớn như Hà Nội, TPHCM luôn dẫn đầu bảng trong hệ thống các khu vực y tế quá tải thảm hại nhất Việt Nam. Môi trường suy thoái, thức ăn độc hại tràn lan, khiến tỷ lệ người mắc ung thư ở Việt Nam ngày càng cao ở mức báo động đỏ. Bệnh nhân nằm tràn ngập hành lang, cầu thang, gậm giường, có khi ba bốn người ngồi ôm lọ hóa chất truyền trong tư thế… ngồi xổm ở một giường bệnh. Có người “truyền” đứng. Có khi, vì thiếu giường bệnh, hàng chục người sau ca phẫu thuật “thập tử nhất sinh” hôn mê nhiều giờ đồng hồ cùng phải nằm thiêm thiếp ngoài hành lang lúc nhúc người bệnh ung thư trọc đầu của viện K, giữa gió rét thê lương hay nắng nóng ngột ngạt. “Đụng dao kéo” và truyền hóa chất độc hại vào tiêu diệt mầm mống ung thư trong cơ thể bệnh nhân, cũng có nghĩa là người ta đang dùng chất cực độc tiêu diệt sự sống vốn đã héo úa trong chính cơ thể người bệnh theo cơ chế “đánh chuột đánh vỡ luôn cả đồ quý”. Bên cạnh cái sự cực kỳ tốn kém về kinh phí, người bệnh cũng ít có khả năng kéo dài sự sống nhờ truyền hóa chất, trong khi đó, họ bị rụng tóc, vỡ tĩnh mạch, lả dần đi dần đến chết trong đau đớn (hầu hết phải dùng moc-phin), đau đớn đến hơi thở cuối cùng. Trước thảm cảnh đó, nhiều bệnh nhân và người nhà đã tìm đến phương án liều mạng nhất: xin về quê để chờ chết.
Người đi “điều tra tố cáo” trở thành đệ tử của chính “bà tiên áo trắng”
Chuyện của người đàn bà sau đây gần giống như tấn “bi kịch phổ biến” kể trên, chỉ có điều rằng phần kết của nó rất “có hậu”. Bà tên là Hồ Thị Thu, SN 1955, người ở xóm Hiệp Tổng, thôn Hội Vân, xã Cát Hiệp, huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định là người bị ung thư vú, đã di căn hỏng thận (thường nôn ra máu) và hầu như toàn bộ nội tạng. Bệnh viện đã trả về để chờ chết. Gia đình đã đóng quan tài cho bà rồi. Nhưng, có người mách đi ngồi thiền, chữa bệnh bằng năng lượng sinh học ở Bình Dương. Có bệnh thì vái tứ phương, bà Thu tập ngồi thiền. Rồi nhờ “thuốc tiên” của dòng suối nước nóng tự nhiên lên tới 85 độ cạnh nhà mình, nhờ ông thầy tận tâm hướng dẫn mở luân sa (huyệt đạo) trong 21 tháng 14 ngày, bà Thu đã sống khỏe đến nay là… 22 năm. Triệu chứng duy nhất còn lại của căn bệnh cực kỳ hiểm nghèo ấy trên cơ thể bà hiện nay, ấy là khi trái gió trở trời bà vẫn ho ra một… bụm máu tươi. Để cảm ơn cái duyên trời đất đã ban cho mình sống sót, bà Thu cùng chồng là ông Võ Ngọc Anh đã đem toàn bộ gia sản, đem nhiều nghìn mét vuông vườn điều, đất ở của mình ra làm nơi truyền dạy bí kíp ngồi thiền chữa bệnh cho đồng bào cả nước mà không lấy bất cứ khoản thù lao nào. Đến nay, bà và các cộng sự (hầu hết là người ung thư từ cõi chết trở về) đã có “trường” dạy học viên, với tổng số người được thống kê kỹ càng trong sổ sách là: 60.000 người! Tâm sức cứu nhân độ thế của bà Thu đã được cơ quan chức năng ghi nhận bằng nhiều bằng khen, nhiều danh hiệu, và bà tự hào đăng đàn trong các cuộc hội thảo, tập huấn quy mô quốc gia, chỉ với mong muốn duy nhất: nhân rộng mô hình “ngồi im như tượng” chữa bá bệnh kể trên.
Tôi có anh bạn đang khỏe như trâu bỗng dưng mắc bệnh trọng, người ta vẫn thường gọi đó là hiện tượng “đá cũng đổ mồ hôi”. Anh này làm phóng viên điều tra của một tờ báo lớn. Một ngày anh bỗng dưng ngất xỉu khi đưa con đi học, cơn đau làm anh quằn quại, nhia răng ra, con trai lên xe bus nhà trường đón rồi quay lại nhìn bố “nhe răng” cứ nghĩ bố đang cười chia tay mình. Anh bảo, hôm đó anh đã tin đó là cái lần cuối cùng con anh được nhìn thấy bố, bởi cơn đau như có ai đâm dao vào ngực trái và anh không tin mình còn được sống. Khi tỉnh dậy, bác sỹ bảo: anh bị hở van tim, có kết luận của Bệnh viện Việt Xô (Hà Nội) hẳn hoi. Rồi anh bị chảy máu dạ dày, viêm hang vị, trợt loét bờ cong (kết luận của BV Bạch Mai, Hà Nội). Uống nhiều thuốc tây, anh bị biến chứng lên cơn đau thận cấp, lại đi cấp cứu, hai bên thận có hai hòn sỏi lớn. Rồi anh bị trầm cảm đánh người vô cớ, đòi tự tử vô cớ. Tất cả bệnh án xếp dày, các bệnh viện lớn như Việt Xô, Bạch Mai kết luận như một “bản án” không nhẹ tí nào.
Dường như cánh cửa sự sống đã đóng khá kín trước anh nhà báo đó. Bỗng dưng, cái ách giữa đàng nó quàng vào cổ: mẹ anh, 60 tuổi, lại phát hiện bị ung thư, Bệnh viện K Hà Nội đã tiến hành phẫu thuật cắt gần hết cái dạ dày. Truyền hóa chất cực độc, rụng tóc, chân tay phù nề lở loét, vỡ ven, sút cân, xanh xao, sức khỏe suy kiệt hằng ngày. Người ta bảo, ung thư là thứ có yếu tố di truyền, anh nhà báo đi soi dạ dày, thì phát hiện mình mang bệnh tim, dạ dày, kể cả HP dương tính (virut trong dạ dày gây loét rồi gây ung thư) giống hệt mẹ.
Trước sự hành hoành đáng sợ của thuốc Tây dùng liều mạnh, lại không được các bác sỹ hướng dẫn sử dụng và tư vấn cách ăn uống thể thao giảm trừ tác dụng phụ của hóa chất, anh nhà báo hiểu ra và được khuyên tìm đến thuốc Nam và các phương pháp chữa bệnh phương Đông để tự cứu mình và cứu mẹ. Đúng lúc đó, xảy ra tình trạng rất đáng chú ý ở huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Đó là việc một người đàn bà áo trắng, nói giọng miền Nam, phong thái khá kỳ lạ xuất hiện. Bà tập hợp vài trăm “tín đồ” đến các điểm sinh hoạt công cộng ở các xã để “giảng đạo”, bà nói say sưa, nói từ sáng đến đêm với 3-4 ca “học viên” nghe giảng. Bà chỉ ăn gạo lứt, uống nước rau quả với sức khỏe lạ thường. Trong suốt nhiều ngày, bà cùng các cộng sự cùng hàng trăm bà con trong khu vực cứ nói chuyện rồi cùng ngồi im như tượng. Có phải người truyền đạo trái phép? Có phải người dụ dỗ lương dân để trục lợi? Có phải một phương pháp chữa bệnh mê tín dị đoan của một “phù thủy” khiến bà con hao tiền tốn sức, tiền mất tật mang? Anh nhà báo được chỉ định lên đường điều tra “chuyện hi hữu” kể trên.
Những tưởng phải hóa trang, đánh trống ghi tên bằng hồ sơ giả khi xâm nhập các màn ngồi thiền bí ẩn kia, ai ngờ anh nhà báo rất thoải mái được “bà Phù thủy” nhận vào lớp nghe giảng, ngồi thiền. Chỉ cần ghi tên trong sổ của một người phụ nữ già yếu (sau này anh biết rằng đó là người có tiểu sử ung thư nhất sinh từ cõi chết trở về). Cũng không cần chứng minh thư hay giấy tờ gì. Càng không cần đóng bất cứ khoản lệ phí nào. Cầm một tờ báo cũ đến, lót xuống sàn nhà lạnh ngắt (bấy giờ là mùa đông khắc nghiệt), đặt mông mình xuống rồi nghe giảng và ngồi thiền ngày nọ qua ngày kia. Bữa đến ai về nhà nấy, giờ đến lại học. Người học đông đến mức, có khi 21 giờ đêm, người đàn bà áo trắng mới chia tay một lớp học gần trăm học viên, rồi lại tiếp tục giảng cho một lớp mới mãi đến… 23 giờ khuya. Để đến sáng hôm sau, 6 giờ sáng, một lớp mới lại bắt đầu.
Chuyến đi trị giá 300 triệu, chỉ xin bà con một cái rổ nhựa
Người đàn bà áo trắng không lấy gì của ai. Bà bảo, trời cho bà cái duyên tìm được môn học này từ những người tốt khác, và bà được sống, bà muốn cõi sống còn lại của bà là dâng hiến cho những người bệnh khổ sở khác trên đời này. Bà không có nhu cầu ăn thịt thà cá mú, không cần ở chỗ sạch sẽ rộng rãi, ngoài một góc nhỏ có thể đặt “bàn tọa” và ngồi im như tượng được. Những người già lắm bệnh ở Đất Tổ gọi bà là “cô”, “bà tiên áo trắng”, xưng “chúng em”. Rồi họ mang đủ khoai, sắn, gạo nước, thịt gà lợn đến mong thầy ăn và lấy sức để cứu nhân độ thế. Người đàn bà áo trắng không lấy gì, ngoài việc lấy một cái rổ nhựa để rửa rau. Vì bà ở trọ ở đó bằng tiền của bà, chỗ trọ có người bán rau bà mua bằng tiền túi của bà; nhưng ở đó lại không có người bán rổ nhựa. Sau này, hàng nghìn người ở huyện Cẩm Khê được môn học do người đàn bà áo trắng truyền dạy giúp chữa khỏi bệnh, họ thường thuê những chiếc xe khách trọn gói, chở toàn bộ học viên từ Đất Tổ, vượt quãng 1.500km vào trong vườn điều của người đàn bà áo trắng ở Bình Định mà “tầm sư học đạo”. Họ coi đó là cách tự đi tìm sự sống về lại với mình.
Cảm kích trước sự quyết liệt chữa bệnh cho mình của bà con Cẩm Khê, cũng cảm thương cho cái việc khánh kiệt vì bệnh tật của họ, người đàn bà áo trắng (tên là Hồ Thị Thu) đã quyết định đem… tiền tỷ ra biếu bà con. Bà không lúc nào có tới 2 triệu đồng trong túi. Nhưng bà quyết tâm ra Phú Thọ mở lớp theo nhu cầu của bà con. Mà mở lớp không bao giờ lấy đồng nào của ai, bà luôn tuyên bố, tôi có học trò ở khắp Việt Nam, nhưng có một cách để xem người đó có thật sự là học trò của tôi không, xin cứ hỏi: chữa bệnh có mất tiền không, truyền dạy mở luân sa có lấy kinh phí không? Nếu ai trả lời là có. Tức là người đó là “hắc đạo”, là mạo danh học trò “cô Thu” để trục lợi. Hoặc đó là người học môn học tuyệt vời kia mà biến chất thoái hóa, bà con không nên theo.
Bà Thu tính: “Một lần tôi ra Cẩm Khê, khoảng 300 người theo học. Nếu với giá đi tàu xe, rồi ăn ngủ dọc đường, rồi chi phí khi tá túc trong “trường” ở Phù Cát, mỗi học viên phải tốn ít nhất 1 – 2 triệu đồng. Ba trăm người không phải đi xa để học, tôi giúp bà con bệnh tật của mình bớt tốn kém được 300 - 600 triệu đồng. Nếu các học viên đi máy bay, con số tốn kém có thể gấp 6-7 lần so với người đi xe đò vật vã mấy ngày trời kia. Cái gì có lợi cho bà con thì tôi làm. Tôi đã khóc khi chia tay bà con ở sân bay Nội Bài, khóc rồi tôi trách bà con. Bởi khi tôi xuống máy bay, bà con xếp hàng, họ khóc, những người to béo, ăn to nói lớn cũng khóc dàn dụa vì xúc động. Mỗi người ôm một bó hoa, tôi tính tạm là 150 nghìn đồng/bó. Tiền triệu mua hoa cho người đàn bà ung thư từ cõi chết trở về đi hành đạo giúp đời như tôi, cái tình ấy quý lắm, nhưng tốn kém như thé để làm gì? Sao không đem tiền đó đi giúp đỡ người bệnh khác? Bệnh tật là con đường ngắn nhất để mỗi người đi đến tán gia bại sản…”. Nói rồi, bà Thu ngồi rơm rớm nước mắt.
Trước những hành vi của bà Thu, trước việc tận mắt chứng kiến bà con khỏi bệnh, đặc biệt là bản thân mình cũng khỏi nhiều thứ bệnh nhờ công phu ngồi học thử phương pháp chữa bệnh ngồi im như tượng kia, anh nhà báo điều tra đã bước đầu bị khuất phục. Tất nhiên, hoài nghi là thứ không thể không có trong người làm báo, làm điều tra. Nhưng suốt quá trình theo học, anh không thấy bà Thu nói điều gì nhảm nhí, mơ hồ, dị đoan hay phản động. Chỉ là lời khuyên sống tốt, tĩnh tâm, Tâm và Thân bình an để chữa bệnh cho mình và cho người. Phải có tâm với đời, để khiêm cung, nhường nhịn, tâm an lành là thuốc tiên để chữa bá bệnh. Đừng trục lợi hay kiêu căng qua phương pháp chữa bệnh này, dẫu công hiệu của nó có giúp đỡ được một hoặc nhiều người khỏi bệnh đi nữa. Anh khỏi bệnh là do nỗ lực tự bản thân anh, niềm tin của anh, lơi là tập luyện thì bệnh có thể lại đến. Anh nhà báo cứ nghe, cứ đề phòng, cứ theo học những điều mà theo anh là dù thế nào cũng chẳng hại gì đến thân thể, danh dự hay nghề nghiệp của mình. Anh cũng ngồi thiền, tĩnh tâm, dần dà lòng tham thiền lớn dậy, anh thấy thanh thản và lòng luôn nghĩ về lẽ nhân sinh tử tế ở đời. Cuối cùng “bạn học” của anh ở mọi lứa tuổi đều cảm thấy khỏi bệnh, họ đi siêu âm, xét nghiệm lại thì các bác sỹ rất ngạc nhiên không hiểu điều gì đã xảy ra. Bản thân anh nhà báo khỏi hẹp van tim, khỏi bệnh dạ dày, bay mất mấy viên sỏi trong thận. Các bệnh cơ hồ mãn tính của anh từ nhỏ, như: vạy cổ, mất tiếng, viêm họng, đau khớp, suốt 4 năm qua chưa bao giờ tái phát. Siêu âm, xét nghiệm bằng y học hiện đại, van tim của anh chỉ còn hở rất nhẹ. Lưu giữ hai kết quả đó, xem các kết quả của bạn học khác ở vùng Cẩm Khê, Đà Nẵng, Đắc Lăk, Quảng Nam… anh rất bàng hoàng nhận ra dường như ngồi thiền chữa bệnh bằng năng lượng sinh học đang là một thứ “thuốc tiên” cứu anh và bạn hữu. Anh và cả gia đình anh theo học bà Hồ Thị Thu từ đó.
PV Tuổi trẻ Đời sống thâm nhập “trường học” của bà Hồ Thị Thu
Khi chúng tôi có mặt ở Phù Cát, Bình Định, hỏi bà Hồ Thị Thu thì ai cũng biết. Nhà bà có đặc điểm rất rộng, mồ mả ông bà nằm ngay trong vườn với cái nấm hầu như đã bị xóa mờ bởi các cơn gió cát. Bởi phong tục ở trong đó là không có hoạt động “cải cát”. Chồng bà Thu, ông Võ Ngọc Anh hằng ngày vẫn làm cỏ điều, thu hái nông sản, cõng bình thuốc trừ sâu đi ra ngoài ruộng rẫy như nông dân đích thực. Người học rất đông. Cạnh nhà bà là suối nước nóng Hội Vân lúc nào cũng mù mịt khói, thả một con gà ủ xuống cát suối, nửa tiếng sau là gà chín. Bà con bán trứng trên bờ, nhúng xuống nước 5 phút là trứng chín. Rất nhiều bệnh nhân ung thư ngồi thiền bên bờ suối, nhiều người đánh ô tô đến múc nước nóng đó đem về Sài Gòn uống, tắm với mong muốn trị bệnh hiểm nghèo.
Không một ai phải đóng một khoản phí nào, trừ tiền điện vài nghìn đồng/tháng (!), tiền ăn có khi chỉ chục nghìn đồng/bữa, do bệnh nhân đứng ra nấu và giúp đỡ nhau ăn uống. Người đến đông, bà Thu cho biết: đôi khi bà cảm thấy cũng mệt mỏi lắm. Dẫu bà không thể làm việc là đuổi họ ra khỏi nhà mình, bởi họ cùng đường rồi họ mới tìm đến bà Thu. Bà cũng không tuyên truyền gì, không lấy gì của ai, chỉ chăm chắm giúp người ta học điều lành lẽ, ngồi thiền tĩnh tâm, mở các huyệt đạo thu nhận năng lượng vũ trụ, tự xắp xếp an tĩnh lại cơ thể mình nhằm phòng ngừa, chữa trị bệnh tật. Bà cũng được cấp chứng chỉ hành nghề, cũng là Phó Chủ tịch Hội Tâm năng dưỡng sinh tỉnh Đắc Lăk. Nhưng điều bà sợ nhất là chính quyền địa phương đã và sẽ kêu ca về chuyện ở nhà bà tụ tập quá đông người. Vì thế bà và cộng sự rất vất vả để thường xuyên cập nhật và báo cáo về số người đến tạm trú ở nhà bà. Tuân thủ nghiêm ngặt quy định của công an khu vực, báo cáo đầy đủ, bà coi đó là trách nhiệm công dân chân chính của mình. Nhưng cũng có khi, cửa “trường” đành phải mở cho bệnh nhân từ nơi xa xôi đến, họ bị trễ tàu xe, họ gõ cửa vào lúc 12h đêm, có người là cán bộ nhà nước, có người là Tổng Biên tập báo, là công an, là nguyên Phó Bí thư Tỉnh ủy… đến học. Thế là không kịp làm báo cáo tạm trú tạm vắng được. Bà bị phạt hành chính, bèn ngậm ngùi đi bán mấy con gà mái, lấy tiền nộp phạt.
Bà Hồ Thị Thu đang làm nghề buôn bán nhỏ thì ngã bệnh vào năm 1990. Lúc bấy giờ ở tuổi 35, nặng 63kg, đầy sức sống, con nhỏ dại, cha mẹ già yếu, bà Thu đã thật sự suy sụp. Với kết luận của BV Đa khoa Quy Nhơn, bà Thu bị hở hẹp van tim độ 2, suy thận mãn tính, ảnh hưởng trầm trọng đến gan. Chuyên khoa tim, BV 115 (TP Hồ Chí Minh) đã không thể mổ tim được cho bà Thu, bởi sức khỏe đã suy kiệt đến báo động rồi. Về nhà nằm chờ chết, bỗng dưng thấy tức ngực, ho ra máu liên tục, hai bên vú nổ hai cục u lớn. Gia đình bán ruộng vườn thuê xe đem vào Bệnh viện Ung bướu TPHCM, thì được kết luận: ung thư vụ nặng, đã di căn qua phổi. Cõi sống đóng sập cửa với người đàn bà Phù Cát 35 tuổi có vẻ đẹp mặn mà Hồ Thị Thu. Chỉ trong ít ngày, từ chỗ nặng 63kg, bà chỉ còn 39kg, đi lại lẩy bẩy. Khóc hết nước mắt với những lời chia tay chồng con thống thiết nhất.
Bỗng dưng có người giới thiệu hãy tìm còn nước còn tát, đánh canh bạc cuối cùng với thần chết, bằng cách đi học Năng lượng Trường sinh học của thầy Lương Đình Phú ở Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương. Bà sống thêm được đến nay, ít nhất đã 22 năm trôi qua, bà đã cứu giúp cho ít nhất đã 60 nghìn người, trong đó có nhiều bệnh nhân ung thư còn nặng hơn bà hồi đó.
(còn nữa)
Bài 2: Chuyện nhiệm màu của những người từ cõi chết trở về
Tuesday, March 6, 2012 10:29:21 AM
Hòn Chẹ - lăn vào… bi đát!
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
http://laodong.com.vn/Tin-tuc/Hon-Che--lan-vao-bi-dat/77699Núi Đá Chẹ là một thắng cảnh tuyệt đẹp của nước nhà. Được sách, truyện, truyền thuyết cổ xưa của dân tộc “vinh danh” từ trong Truyện Sơn Tinh - Thủy Tinh, rằng núi Chẹ khổng lồ (rộng vài km2) đã được ông Sơn Tinh đứng trên núi Ba Vì, ném ra giữa dòng sông Đà để giết muôn loài thủy quái, chặn nước dữ cứu dân lành, bảo vệ Ngọc Hoa Công Chúa. Tiếng của người Việt Mường cổ, Chẹ tức là chặn. Núi cao, sáo đá, dê núi rồi khỉ vượn leo chèo đông đúc. Cây cổ thụ trùm phủ chon von. Hang ngầm xuyên từ núi ra sông Đà. Các Đầm Tôm rộng bát ngát. Nhà nước ta, từ nửa thế kỷ trước và mãi gần đây nữa, đều có kế hoạch bảo tồn, phát huy giá trị của di sản địa chất, địa mạo, văn hóa và tâm linh này.
Tuy nhiên, đến giờ phút này thì Hòn Chẹ linh thiêng đã bị những phu đá lao khổ hè nhau ẩy vào… bi đát. Núi trơ khấc tật nguyền, các phận người chết bất toàn thây, người sống thì hoảng loạn.
Một thế giới bước ra từ cổ tích
Núi Đá Chẹ (thường gọi là Hòn Chẹ) nằm ở vị trí giáp ranh giữa xã Khánh Thượng, huyện Ba Vì, Hà Nội và một xã của tỉnh Hòa Bình Nó là một phần dường như không thể thiếu được của “thế trận” tự nhiên nhằm chống nước lũ “năm năm báo oán đời đời đánh ghen” cho dãy núi Ba Vì và cả vùng dân cư rộng lớn. Núi đứng soi mình xuống sông Đà, ở vùng đất giáp ranh giữa 3 tỉnh - thành là Hà Nội, Hòa Bình và Phú Thọ. Một không gian văn hóa Việt Mường và miền tâm linh sâu thẳm ở đây đã trở nên nổi tiếng. Tích cũ ghi rõ: ông Cao Biền từ phương Bắc đến trấn yểm long mạch (nhằm làm hại nước Nam) ở vùng Chẹ này cả mười lần thì mười lần thất bại thê thảm. Bây giờ xã Khánh Thượng còn có “di tích” xóm Tôm ghi trong bản đồ hành chính. Chẹ Đùng 1 và Chẹ Đùng 2 (tên gọi khác của Núi Chẹ) án ngữ ở bờ sông, như cái tay ngai của Thánh Tản khi ngài ung dung ngự trên núi Ba Vì. Sông Đà dữ dằn đời đời kiếp kiếp gây chết trong ven sông Đà, nhưng khi gặp núi Chẹ, nước quẩn ra, và toàn bộ vùng Khánh Thượng, Minh Quang, Ba Trại, Thuần Mỹ, Cổ Đô được che chở.
Núi lớn, lại thò ra mặt sông, nên nhiều hiện tượng thiên nhiên kỳ thú đã xuất hiện. Khỉ có thể đi theo các thân cây bắc từ đỉnh đá tai mèo nọ sang đỉnh kia như người ta đi… cầu khỉ. Dê núi hoang dã đứng lố nhố trên đá xám. Núi Chẹ là cái vựa sáo đá nổi tiếng của dân chơi chim cảnh. Đặc biệt là các Hang Tôm, Hồ Tôm. Sông ngầm thông ra Đà Giang, nước sông lên là Hồ Tôm chan chứa, nhưng mùa sông cạn, xóm Tôm vẫn ăm ắp. Dường như núi là cái “van một chiều” lấy nước vào mà không bao giờ đẩy nước ra. Tôm từ Đà Giang kéo vào nhiều vô kể, vì núi đá vôi nước ấm, nhiều hang hốc. Bởi thế bà con đặt tên cụm dân cư dưới chân Đá Chẹ là Xóm Tôm. Vào những năm 1980, người Khánh Thượng, Minh Quang và người Phú Thọ, Hòa Bình vẫn thường phải… chống chọi với đàn khỉ hoang xuống phá hoa màu. Khỉ kéo thành đàn, chúng ranh ma buộc dây rừng quanh thắt lưng, rồi cài ngô, bí, khoai sắn của dân như chiến binh giắt đầy lựu đạn, cứ thế chí chóe cười phốc cả lên núi trêu ngươi.
Núi Chẹ từng được nhiều người lịch lãm biết đến và tôn sùng bởi ở đó có một “di tích” nổi tiếng: đỉnh Hàm Rồng. Rồng là linh vật đã ám vào suy nghĩ của người Việt trên mọi vùng và mọi thế hệ, khắp nơi có di tích Hàm Rồng. Ba Vì là với chiều cao của núi chỉ hơn 1.200m so với mực nước biển, núi không cao nhưng có “Tối tú tối linh thượng đẳng thần” Tản Viên Sơn thánh trị vì. Đây là núi tổ của toàn bộ các mạch núi Trời Nam. Và, Hàm Rồng ở Đá Chẹ từng được Chính phủ đề nghị lập hồ sơ công nhận là thắng cảnh quốc gia. Mỏm đá thò ra mặt sông, đá nhúng mình vào sông đen nhưng nhức. Lúc nước cạn, các gò đá nhô lên y hệt một cái hàm rồng, có cả trán rồng và những chiếc răng rồng oai dũng. Nước sông Đà đến đây, húc phải Hàm rồng, cuộn xiết ào ào. Thuyền bè đi lại phải vững tay chèo lắm mới dám qua. Người sông nước bao giờ cũng bỏ mũ, bái chào mỏm Hàm rồng để cầu bình an trước dòng nước bạc. Dân trong vùng cung kính trước miếu thiêng trong núi Chẹ. Cạnh Hàm Rồng là mỏm đá hình phổ phục uy nghi. Núi rộng lớn, hình dáng đẹp, trong núi có các dãy phiến đá bằng phẳng có thể trải nhiều manh chiếu mở tiệc được. Trên bệ đá cao có bát nhang, ban thờ thờ thần núi, thờ Tản Viên Sơn Thánh và các “quan ngài”. Có một lối mòn đi ngang qua khu thờ tự, các mái đá từng trở thành “hang ổ” của những người ăn mày, kẻ lỡ độ đường. Có người ốm o đói khát từng chết rục xương trong đó. Giữa rừng già, dây leo, khỉ vượn và những bộ xương trắng, trong lòng Núi Chẹ càng trở nên huyền bí.
Từ sau Hòa bình lập lại, khoảng năm 1956, người ta đã kéo nhau lên thành lập Xí nghiệp khai thác đá Chẹ để lấy đá phục vụ công trình thủy lợi, làm đường sắt, đường bộ khắp nơi. Lúc cao điểm cả nghìn người đến quai búa quai tròng phá đá. Vài chục năm sau, núi Chẹ vẫn uy nghi, đền thờ vẫn u tịch, khỉ vượn vẫn nhảy nhót, hồ Tôm vẫn trong xanh và đôi lúc phải vén tôm cá ra thì mới sờ thấy nước. Bởi núi quá lớn, sức con người như hạt cát giữa biển đá tai mèo sừng sững. Những người yêu núi Chẹ bắt đầu thấy lo lắng, khi từng mảng núi trắng lốp trên nền trời, bởi người ta nổ mìn ẩy đá suốt đêm ngày. Rồi họ thuê thợ đến chụp ảnh kỳ quan quê mình về treo ở nhà để… tưởng nhớ. Bây giờ, nhiều hiểu ảnh ở Ba Vì, nhiều gia đình ở Khánh Thượng vẫn không ai bảo ai, tự thương nhớ rồi treo ảnh thế giới cổ tích núi Chẹ năm nào.
Đổi báu vật lấy vài đồng bạc lẻ
Sau gần 4 thập kỷ hoạt động, Xí nghiệp đá Chẹ giải thể vào khoảng năm 1990, bấy giờ núi Chẹ vẫn sừng sững. Bởi trước đây, người ta mới chỉ khai thác rất thủ công nhằm phục vụ nhu cầu cấp thiết của các công trình quốc gia. Sau này, nhiều tổ hợp, hợp tác xã, công ty, đơn vị lớn đã tìm cách “xâu xé” Núi Chẹ với tốc độ kinh hoàng. Họ mua kíp mìn và đủ loại vật liệu nổ trôi nổi, tự do phá núi, bất chấp các kiến thức và quy trình nổ mìn phá núi. Tai nạn liên tiếp, nhiều người chết thê thảm. Núi Chẹ bị gọt đẽo tang thương. Trong vài năm, người và máy móc đã “gặm” mòn vẹt, cụt nhiều ngọn của Núi Chẹ. “Hiện nay có 4 công ty, đơn vị cùng ầm ầm ra tay phá núi, chỉ có một đơn vị là có quy trình khai thác tương đối an toàn. Riêng Công ty Ao Vua đã có hơn 100 lao động. Trong vài năm vừa rồi, người ta chặt phá núi Chẹ với “sản lượng” bằng hơn 40 năm năm Xí nghiệp nhà nước kia đã khai thác”, ông Nguyễn Xuân Trường, Chủ tịch UBND xã Khánh Thượng thở dài. “Tôi sinh ra dưới chân núi, giờ vẫn ở dưới chân núi, thấy người ta phá núi rồi tai nạn thảm khốc, đau lắm. Mà người dân ở đó không được hưởng lợi gì, trong khi họ gánh chịu toàn bộ hậu quả của tiếng nổ mìn, bụi khói, nứt nhà cửa, tan nát đường xá. Cái phí môi trường ấy ai trả cho dân? Các kỳ họp HĐND huyện và thành phố vừa rồi, bà con cũng nêu nói nhiều về nguyện vọng là Nhà nước cần khẩn trương giữ lấy núi Chẹ. Nó là lá chắn bảo vệ cả vùng dân cư mênh mông trước nước lũ. Bây giờ giữ vẫn còn kịp. Đấy là chưa kể nhiều người có uy tín còn lo lắng về ý nghĩa tâm linh khi núi Chẹ, mỏm Hàm Rồng nổi tiếng bị phá…”, ông Trường tiếp.
Không một ai chúng tôi từng phỏng vấn (kể cả nhà sư trụ trì chùa Tản Viên lẫn người dân, cả cán bộ lãnh đạo địa phương lẫn người trực tiếp nổ mìn phá đá…) là không nói về những hậu quả tai hại của việc phá núi Chẹ. Số người chết do tai nạn và do những nguyên nhân mà người trong cuộc rất hoang mang cứ tăng dần. Chủ tịch Trường kể về từng trường hợp bị chết thê thảm trong quá trình phá núi Chẹ kiếm ăn. Nhiều bô lão ở khắp mọi miền tổ quốc về xí nghiệp đá Chẹ từ những năm 1960, đã hơn nửa thế kỷ sinh sống dưới chân ngọn núi huyền thoại này cũng thì thầm liệt kê tên từng nạn nhân, từng thảm cảnh một. Đơn cử: suốt 40 năm Xí nghiệp khai thác đá Chẹ phải trèo núi, lăn, vác từng viên đá xuống thuyền, xuống xe rất vất vả, họ không hề dám phá một “huyệt địa”, một mỏm núi thiêng nằm ngay dưới mép sông Đà như Hàm Rồng. Bởi họ tin, đó là một địa chỉ văn hóa tâm linh được nhiều đời trân trọng, chuyện ông Cao Biền thừa sống thiếu chết khi động vào linh địa linh sơn này thì ai cũng đã biết. Trong sách và trên mạng còn viết rõ.
Nhưng rồi, vì miếng cơm manh áo và một chút “anh hùng rơm”: ông Tô Hồng Thông (Thông “cụt”, ông này bị cụt tay bẩm sinh) và anh Nguyễn Thống Nhất ở xóm Tôm đã vác mìn đánh tan mỏm Hàm Rồng. Anh ta nghĩ: chỗ ấy, các vỉa đá ở gần, quá “ngon”. Tự dưng có vài xà lan đá. Sau khi “đình đám” với vụ phá Hàm Rồng, anh Thông cũng làm bát xôi, khẩu thịt vào đền thờ trong núi xin lỗi sơn thần thổ địa. Tuy nhiên, ít lâu sau thì anh Thông bị khối đá lớn lao thẳng vào, thi thể nát nhừ, cái đầu gần như… cụt. Điều rất lạ là chính người bạn phá núi của anh Thông, là Nguyễn Thống Nhất đã vô tình nổ mìn gây ra cái chết cho Thông. Chưa hết, ít lâu sau, cũng tại khu vực đó, anh Nhất bị ngã từ vách đá cao xuống, chết bất toàn thây. Con anh Thông thì bị cụt tay y như bố.
Không dị đoan đâu. Nhưng bà con đúng là rất để ý câu chuyện “khó tin” kia. Liên tiếp sau đó, các xóm lân cận, toàn thanh niên đột nhiên chết trẻ. Cứ anh nọ chết vừa tròn 50 ngày hoặc 100 ngày thì anh khác ra đi. Anh Bốn bị đá đè cụt cả hai chân, anh chàng Sơn bị đá ném đến phát bệnh tâm thần. Vừa rồi chúng tôi đến thăm, Sơn vẫn ngơ ngẩn nhặt bã mía ngoài chợ để… hít lại, vợ thì bị tai nạn chết, con gái ngã hố vôi chết nốt. Anh Trần Quang Nam sức tàn lực kiệt sau ca ngã núi làm kinh động đất Khánh Thượng. Có vụ sập cả ngọn núi, hai thi thể (anh Tú và anh Trung, đều SN 1975) bị vùi mấy ngày chưa tìm thấy. Có vụ, người xấu số đem chôn, cả chục ngày sau người ta mới tìm thấy mảnh sọ vùi tạm gần mộ cho đỡ tủi hờn. Có vụ đá đè xong, người thân phải múc cả bát óc nạn nhân bỏ vào khoang sọ vỡ. Có cô bé Lan 20 tuổi tự dưng chóng mặt rồi chết. Có anh Phong, rõ lực lưỡng đang quay nổ công nông, đứng ngẩn ngơ vài phút là “đi” luôn. Có anh Công nhét giẻ vào miệng mình, buộc dây điện trần quanh thân rồi… cắm phích vào ổ - tự vẫn.
Trước “thảm họa” của những cái chết trẻ liền kề đó, bà con sợ lắm. Họ truy tìm nguyên nhân bằng đủ kiểu, trong đó có mê tín dị đoan. Lại thêm người ta phá núi lấn mãi vào, đến nỗi các cụ không còn lối đi an toàn để ngày rằm mùng một vào thắp nhang trong miếu. Không còn cách nào khác, họ phải xin phép chính quyền, lập đền miếu mới, mời nhà sư về làm lễ di dời miếu ra phía ngoài, mời thần núi ra chứng giám. Cụ Hồng gần 90 tuổi được giao trông nom “di tích”. Bà Nguyễn Thị Hoan, một công nhân 70 tuổi với hơn nửa thế kỷ gắn bó với sự nghiệp phá núi Chẹ chủ trì hầu như mọi chuyện, bà cầm rá đi vận động mọi người góp gạo, góp tiền, có khi góp vài xe đá để dựng đền chùa cầu an. Chính con dâu bà Hoan cũng chết trong vụ đắm đò trước mũi Hàm Rồng làm 19 người vùi thây trong bụng nước. Ít lâu sau, con trai bà cũng chết, để lại 2 đứa cháu mồ côi. Em trai bà là Nguyễn Thanh Hải cũng chết trên núi Chẹ. Người ta “gửi” bát nhang của những người phá mỏm Hàm Rồng, chết vì đá núi đè hay sông Đà sâu hoẳm… ra ngồi “đền-chùa” mới lập. Bà Hoan đọc tên từng người chết thảm có bát nhang trước mặt mình: Nguyễn Văn Tâm, Tô Hồng Thông, Nguyễn Văn Thiệu, Nguyễn Thống Nhất, Nguyễn Thị Thanh Trà… Bất giác tôi lạnh xống lưng.
Nhìn những bát nhang lạnh lẽo, nhìn bức tranh sơn thủy Núi Tản Sông Đà trên đất Chẹ tang thương, lại thấy các nhà sư, các cán bộ, nhà khoa học và nhiều bô lão cùng dâng đơn xin bảo vệ Hòn Chẹ, bức bình bảo vệ xóm làng, di sản thiên nhiên, văn hóa, tâm linh quan trọng…, tôi không khỏi nghĩ đến cái tê tái của việc phá hủy kho báu để đổi lấy vài đồng bạc lẻ thấm đầy… máu của các nạn nhân đá đè. Hòn Chẹ lăn vào bi đát như hôm nay, dù thế nào, thì việc ấy vẫn thật bất nhẫn và đáng để xót xa.
Đ.D.H
Kèm chùm ảnh
Sunday, January 15, 2012 8:04:36 AM
Trước cổng TAND tỉnh Bắc Giang, ông Trịnh Văn Tín, ngoài 80 tuổi, phát điên bên pano về tội ác Luyện gây ra cho 2 cháu nội và con trai, con dâu ông.
Bài 1: Phía sau vụ thảm sát ở hiệu vàng Ngọc Bích:Cả gia đình thủ phạm và nạn nhân đều chung “kịch bản”: ly tán, đảo điên, bi đát!Suốt quá trình dài, kể từ khi vụ thảm sát tiệm vàng Ngọc Bích (phố Sàn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang) xảy ra, rồi ngày sát thủ kinh hoàng Lê Văn Luyện “lộ diện” và cả khi phiên tòa thu hút dư luận và báo chí ở mức chưa từng có trên đất Bắc Giang diễn ra, người ta ngày càng xót xa thấy rõ thêm những bi đát, ly tán, đảo điên trùm lút lên gia đình và nhiều người thân của cả nạn nhân. Điều bất ngờ hơn là đại gia đình thủ phạm cũng lao đao ly tán, đảo điên, bi đát không kém. Có lẽ, câu nói: người ta bình đẳng trước nỗi đau và lương tâm… là như vậy. Người bị giết thì đã chết rồi, người bị chém thì cũng đã đổ máu và tàn phế rồi, kẻ những kẻ bị pháp luật trừng trị thì cũng đã đành một nhẽ rồi. Nhưng, cái còn dai dẳng mãi là nỗi ám ảnh, sự mặc cảm, ký ức kinh hoàng của những người liên quan, người đang sống ở cả hai “chiến tuyến”. Cả gia đình Lê Văn Luyện, Luyện và bố đẻ (Miên) bị bắt giam và đưa ra tòa, mẹ (Thơm) và hai em trai đi biệt tăm tích vì lý do mặc cảm, xấu hổ và “sợ bị trả thù” (dù chưa một ai nghe tin gia đình anh Ngọc có “ý định” này!). Ông bà nội của Luyện (ông Ngà, bà Ngưng) đều ngoài bảy mươi tuổi, nghèo khổ sống trong hiu quạnh và nỗi mặc cảm có lẽ là đến…. hết cả cuộc đời. Họ không dám bước ra khỏi nhà, không dám nhìn mặt xóm giềng.
Gia đình nạn nhân Trịnh Thành Ngọc thì ông bố Trịnh Văn Tín, hơn 80 tuổi, ngày nào cũng ngơ ngẩn đi lang thang khắp làng và làm thơ buồn bã để rồi nhiều trang báo mạng đã có dịp đăng tải. Thơ viết về nỗi đau mất mát, sự bi phẫn và tăm tối của cuộc sống phía trước. Ông ôm di ảnh phóng to về những nạn nhân bị chết thê thảm trong tràn ngập máu đỏ, ông gào khóc, bất bình thảm thiết khi dự phiên tòa xét xử Lê Văn Luyện ngày 10 và 11 tháng 1 năm 2012. Anh Ngọc, chị Chín, bé Thảo 18 tháng tuổi đã chết. Bé Bích bị chém lìa tay, giờ phải đưa đi sống ở tít trong Bình Thuận, người ta phải giấu biệt tung tích của bé, cũng như tuyệt đối không cho bé tiếp cận với thông tin rằng bố mẹ và em gái cháu đã chết bất toàn thây. Dĩ nhiên, bé Bích không có mặt ở phiên tòa. Thân nhân anh Ngọc và chị Chín đa phần vì quá sầu thảm, hoang mang, cuộc sống bị đảo lộn với những sang chấn tâm lý chưa biết bao giờ mới “hoàn hồn”.
Mấy tháng qua, có lẽ và ở đâu, cũng dễ dàng thấy người ta kinh hãi nhắc đến sát thủ Lê Văn Luyện và những rầm rĩ đôi khi quá vô lý bất ngờ bí ẩn từ vụ án. Nhà của các nạn nhân và thủ phạm Lê Văn Luyện ở rất gần nhau. Gió lạnh buốt, đường quê chật hẹp, những con ngõ hẹp quanh co, màu đất đỏ hiu quạnh. Thái độ đề phòng, dè dặt ở khắp nơi, từ xóm mạc đến cán bộ cơ sở, đặc biệt là sự co mình phản ứng “đuổi khách” của cả gia đình nạn nhân và người thân thủ phạm. Tiệm vàng Ngọc Bích sau thảm họa thường xuyên đóng cửa im ỉm, chỉ vài người thân thỉnh thoảng qua lại thắp nhang trên bàn thờ 3 người cùng chết thê lương hãi hùng trong ít phút đó. Gia đình ly tán tột cùng, ngôi nhà của bố con Lê Văn Luyện ở cách cổng UBND xã… 5m, cũng bị bỏ hoang hoàn toàn. Bố con Luyện bị bắt giam rồi đưa ra xét xử, mẹ Luyện ôm đứa em trai 3 tuổi của Luyện đi biệt tích. Em trai Luyện tên là Lê Văn Long, đang học lớp 11 trường ở Phố Sàn (gần nhà nạn nhân!) đã bỏ học và cũng… biến mất luôn. Long xuất hiện ở phiên tòa, với vẻ mặt và tâm trạng vô cùng âu sầu và mặc cảm. Giờ giải lao, Long đeo khẩu trang bịt mặt, lang lảng đứng ở các góc khuất rầu rĩ. Cánh báo chí và những người liên quan, muốn tìm hiểu vụ việc, có lẽ chỉ còn một địa chỉ hiếm hoi, đó là ngôi nhà mà ông nội và bà nội Luyện đang sinh sống. Cổng buộc bằng tre gai, lớp gạch cũ đã mòn vẹt đỏ ối cũ càng, nhà lợp ngói và nghèo đến mức không thể nghèo hơn. Trong nhà chỉ có vài cái giường tre ọp ẹp. Ông Lê Văn Ngà, 71 tuổi và bà Trương Thị Nhủng (vợ ông) 70 tuổi đang sống trong cô quạnh. Họ không dám bước chân ra khỏi nhà, vì mặc cảm, vì nhục nhã có đứa cháu tàn độc. Đeo một đôi dép tông đứt toác, thủng lỗ chỗ, quai vá chằng đụp, ông Ngà kiên quyết không nói gì khi gặp bất cứ nhà báo nào. Khi chúng tôi theo đoàn cán bộ giáo dục đến hỏi về tình hình cậu học sinh cấp 3 Lê Văn Long bỏ học kéo dài, ông Ngà mới ra lời, thủng thẳng: tôi cũng không gặp nó được đâu. Nghe nói nó sợ bị đánh, bị giết, đã bị chửi bới và ném đá khi đến trường, nên nó bỏ học và đi làm thợ xách vữa ở xa lắm. Từ ngày xảy ra vụ thảm sát với thông tin cháu nội mình là thủ phạm, ông Ngà và bà Ngưng chưa bao giờ gặp lại cô con dâu. Chỉ biết là con dâu ông (Thơm, mẹ Luyện) có tiền sử bệnh… dễ bị sốc tâm thần. Khi đọc báo thấy có kẻ giết cả nhà chủ tiệm vàng, Thơm đã căm phẫn chửi bới đứa nào độc ác. Khi biết đứa đó là con trai mình, Thơm như ngất đi, nói năng lảm nhảm. Rồi Thơm bị bắt tạm giam, bị khởi tố và rồi được cho tại ngoại. Lập tức Thơm bế con đi biệt, nói là về nhà mẹ đẻ. Đến nay, cũng hầu như chưa có ai biết đích xác Thơm và cậu bé 3 tuổi ấy đang ở đâu.
Trong suốt thời gian xét xử, ông bà nội Luyện không đến dự tòa được, cũng có thể vì họ quá “mặc cảm tội lỗi”. Trước giờ diễn ra phiên tòa xét xử Lê văn Luyện và các đối tượng, chúng tôi trở lại xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam, vào thăm ông bà nội của Luyện. Ông cụ ốm o, có thằng con trai duy nhất thì bị bắt giam và khởi tố, cháu đích tôn cũng chung số phận. “Ly tán đảo điên hết cả”, ông thở dài; tay cầm cái sổ bán thịt lợn chịu mà gia đình Lê Văn Miên (bố của Luyện) trao lại, ông bảo, đi đòi khắp các địa chỉ trong làng đã mua chịu thịt lợn của đồ tể Miên, nhưng chả ai chịu thanh toán cả. Có lẽ họ quá nghèo, nhưng còn lý do nữa là họ quá tởm “đồ tể Luyện” (?). Ông Ngà 71 tuổi ấy, bây giờ trắng tay, không ai chăm sóc. Bà cụ ngoài 70 tuổi lặng lẽ đem sọt phân đi bón ruộng, ông bà đang tính cày cấy trở lại, chứ bây giờ không có ai nuôi nấng thì chết đói à. Ra đường hàng xóm động viên: “ông bà cứ ngửng mặt lên, ai làm người ấy chịu, ông bà sống có hại ai bao giờ, bận gì mà mặc cảm. Nói vậy thì ừ vậy, nhưng mặt thì vẫn không ngửng lên được”, bà Ngưng nói. Ông bà kiên quyết không tiếp chuyện nhà báo. Hôm chúng tôi đến, căn nhà hiu quạnh núp dưới tre pheo của ông bà đông đúc lạ thường. Hóa ra là thân nhân của Luyện và cả những người liên đới từ Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn kéo về chuẩn bị dự tòa (cô ruột và chú rể Luyện bị khởi tố vì chứa chấp Luyện những ngày y chạy trốn lên đó). Cả nhà cay đắng nói: “Tòa cho vào bao nhiêu người thì chúng tôi đi dự tất bấy nhiêu”. Họ kể, bị nhà báo săn lùng quá. Hôm trước nhà báo lên tận nhà họ ở Văn Lãng, “đuổi” không đi, trốn không được, họ phải gọi bộ đội biên phòng đến… giải quyết!
Những người hàng xóm nói nhà Luyện nói rất sòng phẳng: bố Luyện (Lê Văn Miên) lấy vỏ thùng mì tôm giấu cả “núi” vàng tiền tỷ mà Luyện cướp được ngoài chuồng lợn suốt mấy ngày. Vàng vào nhà mà chả được… tiêu. Rồi bị bắt giam và ra tòa, âu cũng là cái hậu quả của lòng tham lam và sự mù quáng. Bố Luyện học hết lớp 12, cái thời của Miên ấy, thế cũng thuộc vào hàng “ăn học đến nơi đến chốn” ở làng rồi. Ông cụ Ngà tử tế, Miên (bố Luyện) cũng chưa từng hiềm khích với ai. Cả Luyện nữa, dù chỉ học hết lớp 9 rồi đi kiếm ăn tứ tán, nhưng ở quê, Luyện chả “gấu mèo gấu biển” như người ta thường nghĩ về một sát thủ máu lạnh. Hắn bảnh bao, nói năng nhã nhặn, gặp ai cũng chào rõ to, ngỡ tử tế, mà hóa ra là đứa tàn độc chưa từng thấy. Một bạn học của Hồng (anh họ Luyện, người bị khởi tố do có hành vi che giấu tội phạm - dùng xe máy chở Luyện đi trốn) cho biết: “Thằng ấy vạch bụng nó ra, toàn “rết”… bò lổm ngổm thôi. Là vì nó bị phẫu thuật tim, thay van tim mất những 70 triệu hồi cách đây dăm bảy năm là to tiền lắm. Hồi đi học, bọn em cứ đùa một tí là nó đã ngất xỉu. Thế mà ai ngờ nó “tiếp tay” cho sát thủ độc ác như thế. Lại cả bố mẹ nó cũng bị khởi tố”. Nhiều người cô dì chú bác của Luyện đều chán nản: thằng Luyện vùi dập cả tương lai, cả niềm vui giản dị nhất và cả danh dự của họ. Cụ Lê Văn Đệ, chú ruột của… ông nội Luyện (Luyện phải gọi bằng cụ) thở dài: tôi ngần này tuổi, tưởng rằng lão giả an chi (vui tuổi trời), ai ngờ đến cái đận này. Tủi hổ, cô độc, lo lắng. Thằng Long bây giờ nó khổ quá. Nó bỏ học đi xách vữa lẩn lút thế, biết đời sẽ đi về đâu? Đấy là chưa kể các khoản bồi thường mà Luyện và gia đình phải trả cho thân nhân những người bị hại trị giá hơn 1 tỷ đồng mà gia đình bị hại và luật sư yêu cầu trước tòa. Sau phiên tòa, bố con Luyện lãnh án, Long bỏ học đi biệt, mẹ Luyện “thần kinh”, em nhỏ 3 tuổi thơ ngây chưa hiểu gì, ông bà nội gần đất xa trời nghèo đến độ không thể nghèo hơn - ai sẽ trả tiền “đền bù” cho gia đình người ta?
Ông Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Phương Sơn là người cùng đi bộ đội, cùng bạn bè với nạn nhân Trịnh Thành Ngọc từ nhỏ, cho biết: anh rất đau lòng mỗi lần nhìn thấy ông Trịnh Văn Tín, bố nạn nhân cứ đi lang thang trong làng. Ngày nào ông cũng lang thang lẩn thẩn như thế. Ông đau đớn, cô đơn, muốn tìm người để nói chuyện. Ông làm thơ… con cóc. Ông Tín có tới 7 người con trai, con gái, con dâu và cháu bị… chết trẻ, chết vì những rủi ro đáng xót xa nhất. Bà con từng chứng kiến ông Tín rất bản lĩnh trong một đám tang người con chết vì tai nạn. Nhưng bây giờ thì ông đã “ngã quỵ” thật sự. Ông ngơ ngẩn đến mức có người bảo ông bị trầm cảm, thần kinh. Ông ra tòa, đứng trước các bức ảnh phóng từ tư liệu “thi thể” thương tâm rợn người máu me của các nạn nhân và cứ thế diễn thuyết, rằng “sao khủng khiếp thế, sao bất nhân thế, có còn là xã hội loài người nữa không?”. Rồi ông khóc lóc. Ông Tín là giáo viên về hưu từ mấy chục năm trước, từng lập nghiệp bằng nghề bán sổ số, bán sách báo ở cổng chợ Sàn (thật oái oăm là… gần nhà nạn nhân!). Sau này ông truyền nghề đó cho Trịnh Văn Sinh, con trai ông, anh trai nạn nhân Trịnh Thành Ngọc. Nhà anh Sinh cũng cùng dãy phố Sàn với tiệm vàng Ngọc Bích. Bản thân nạn nhân Trịnh Thành Ngọc là người hiền lành, làm nghề lái công nông đầu ngang, rồi tích cóp mua sắm chuyển sang… công nông đầu dọc, xuất khẩu lao động sang Hàn Quốc, về mua ô tô, kinh doanh vàng, bất động sản. Anh ta rất hiền lành. Vì thế bà con và chính quyền cơ sở ai cũng choáng váng khi được tin, nặng lắm thì Luyện cũng chỉ bị xử mức án 18 năm! Họ đều cảm thấy khó chấp nhận điều đó. Nhiều người chắc nịch khẳng định linh cảm của cá nhân họ: rằng Luyện không thể gây án một mình mà lại bình tĩnh, “hoàn hảo” như vậy được. Anh Hương, một họa sỹ trình bày báo Bắc Giang, anh trai nạn nhân Đinh Thị Chín (vợ chủ tiệm vàng) là người hiểu biết và vốn cởi mở. Thế nhưng từ ngày thảm họa xảy ra, anh hầu như khép mình, và tuyệt đối tránh gặp gỡ các đồng nghiệp. Anh lăn lóc chết ngất trước tòa. Gia đình cho biết, có thể cháu Trịnh Ngọc Bích sẽ được đi phẫu thuật tiếp tục “cứu” cánh tay bị Luyện chém đứt lìa ở Hàn Quốc hay Singapore. Bây giờ, gia đình đem cháu đi “giấu” tuyệt đối theo đúng nghĩa đen. Họ sẽ lựa lời nói cho cháu biết thảm họa trong một dịp có thể. Cháu vẫn nghĩ em gái và bố mẹ mình còn sống và đang đi chữa bệnh. “Cũng may, người Phố Sàn cũng “hiểu biết về y học”, nên hôm xảy ra thảm án, họ đã đem cánh tay bị chém đứt của bé Bích đi cất trong tủ đá. Giờ tay của cháu đã cử động được một chút sau ca phẫu thuật”, ông Cường, Phó Chủ tịch UBND xã Phương Sơn cho biết.
Nhiều người hiểu chuyện, bà con ở hai xã nơi gia đình nạn nhân và thủ phạm sinh sống, họ muốn “tùng xẻo” Lê Văn Luyện. Và họ cũng thấy quá thương tâm cho số phận của các nạn nhân (dĩ nhiên!) cùng người thân của họ. Họ cũng chia sẻ với cả… gia đình thủ phạm nữa. So sánh nào cũng khập khiễng, nhưng đúng là cả đàn ông đàn bà, người già người trẻ của gia đình “hai bên” đều khủng khiếp với “kịch bản” như nhau. Ai gây án người đó phải đền tội, đó là việc của luật pháp cần thượng tôn. Nhưng đúng là cả hai ngôi nhà đều bị bỏ hoang, cả hai bên ông bà, bố mẹ con cháu đều ly tán, khổ sở, dằn vặt, hãi hùng. Tất cả chỉ vì con quái thú Lê Văn Luyện. Ít ra thì ông bà nội gần đất xa trời của Luyện, đứa em trai bé bỏng 3 tuổi của Luyện, họ có lỗi gì mà phải gánh chịu “tai ương” như ngày hôm nay? Luyện bảo, nó làm nó sẽ gánh chịu, tử hình cũng chịu được. Song, có người đặt vấn đề: nếu biết nghĩ đến cả “tổ tông”, cha mẹ, ông bà, cô dì, chú bác, anh em xa gần của mình đều bị khổ sở đến ngần ấy, có lẽ Luyện sẽ “nghĩ lại” chăng? Đấy là chưa kể thảm họa kinh thiên với những người bị hại và gia đình họ, cũng như sự tổn thương quá lớn cho cả xã hội. Tiếc thay, “thú độc Lê Văn Luyện” đã không nghĩ được như vậy. Ta nên gọi đó là nỗi đau nằm ngoài Lê Văn Luyện và nằm ngoài thi thể các nạn nhân!
Nhóm PV
Bài 2:
Những tiếng reo hò vô học, vô cảm và đáng xỉ vả nhất trong phiên tòa xử Lê Văn Luyện…Vì quá sốc với những tình tiết chưa từng có của vụ cướp tiệm vàng Ngọc Bích (Bắc Giang), tôi đã có mặt ở hiện trường 4 người bị sát hại kinh hoàng đó rất sớm, đã vào gặp “hỏi cung” Lê Văn Luyện sau khi hắn bị bắt, đã dự phiên tòa đầy công phẫn sau đó. Thế nhưng, bên cạnh những ám ảnh chết chóc và sự tàn độc của “con thú đội lốt người”, tôi còn mất ngủ và choáng váng bởi một lẽ… bên ngoài tất cả những điều trên. Đó là tiếng hò reo, tán tụng của những người trẻ ăn mặc bảnh bao, thời thượng, nhơn nhơn có mặt, nhảy nhót “xưng tụng Lê Văn Luyện” ở trước cổng Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang hôm đó…
Nếu thiên hạ mượn tay những đứa dưới 18 tuổi như Lê Văn Luyện để “thanh toán” nhau thì sao?
Trong khi gia đình nạn nhân lăn lóc kêu gào dưới đất, cả xã hội chua xót sững sờ vì tội ác của Luyện thì những “quái thai” của xã hội mang gương mặt nam thanh nữ tú kia lại tìm cách “lọt” được vào phòng xét xử, hớn hở nói cười kéo nhau chen lên xem mặt “anh Luyện”, có nhiều cô còn xuýt xoa rên rỉ khen “anh Luyện đẹp trai”. Có đứa hư đốn còn hô lớn “Anh Luyện, em sẽ đợi anh về sau 18 năm!”. Tiếng cười đùa rúc rích râm ran. Lúc cảnh sát “kèm” Luyện từ phòng xử số 2 ra xe, những đứa vô cảm còn giơ tay lên vỗ bồm bộp rồi vẫy lấy vẫy để như đang vui vẻ chào đón một “ngôi sao điện ảnh” vừa rời khán phòng “đóng phim” xử án. Ở một số vùng quê và trên diễn đàn mạng, nhiều đứa xưng là “đàn em của Lê Văn Luyện” rèn dao kiếm và yêng hùng kiểu sát thủ, nhiều nhóm “phát cuồng vì Lê Văn Luyện” thậm chí gọi Luyện là “ca ca”, “đại ca” cùng những “biếm họa” với đủ cảnh Luyện cưỡi ngựa, đeo gươm, làm siêu nhân bảnh chọe. Lũ choai choai “hâm mộ” Luyện đã tôn sát thủ máu lạnh kia lên thành đại ca của những “băng đảng giang hồ”.
Khi Luyện cúi đầu thừa nhận tội ác của mình trước tòa, gia đình nạn nhân gào khóc thảm thiết, có người quỵ xuống vì thêm một lần bị đày đọa bởi cảm giác mất mát không thể tưởng tượng được. Nhiều người, không phải thân nhân của các bị hại, có mặt ở phòng xử án hôm đó đã bật khóc vì xót xa. Tôi cũng nhiều đêm mất ngủ bàng hoàng bởi nỗi ám ảnh xung quanh lời khai trần trụi của Luyện hôm gặp tôi và các chiến sỹ công an tại trại giam, Công an tỉnh Bắc Giang. Nỗi khủng khiếp kia đã khiến nhiều người tự hỏi: chúng ta đã làm gì để đời này sinh ra quái thú như Lê Văn Luyện? Người ta càng hỏi câu đó nhiều hơn, khi mà phiên tòa sơ thẩm kết thúc, Luyện chỉ nhận mức án 18 năm, theo đúng quy định luật pháp hiện hành. Nỗi đau nhân lên. Trên tờ Tuổi trẻ và Đời sống của chúng tôi, nhà thơ nổi tiếng Trần Đăng Khoa có đưa ra một ý kiến mà đại đa số người có trách nhiệm với lương tâm và xã hội đều đã từng nghĩ đến: nếu việc thảm sát không thể lạnh lùng và tàn độc hơn của Luyện chỉ bị xử mức án 18 năm như vậy, thì liệu chúng ta có vô tình khiến những kẻ dưới 18 tuổi khác cứ “tự tin” gây án, với niềm tin chỉ bị xử “nặng nhất là 18 năm tù” không? Liệu có những đám giang hồ thuê mượn bàn tay đứa nào đó dưới 18 tuổi để thanh toán lẫn nhau không? Bên cạnh tiếng khóc thảm thiết, bên cạnh những thân nhân bị hại ngất lịm vì đau đớn, giờ lại có thêm nỗi đau tội ác chưa bị trừng trị xứng tầm.
Những quái thai dưới dạng “nam thanh nữ tú” dễ làm người ta đau đớn đến mất ngủ!
Giữa bối cảnh oái oăm kể trên, tòa tạm nghỉ sau cả ngày tranh luận, đọc cáo trạng, xét hỏi. Lê Văn Luyện bước ra khỏi khu vành móng ngựa. Xe đặc chủng của lực lượng cảnh sát đã chờ sẵn. Ông Tín - bố của nạn nhân đã chết Trịnh Thành Ngọc, ông nội của cháu Bích (bị Luyện chặt cụt lìa cánh tay và chém nhiều nhát “nát” cơ thể) và cháu Thảo (18 tháng tuổi bị Luyện cắt cổ chết) vẫn đứng ở cổng tòa án, điên dại chỉ tay vào những bức ảnh các thi thể người phóng to như… bức tường đỏ ối toàn máu. Ông như phát điên vì mất mát và bất bình. Tôi tranh thủ nói phỏng vấn ông vài câu. Tôi và ông Tín dở chuyện, thì tiếng ồn ào rộ lên. Nhiều người vẫn hô “tử hình Lê Văn Luyện, mạng đổi mạng!”, “Giết chết nó đi!”. Ông Tín hớt hải: “Chúng nó giết thằng Luyện rồi ư?”. Gương mặt ông thất thần, ông từng lang thang khắp mọi con đường trong xã Phương Sơn như người tâm thần vì cú sốc quá lớn kia.
Nhưng than ôi! Sự thực ngược lại, ông Tín ạ. Chúng tôi nhìn dáo dác. Hóa ra những em gái được coi là “non tơ xinh xắn” mà tôi đã nhìn thấy từ sáng đang cởi bỏ lốt nữ sinh.
Sáng sớm, trời lạnh. “Rét Thái Nguyên rét về Yên Thế”, mùa này Bắc Giang lạnh lắm. Song, sau khi thấy các em hô hào, tôi thấy buốt lạnh vì gió mùa Đông Bắc thì ít, mà đau vì pa nô áp phích các nạn nhân bị cuồng sát đầy máu me, cổ bị cắt, bàn tay đứt lìa trắng hếu của Bích… thì nhiều. Giữa lúc ấy, ríu ran, cười duyên, ăn mặc sexy, các em gái xuất hiện như đi trẩy hội. Không biết chúng là học sinh, sinh viên? Hay gái đú mới lớn đã thất học? Chỉ biết chúng rất trẻ. Hầu hết chúng đeo bít tất bó sát cơ thể từ chân lên đến… mông, mặc váy, hoặc choàng áo len cũng… đến hông. Chúng đi như trình diễn thời trang, bước chân líu ríu, cười nói vô duyên kinh khủng. Các cụ bảo “nhân bất học bất tri lý”, loại vô cảm và bất biết lý lẽ nhân ái ở đời như thế, dù có học đến…lớp 12 hay đại học thì cũng vẫn thuộc loại vô học. Đỉnh điểm của sự vô cảm, vô học và vô duyên, là khi Luyện bước từ phòng xử án lên xe đặc chủng, chúng hò reo, vỗ tay, vẫy tay. Lắm đứa khen Luyện đẹp trai, bảo Luyện là anh hùng hào kiệt, thậm chí (tai chúng tôi trực tiếp nghe, có clip và lời bình mà báo chí cũng đã trích đăng rồi!): chúng bảo anh Luyện à, anh Luyện ơi. Có đứa bảo “em sẽ chờ anh Luyện đến khi anh ra tù” (18 năm). Có người chứng kiến cảnh đó đã gào lên chửi bới. Và tiếng ầm ĩ “tán tụng” Lê Văn Luyện “đẹp trai lạnh lùng”, “anh hùng (!)” đã thêm phần “bốc lửa” bởi lời nguyền rủa của người tử tế kia.
Khi đó, chúng tôi đã không dám tin vào tai mình nữa. Sự công kích lên đến tột độ trong nhiều người. Bất biết, đám thanh niên, nhiều đứa đeo phù hiệu học sinh vẫn nhơn nhơn nhìn theo xe tù chở Luyện đi hút qua khu cổng Công an tỉnh Bắc Giang. Chúng rinh rích cười. PGS.TS Trịnh Hòa Bình, Giám đốc Trung tâm dư luận xã hội (Viện xã hội học Việt Nam), sau khi xem clip “tán tụng Lê Văn Luyện ngay ở cổng tòa” đã coi đây mà một thứ “dị biệt”, lệch lạc, kỳ quái, “muốn thoát ra khỏi “đạo đức truyền thống”…để khẳng định mình! Chúng tôi đồng ý với quan điểm này, nhưng thấy cần phải nói toạc ra: gia đình, nhà trường, xã hội đã làm gì để sinh ra những quái thai như Luyện và đám “đàn em” của y - trong đó có những nam thanh nữ tú đứng vỗ tay, miệng kêu “ê! Ê! dê! dê!” ở cồng tòa án kia? Tôi đã nghe nhiều người nói lên tâm trạng thật của họ (cũng là của tôi!) lúc đó, rằng nên xem lại clip, nên điều tra để cho độc giả biết những cô bé cậu bé tuổi xấp xỉ tuổi Luyện kia nó con cái nhà ai, người đáng xấu hổ nào là cha mẹ ông bà, là thầy cô giáo của chúng nó? Nó còn vô học và vô cảm như thế, nghĩa là xã hội còn nhiều khả năng phải đón nhận thêm những “con thú hình mặt người” như Lê Văn Luyện. Như thế nghĩa là tất cả chúng ta đều có lỗi khi để chuyện tôi vừa kể là có thật trên đời.
Rùng rợn hơn là việc nhiều nhóm người trên mạng internet lưu hành cả trò chơi điện tử với hình ảnh gương mặt Lê Văn Luyện với áo xống tưng bừng rinh rượp làm…biểu tượng. Họ tôn xưng Luyện với đủ các danh hiệu tởm lợm, họ bày tỏ niềm “sùng kính” gã sát thủ trời không dung đất không tha kia với những lời lẽ của “đệ tử”, “tiểu muội” trước…đấng bề trên. Lê Văn Luyện có khi hai tay hai súng, có khi mặc long bào hay hoàng bào gì đó, có khi cưỡi ngựa hoặc bay như mây như gió trên cõi thần tiên. Lắm lúc, Luyện trở thành một hiệp khách trong kiếm hiệp nọ kia. Chúng sáng tác bài hát, trường ca về Luyện, rồi có nhà báo vào trại giam gặp Luyện đã hỏi Luyện có nghe không, có biết “diễn biến kỳ lạ” đó không, Luyện bảo có, “có anh mới nhập trại kể rằng ở ngoài người ta nói và viết về Luyện “ngộ” lắm”. Sự quái dị, quái đản, quái thai của mấy đứa trẻ vô giáo dục, bất thành nhân ở ngoài đời đôi khi còn khiến đứa “quái thú” đang bị giam sẵn sàng nhận mức án “tử hình” như Luyện phải…mỉa mai bật cười. Tôi nhìn Luyện cười, cứ nghĩ Luyện đã rất khinh bỉ cái bọn “đàn em” kia lắm. Ví dụ như nhóm “đàn em của Lê Văn Luyện” ở xã Điện Nam Trung (huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam). Bọn choai choai vừa nứt mắt ra đó đã tập hợp lực lượng, đóng góp tiền, mua máy cắt mài kim loại cầm tay và sắt théo về tự tạo 5 cây mã tấu dữ tợn. Mỗi mã tấu dài gần bằng thân thể chúng, to bản, sáng choang đều được khắc thương hiệu của nhóm “Sống về đêm”. Chúng múa mã tấu, dí vào cổ nhau như phim chưởng, rồi chụp ảnh, tải lên blog của nhóm “Đàn em của Lê Văn Luyện”. Nhiều đối tượng trong số này bị công an bắt, truy nã và xử lý nghiêm khắc. Các thành viên của nhóm “Sống về đêm” gồm: Đặng Quang Vũ, Võ Như Lộc, Tiêu Lanh, Nguyễn Mã Nhật Trung, Võ Như Đông…; nhiều đứa bỏ ngang tuổi học, bố mẹ bỏ bê, số tiền án tiền sự, thành tích bất hảo của chúng đã sớm dài như… tuổi đời. Chao ôi!
BOX:
PGS.TS Trịnh Hòa Bình, sau khi xem clip “tán tụng Lê Văn Luyện” ngay ở cổng tòa án tỉnh Bắc Giang đã nói những lời tưởng như ngoài vụ việc mà lại rất đúng bản chất vấn đề: “Bây giờ xã hội của ta nhiều chuyện thị phi quá, điều này thì có cả yếu tố từ bên trong và ảnh hưởng từ “văn hóa ngoại lai”. Giá trị nhân văn đang bị bóp méo trong nền kinh tế thị trường, người người giành giật địa vị, tiền bạc một cách không đàng hoàng. Họ cười nói bắt tay nhau một cách giả dối” (theo Báo điện tử Giáo dục Việt Nam).
Bài ảnh của: Nhóm PV
Sunday, January 15, 2012 7:53:01 AM
Tết trong “trại nữ” vui hơn về nhà…
Phóng sự của Đỗ Doãn Hoàng
Ngót một nghìn học viên cai nghiện và phục hồi nhân phẩm sau khi bị bắt giữ từ các ổ bán dâm đó luôn gây cho tôi cảm giác thật khó để tin tưởng. Chẳng là người đời vẫn cửa miệng: “đừng nghe cave kể chuyện, chớ tin con nghiện trình bày”. Đấy là chưa kể, quá nhiều “em” trong số này vừa nghiện lại vừa bán dâm chuyên nghiệp! Thế nhưng, khi tôi và anh Giang, Phó Giám đốc Trung tâm giáo dục và lao động số 2 (Ba Vì, Hà Nội) “đánh bài ngửa” thì hiệu ứng loại trừ nói dối rất tích cực. Không quay phim chụp ảnh, không hỏi tên tuổi và hỏi em là điếm hay là nghiện, ta tâm sự như những người đàn ông đàn bà Việt chuẩn bị đón năm mới nhé. “Thế thì, việc quái gì mà nói dối cho nó phải tội cái mồm”, một cô môi tím rắt, da tái xanh, mặt lỗ chỗ lở loét đột nhiên triết lý.
Cave đi ô tô xịn, va ly kéo, tha thướt về quê…
Cười ran ran. Rồi tiếng khóc thút thít. Lại một cái Tết nữa, Tết năm con Rồng 2012. Lại gói bánh chưng, lại thi nhảy bao bố, lại cả trại xôn xao trao giải cho người trưng bày ban thờ ngày Tết đẹp nhất. Hương, cô gái Bắc Ninh trắng nõn và tròn trịa, làm “gái” mấy năm rồi mà vẫn ngơ ngác như thôn nữ thơ ngây. “Làm gì mà chứ chạy nhặng lên thế”. “Sắp tết, em được ra “trại” về nhà, đi chào các anh các chị ấy chứ”. “Gớm, dự nốt cái Tết ở đây cho vui”, một cô nói. Hương nhỏ nhẹ: “Gái như em, Tết vẫn đứng ở chân cầu Thăng Long. Có khi vào phòng “thư giãn” thì cũng toàn phục vụ mấy ông say rượu, trốn nhà được vài chục phút đến vài tiếng là cùng. Rồi mình ở một mình chờ xem “thiên hạ đón xuân sang”. Tết là mùa làm ăn, khách đông nên cũng chả cô nào muốn về làng. Vả lại, cả làng biết em vừa nghiện vừa làm đĩ, về làm gì cho bố mẹ, gia đình thêm nhục, anh ạ”.
Một cán bộ lãnh đạo trung tâm ngồi cạnh bảo: nhiều cô đến đây, với cái tên… giả, lý lịch mù mờ, nhưng “trải nghiệm hành nghề” thì chắc không thể làm giả. Hầu hết các cô đều thuộc loại rẻ tiền, “đứng đường”, “hàng thải loại” thì khi bị bắt mới vào đây. Số còn lại họ…tìm đường ra hết. Cho nên, cách đây vài năm, trung tâm phục hồi nhân phẩm này đúng là có nhiều cô dễ gợi ta nhớ đến các cụm từ xót xa “sắc nước hương trời”/ “mưa sa vũng bùn”.
Bây giờ thì hầu như không có chuyện đó. Các cô đẹp, biết giấu nghề hư của mình, được bao bọc bởi tiền và những gã đàn ông thích hoa nguyệt, có khi Tết đến họ đi ô tô xịn, kéo va ly bóng nhoáng rồi tha thướt về để “mát mặt” với cả làng cả xã vì…thành đạt xứ người. Chứ những cô mà chúng ta đang gặp, họ đều mặc cảm không dám ngửa mặt lên. Ví dụ: gái mại dâm thì hầu hết là “khách quen” của trung tâm với vài ba lần vào lại ra…đứng đường. Gái nghiện, thì nghiện oặt rồi, hết thuốc chữa rồi họ mới làm hồ sơ từ địa phương gửi vào đây, mỗi “tua” là 24 tháng. Thế nghĩa là phải ăn 2 cái tết trong trại. Như chị Mai Anh này, nhà ở Bưởi, chồng nghiện liên tục ở tù, con trai cũng nghiện và đang ở tù, chị ấy thì vào đây “cai” 3 tăng rồi. Vị chi là 6 năm ròng đón xuân trong góc núi Ba Vì này.
Nghe những lời thẳng thắn, chân thành và ít nhiều thương cảm đó, vài cô đã bật khóc. Nguyễn Thị Phúc, cô gái 22 tuổi, tự giới thiệu mình là con nghiện (chứ không phải cave, các cô rất ngại khai mình là cave!): “Nhà em ở phố Tây Sơn, gần Gò Đống Đa. Hồi đi học, ngày nào em cũng đi qua tòa soạn Báo Lao Động các anh. Năm 2011, em vào “trại” được 2 tuần thì đến Tết. Lúc đầu em khóc lóc ầm ĩ. Ở ngoài kia em đi bụi, ngủ công viên, “chơi” trong nhà nghỉ. Giờ “giam” em ở đây mà lại đón Tết thế này thì chết mất. Ai ngờ, Tết trong này vui lắm. Ai cũng rơi vào cảnh khổ, nên chẳng ai khinh ai, không bị mạt sát là con nghiện, con đĩ như ngoài đời”.
Ngoài hai mươi tuổi, Phúc đã có tới 5 năm bỏ học đi bụi. Em chỉ về nhà khi ần ăn cắp hoặc xin xỏ bố mẹ lúc không còn “đạn” để chơi. “Đời dạt nhà như em, lại thân gái hư hỏng…làm gì có chuyện vui Tết hả anh?” - Phúc sụt sịt. “Ai ngờ vào trại, Tết có tiệc tùng, vừa lao động vừa vui chơi. Em thích nhất nhảy bao bố. Trùm cái tải vào hai chân và ngang hông mình rồi nhảy đi từng bước. Khó lắm nhé. Ai nhanh sẽ thắng. Thi nấu cơm, thì gói bánh chưng, thi bày cỗ. Em đặc biệt thích trò ăn nho. Chị em buộc từng chùm nho lên cái dây chăng ngang như dây phơi quần áo. Rồi vừa nhảy vừa há miệng ăn từng quả nho, ai ăn được nhiều, mà chùm nho không rơi, dây không đứt thì chiến thắng. Trông thế mà khó lắm anh ạ”.
Em vốn cũng là người chăm chút gia đình, nên được giải bày mâm ngũ quả
Phương Minh có vệt chàm đen xì phủ kín nửa bên má hồng nhan. Ba mươi bảy tuổi, con đã học lớp 5, chồng chết vì ung thư 9 năm rồi, nhà ở phố Hàng Đậu (Hà Nội), cùng bố mẹ bán cửa hàng ở Hàng Giấy. Tưởng đời góa phụ giữa Đô thành thế là cũng chẳng đến nỗi nào. Bốc mộ chồng xong, đang tính đi bước nữa thì Minh thử ma túy. “Nói thật, bạn bè nào rủ được mình, mình chơi thì tự khắc chơi thôi chứ. Em ghét nói dối lắm” - Minh thẳng thắn. “Buồn thì tần mần thử chơi, ai ngờ ma túy nó như con ma theo mình cả đời anh ạ. Tết của em, vì thế còn buồn hơi ngày thường. Bồ bịch, bạn chơi nó về nhà nó cả. Con, em gửi ông bà ngoại. Nằm dài, chả muốn ăn uống gì. Nằm chán lại sang nhà ông bà. Ông bà cũng đề phòng con nghiện từng tí. Nghĩ thảm thương lắm, nhưng đúng là em nào có ra gì…”.
Bây giờ vào trung tâm, mấy năm ròng lao động và học tập, dự mấy cái Tết rồi, Minh nói toạc móng heo: Tết, em toàn được giải môn thi “bịt mắt đánh trống” thôi. Mình ngày xưa cũng chăm chút gia đình, nên mâm ngũ quả, ban thờ dự thi chấm giải của nhóm em bao giờ cũng xuất sắc. Khó nhất là trò gắp trứng cả quả chưa bóc…bằng đũa, vì nghiện lâu quá, tay em run run. Mỗi ngày hai cữ heroin, anh bảo còn gì là người, còn gì là tiền nữa. Cả chục cái nhà phố Hàng Đậu em hít cũng…tan. Trò nấu cơm thi, một người vẫn đòn gánh và hai quang thúng, trên đó để hai cái niêu đất, đoàn người cứ đi theo đốt rơm nổi lửa sao cho cơm chín. Mấy cô ở vùng Phú Thọ, quê cô ấy có trò chơi dân gian ấy, nên các cô toàn tranh mất giải. Minh kể, rồi cười, gương mặt bị cái bớt đen thui cứ tồi tội ngoảnh đi. Giọt nướt mắt lăn dài trên bầu má 37 tuổi không thể nói là không còn xuân sắc.
Chị Mai Anh, gần 50 tuổi, môi thâm sì, ngồi bần thần quan sát chúng tôi. Tôi cũng chưa vội gợi chuyện, bởi đã được trung tâm “cảnh báo” tôi trước với vài dòng lý lịch: nhà ở mép Hồ Tây, Hà Nội. Chồng đã đi ở tù được 7 bận vì buôn ma túy, chị cũng dính án ấy rồi nghiện liên tì tằng với 3 tua (tổng cộng 6 năm!) ở trại. Con trai cũng nghiện, đang thụ án 5 năm vì tội cướp tài sản. “Chị đón Tết ở đây nhiều rồi, đúng là vui hơn ở nhà” - chị Hải chủ động góp chuyện bằng cái giọng rất quê mùa - “Mình chả dám mong gì, vì còn gì nữa mà mong. Cai được ít ngày, về gặp mấy cậu nghiện nó lại nháy mắt, lâu lắm chị em mình chưa làm một “choác”, thế là lại đón Tết ở trại cai nghiện. Đứa con gái chị bán hàng cơm gần nhà, nó đẻ cho chị đứa cháu ngoại đã 6 tháng. Nhưng Tết này chị cũng cấm nó lên thăm. Thôi, để cho nó yên!”.
Vốn là xã viên của hợp tác xã dệt thảm giữa Thủ đô, học hết 7/10, chị Mai Anh bảo, tôi nghiện và tù tội vậy, nhưng tôi ghét nói dối. “Ở đây, chị chỉ nhìn là biết đứa nào là “gái”, đứa nào nghiện giống chị. Cô này ở số 12… phố Lò Đúc. Xinh, có vẻ vô tư. Rõ là làm gái. Người ta bảo, nghiện nó hay rủ rê người lành, người nhà giàu để nó lợi dụng kiếm cái hút, chị nghĩ chả đúng. Lúc chị nghiện, chị chả rủ thêm ai, vì rủ nó sợ nó…hút hết phần của mình thì sao. Người nghiện ít quan tâm đến tình dục ư? Chả tin, nó cũng là tùy cơ địa mỗi người. Bấy nhiêu năm nghiện, chị suy nghĩ nhiều lắm, có khi ân hận lắm, giờ mình lên bà nội bà ngoại cả rồi. Ấy vậy nhưng thấy người ngoắc tay rủ đi “chơi” vài cữ, là đi ngay! Bao công cai đi toi trong phút chốc. Mà bây giờ nó có nhiều loại ma túy mới, lạ lắm, chết người lắm”.
Vừa triết lý, chị Mai Anh vừa lau rửa những dụng cụ trang trí ban thờ ngày Tết mà mình đã cất vào góc giường cá nhân từ năm…ngoái. Đèn màu nhấp nháy, đèn lồng. Hoa giấy này là để hái hoa dân chủ, giải các câu đố về con đường hoàn lương của đàn bà lầm lỡ đấy nhé. Bánh chưng mình gói, giò chả, thịt thà thì nhà nước bao cấp ăn nhòe. Đi làm lại có tiền thu nhập từ công sức mình bỏ ra. Chị Mai Anh bảo: “Mỗi tầng nhà chúng tôi dành ra cả một phòng để trang trí dự thi. Nói là ăn Tết trong trại thích hơn ở nhà, nghe thì khó tin, và có vẻ oái oăm. Nhưng đó là sự thật em ạ. Ngoài kia, đời cái người nghiện, người cả nhà nghiện và lầm lỡ như chị, bao năm nay làm gì có biết Xuân với Tết là cái gì”.
Trong bữa cơm Tất niên 6 người một mâm với đủ các phẩm vật của cái Tết Việt truyền thống, những người đàn bà (hoặc nghiện hoặc làm gái bán hoa chuyên nghiệp, hoặc dính vào cả hai) cứ cười nói râm ran. Nước mắt cho lặn vào trong, dẫu chả ai muốn tha hương đón năm mới nơi này đâu, nhưng đúng là Tết ở trại vui hơn ở nhà. Dù oái oăm, thì đó vẫn là sự thật. Bởi chỉ ở đây họ mới được hái hoa dân chủ, được nhảy bao bố, ăn nho treo dây, nấu cơm trên quang gánh rồi bày mâm ngũ quả và trang trí ban thờ với “thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ”.
Ánh lửa xuân bây giờ có giúp các cánh chim bay lạc kia thôi lầm lỡ ở những mùa Tết năm sau…? Thì cứ hy vọng thế.
Đ.D.H
Kèm chùm ảnh
Chú thích kèm chùm ảnh (các anh chị họa sỹ làm ơn làm mờ mặt các học viên cai nghiện và mãi dâm giúp):
Nhân dịp Tết, nhiều hoạt động như thi trưng bày mâm ngũ quả, trang trí ban thờ gia tiên… được tổ chức, cùng với đó là việc Hưởng ứng Tết trồng cây tại Trung tâm GD&LĐXH số 2, Hà Nội.
Thursday, December 29, 2011 4:25:12 AM
Biển Hồ chát đắng…
Bài và chùm ảnh: Đỗ Doãn Hoàng
Chúng ta có nhiều Biển Hồ.
Tôi nhớ những ngày lang thang trên nóc nhà thế giới Tây Tạng. Đây là hồ nước ngọt cao nhất thế giới, kia là hồ nước mặn cao nhất thế giới. Lạ thật, giữa những đỉnh tuyết sơn vĩnh cửu đã triệu triệu năm, núi đóng băng rộng hàng triệu cây số vuông; từ mặt đất, con đèo cao nhất thế giới kéo mãi lên đỉnh 8.848m của Everet (cũng cao nhất thế giới) chỉ trắng nhức mắt toàn băng tuyết do nước ngọt đóng băng. Không có bất cứ dấu tích nào, “triệu chứng” nào của nước ngọt cả.
Thế nhưng Nam-sto, hồ Thánh Thần và hồ Ma Quái thì lại là nước mặn. Có lẽ vì thấy nước mặn chát, thấy hồ lớn đến mức không có bờ bến giống như Biển; lại thấy nước hồ xanh hơn mây trời , xanh hơn đại dương xa thẳm, nên từ thượng cổ, người Tây Tạng đã nghĩ cái hồ đó là Biển. Và họ gọi cả cao nguyên khổng lồ đang nâng niu hồ thiêng là Cao nguyên Thanh Hải (biển xanh). Hồ Thanh Hải là điểm đến tuyệt mỹ mà tôi nghĩ nếu có dịp trải nghiệm thì chẳng ai đủ sức mạnh để…không đắm đuối.
Ở Việt Nam, rìa thành phố Pleiku mơ mộng nằm trên 15 miệng núi lửa đã tắt cũng có một thứ gọi là “Đôi mắt Pleiku, Biển Hồ đầy!”. Có lẽ bởi hồ khá rộng, lại sâu hoăm hoắm, từ ngày loài người biết đến, nó chưa bao giờ cạn nước, nên hồ nước ngọt tròn xoe ấy chết danh là: Biển Hồ. Thật ra hồ là một vài miệng núi lửa âm, dung nham từng phun lên từ đó để kiến tạo nên cao nguyên bazan trù phú và thương mến của Gia Lai. Mỗi miệng núi lửa (hồ) đều ăm ắp nước, tròn xoe. Người Liên Xô trước đây đã thán phục, kỳ công đo, nghiên cứu độ sâu của Biển Hồ bí ẩn trên đất Pleiku đó. Những Biển Hồ tròn như những miệng bát đựng gần đầy nước, xếp gần khít vào nhau, nước từ bát nọ liên thông sang bát kia. Vừa là nguồn nước ăn của thành phố cao nguyên, lại vừa là địa điểm có chút tâm linh tín ngưỡng, nên Biển Hồ được giữ trong veo, được khai thác du lịch nhưng cấm tiệt chuyện nhảy xuống tắm.
Tôi đã gọi Biển Hồ của Gia Lai là vị sứ giả trầm ngâm đến từ nhiều triệu năm kiến tạo vỏ Trái đất. Tôi cũng gọi những đấng hồ thiêng mà thế giới luôn khuyên mọi người nên đến đó một lần trước khi chết (befor the die) ở Tây Tạng là: hồ xanh thiên đường. Nhưng khi gặp một cái gọi là Biển Hồ (Tonle Sap) nữa ở Xiêm Riệp, trên đất bạn Campuchia thì tôi lại buốt lòng. Đây là hồ vĩ đại nhất của dòng sông bí ẩn và vĩ đại bậc nhất thế giới. Dòng sông khởi nguồn từ Tây Tạng, qua 6 quốc gia rồi đổ vào 9 cửa sông của đồng bằng châu thổ phía Nam nước Việt. Sông Mê Kông. Biển Hồ Tonle Sap nhận nhiệm vụ kỳ vĩ là điều tiết toàn bộ mực nước khổng lồ của Mê Kông (hạ lưu chính là sông Tiền, sông Hậu của Việt Nam!). Cũng vẫn mô-típ cũ: hồ rộng như Biển, nhìn mãi, đi mãi chẳng thấy bờ, nên người Campuchia và người Việt thi nhau gọi đó là Biển Hồ, (tiếng Campuchia là Tonle Sap). Tonle Sap trùm lên 7 tỉnh và thành phố của nước bạn, vào mùa mưa rộng tới mười sáu nghìn cây số vuông (16.000km2), sâu khoảng 9m. Hồ cung cấp 70% lượng cá nước ngọt và 60% lượng chất đạm cho toàn bộ đất nước chùa Tháp. Là hồ nước ngọt lớn nhất Đông Nam Á, là khu dự trữ sinh quyển có tầm quan trọng toàn cầu. Nhìn từ trên máy bay, ở góc xiên, hồ hơi giống một con ốc sên đang bò trên… vỏ Trái đất.
Tôi đã đến và đã ám ảnh đến ứa nước mắt bởi những người đồng hương Việt Nam ăn xin trên mênh mông Biển Hồ.
Anh bạn người Campuchia lái xe đúng 30 phút từ kỳ quan thế giới Angkor Wat, Angkor Thom (người Việt xưa gọi là đền Đế Thiên Đế Thích) của thành phố Siem Reap, vẫn dở dang vài lời thăm hỏi gặp cố nhân thì biển Hồ đã hiện ra, nước đục ngầu, nắng nỏ chan chan, bèo rác trôi dạt eo xèo, nhà nổi lụp xụp, bến bán vé tàu du lịch xô bồ. Cũng là Biển Hồ, cũng từng bị người xưa nhầm là biển xanh, nhưng khác với các hồ xanh thiên đường ở Tây Tạng hay Pleiku - nơi này, Tonle Sap chỉ khiến người ta rợn ngợp bởi duy nhất sự rộng kinh hoàng của nó: mười sáu nghìn kilomet vuông.
Chưa kịp nghĩ ngợi so sánh gì, tôi đã thảng thốt khi nhìn lại phía sau con tàu cũ kỹ đang gào rú của mình. Trời ạ, có tới gần chục cái thuyền máy rẽ sóng trắng xóa, bụi nước bay mờ mịt đang ầm ầm…đuổi theo. Giống hệt trong phim hành động Mỹ. Các thuyền nổ máy đinh tai nhức óc, cứ như bọn đầu xanh đầu đỏ đua xe ở Hà Nội nó đang đồng loạt nẹt bô. Chúng tiến đến gần hơn, rõ dần, các bóng đen ngược sáng trên mỗi con tàu đều là trẻ em.
Quái dị hơn là mỗi cháu khoác một con trăn rất lớn trên cổ, có con bằng bắp chân, có con to tày bắp đùi của các cháu, chúng còng lưng, mặc nước té ướt hết. Mặc cuộc đua tốc độ làm sóng Biển Hồ nghiêng ngả, bọn trẻ so vai cố sức cầm cái đầu con trăn lớn ngóc đầu ngoe ngẩy mà dứ dứ ra phía du khách. Vài vị khách yếu bóng vía ré lên…Bạn tôi ghé tai: trăn là con vật thiêng của nhiều cộng đồng người Campuchia. Những con trăn kia là trăn Biển Hồ, một loài vật quý, thiêng, và cũng là niềm tự hào về đa dạng sinh học của khu dự trữ sinh quyển thế giới đã được UNESCO tôn vin này. Báo chí đưa tin, người Cam pu chia ven hồ từng tổ chức lễ cưới cho các nàng và chàng trăn Tonle Sap, mỗi vị hôn phu dài tới gần 5m, hiền khô.
Đám trẻ đã đến gần lắm. Vèo, phịch. Một bé gái bay từ tàu của gia đình, ập vào khoang tàu của chúng tôi như võ sỹ khinh công. Bố nó lượn điệu nghệ đến mức, con tàu nhỏ cứ như con lươn con chạch dần tăng ga, áp sát tàu khách. Bé gái ướt lút thút, nó hào hển mời mọi người mua bia, rượu, nước ngọt, thuốc lá rồi…xin tiền. Hai phút sau, chưa ai kịp hoàn hồn, con tàu bán hàng lại vè vè áp sát, thoắt cái, em bé bay vèo xuống tàu của gia đình mình. Nó buông khay hàng rong, chui tọt xuống khỏi mặt sàn tàu bằng gỗ, khệ nệ vừa bế vừa kéo ra một con trăn lớn, treo trăn vào cổ, nó dấm dứ nhử du khách hiếu kỳ. Tất cả các cháu, bố mẹ các cháu đều là người Việt, thế mới oái oăm. Nhóm du khách Việt dốc hầu bao cho tiền, bởi niềm cảm khái rưng rưng. Tôi thấy tê tái!
Nhưng không ngờ họ kéo đến đông đúc như vậy. Có người bế, dắt, đặt trên võng căng giữa hai mạn thuyền…tổng số 5 đứa con lít nhít. Gia tài của họ là cái thuyền gỗ và mái chèo kẽo kẹt. Họ van xin, chắp tay và quỳ gối lạy để xin. Nhúng đứa con trần truồng bầy bấy xuống nước, phụt bình sữa cáu bẩn của đứa con ẵm ngửa ra, có khi dựa cột quán xa, trật vú ra, có khi chửi bới rên la, có khi để cho con nhặt các cọng lục bình xanh ngắt nhai rau ráu…- họ làm tất cả, kể cả khổ nhục kế và lưu manh kế để xin ăn, xin tiền.
Đã thành một phần khó có thể thiếu của tất cả các du khách vào khu vực Biển Hồ này, ấy là “làm từ thiện” cho cư dân. Rất nhiều trong số họ là người Việt Nam “lưu lạc” sang Biển Hồ từ khá lâu. Ở đây có trường học của người Việt Nam, có khu để du khách mở hầu bao tặng mỳ tôm hay tiền Ria (của Campuchia), tiền Việt, và Đô la... Đau xót lắm, nhưng mà cũng giận lắm! Dường như ai đó đã làm hư những người nghèo ở đây. Chúng tôi ngồi ăn, họ bò lổm ngổm trên sàn nhà mà xin. Họ khóc gào thống thiết để xin. Họ chèo thuyền ùn ùn kéo đến, quây kín bốn góc nhà nổi, từ dưới các khoang thuyền mục nát, họ bám tay giơ nón lá vào các mép gỗ của quán xá mà nì nèo.
Tôi ngồi ăn đặc sản cua cá Biển Hồ bên trên, nhìn xuống cơ man nào là bà con ngửa nón rên la bên dưới, thấy lòng đắng ngắt, sững sờ và xấu hổ. Trẻ con xông lên, có cháu giơ con ếch buộc vào cần câu đung đưa làm vui cho du khách. Mỗi đứa khoác một con trăn, con vật hiền lành kỳ quái cứ nằm ngơ ngác mệt mỏi trên cổ trên vai các cháu, mặc cho ông bà chủ tí hon diễn trò. Tôi đã chứng kiến những thằng bé ở trần, chèo một cái chậu nhôm lui cui trên Biển Hồ, áp sát các quán ăn, xin tiền như Chí Phèo, ai không “phát chẩn” hoặc phát hơi ít thì nó sẵn sàng chửi tục tĩu bằng tiếng Việt. Tôi đã chứng kiến có vài người đàn bà kẽo kẹt chèo con thuyền rách nát rời xa quán ăn đó. Chị không xin xỏ được gì, hình như cũng xấu hổ lắm trước sự vây bủa của “đồng nghiệp”, chị bỏ đi. Khoang nón cúi gằm, bóng thuyền dần xa. Qua ống kính tê-lê, tôi thấy chị tựa lưng vào một đám cây lúp xúp ven Biển Hồ và khóc. Đứa con trần truồng đen đúa nằm trên cái võng vải bé xíu đu đưa giữa hai mạn con thuyền rách chật hẹp. Xem ảnh, thì thấy 10 đầu ngón tay của chị, chiếc móng nào cũng mòn vẹt và đen kịt, nát bươm. Đó là bộ móng tay bị thối toàn bộ do ngâm nước quanh năm. Và, khi rời biển Hồ, tôi đã nghĩ, nếu cho một điều ước, thì tôi sẽ ước giá mà lúc ấy mình gọi chị ta lại để an ủi điều gì đó, nói điều gì đó hay cho mẹ con chị ta một cái gì đó. Bởi đôi mắt thăm thẳm buồn và chút lòng tự trọng khả kính trong việc chống thuyền ra khỏi đám đông đeo bám khách du lịch.
Nhưng Biển Hồ rộng tới mười sáu nghìn kilomet vuông, biết tìm đâu trên bịt bùng sông nước? Nghĩ vậy xong rồi tôi lại nghĩ quẩn đi quẩn lại. Rằng: Nếu không ăn xin, không đeo bám sầu khổ và lưu manh với du khách, thì với nhiều người trong số kia, bởi sự sống, sự gào réo của cái dạ dày, chắc gì đã tốt hơn. Có người bảo, cũng ăn xin, sao người Campuchia ăn xin ở ven Angkor Wat lịch sự thế. Họ viết tấm bảng bằng các thứ tiếng, trong đó có tiếng Việt: “Xin hãy giúp chúng tôi”, tôi tàn tật, tôi là “Những nạn nhân của bom mìn” mất chân mất tay. Chúng tôi biểu diễn các nhạc cụ truyền thống, tôi bán hàng lưu niệm, hãy giúp chúng tôi. Nghe thì có lý, ăn xin cũng cần lịch sự và lịch sự mà vẫn ăn xin được như ở Angkor cách Biển Hồ 15km, như nhiều nơi trên thế giới… Nhưng cái không đúng nằm ở chỗ: Biển Hồ mênh mông, chứ không có cổng vào cổng ra, có gốc cây cổ thụ tỏa bóng ai cũng muốn dừng chân như ở Angkor, để rồi treo biển “Xin hãy giúp chúng tôi”. Nếu không có sự đeo bám chát đắng kia, thì làm gì có chuyện cả đời cả kiếp này tôi đã từng lang thang Biển Hồ rồi đem phát đến đồng tiền lẻ và hơi lẻ cuối cùng của mình cho những người đồng hương trên đất khách quê người kia?
Nghĩ đi rồi lại nghĩ lại. Trăn trở rồi trách móc. Có lúc thấy xấu hổ, tủi hờn. Có khi ứa nước mắt thương cảm. Mỗi lần xem lại những bức ảnh Tonle Sap, mỗi lần trên ước vọng lang thang khắp địa cầu mà chợt gặp một cái Hồ rộng như Biển đi mãi không đến bến bờ, tôi lại nhớ nhóm đồng hương trên Biển Hồ, lại thấy cay xè trong mắt. Thương rồi trách, càng trách lại càng đau thương. Biển Hồ, nước thì ngọt đấy, mà sao chát đắng.
Đ.D.H
Kèm chú thích cho chùm ảnh.
Wednesday, December 28, 2011 1:21:00 AM
Sự thật buồn phía sau danh hiệu “Làng cổ Đường Lâm”
Ghi chép của: Huỳnh Thị Sơn Nam
Là một họa sỹ nhiều năm gắn bó với làng Việt cổ Đường Lâm (xã Đường Lâm, thị xã Sơn Tây, TP Hà Nội) - một Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia vô cùng độc đáo đang trong tiến trình đệ nghị UNESCO công nhận là Di sản thế giới - tôi thật sự thấy đau lòng với cái cách mà chúng ta ứng xử với các giá trị cổ, quý báu của nơi này.
Quản lý tài sản vô giá vô lối, kiểu “ông chẳng bà chuộc”
Ngôi làng đầu tiên được công nhận di sản quốc gia kia đã bị xé nát không gian bởi nhà mới xây, cao tầng, chóp nhọn; cây xanh bị chặt trụi, du khách kéo đến xả rác, phóng uế, tắc đường rồi văng tục bừa bãi. Người dân thi nhau “cắt khúc” đường làng ra làm chỗ giữ xe, nhà nhà ganh đua lườm nguýt nhau trong quyền lợi nấu nướng phục vụ cơm cho dân du lịch. Các quả gò làm nghĩa địa bị người Hà Nội xông lên mua gần hết; họ xây lăng mộ, làm sinh phần với thứ mà họ coi là “kiếm được long mạch tốt”.
Sáu năm là di sản quý (bấy giờ là làng cổ duy nhất của Việt Nam được công nhận là Di tích quốc gia, tiêu biểu cho không gian và truyền thống người Việt cổ), mấy năm người ta chặn ba lối vào làng dựng barie thu vé 15.000 đồng/du khách (chưa kể mấy chục nghìn một lần gửi xe ô tô), song người dân chẳng được hưởng lợi gì, tiền tỷ ấy không biết đi đằng nào. Ngoài vài hộ có nhà cổ mở cửa đón khách được hưởng số tiền ỏn sót chừng 400 nghìn đồng/ tháng ra, hàng vạn dân khổ sở mà không được hưởng quyền lợi gì từ di sản quê mình. Nhà cửa thì không được xây cao, như nhà bà Hà Thị Khanh (thôn Mông Phụ), vừa ki cóp cả đời xây lên thì bị lực lượng chức năng cưỡng chế cắt cụt tầng 2, tiếng gào khóc rợn người, sắt thép bê tông nham nhở, bà con kéo đến có ý kiến thương cảm, thì nhiều người bị công an bắt đi. Bà con bức bí trong cái chật chội hũ nút ấy, trong khi không có chính sách giãn dân.Thế là họ xông lên xin được trả lại danh hiệu làng cổ khổ sở này cho nhà nước. Báo chí rút tít “làng cổ làm khổ dân” từ bấy.
Đỉnh điểm của những câu chuyện buồn bã đang gặm mòn không gian kiến trúc cũng như các giá trị tinh thần vô giá của Đường Lâm, có lẽ là “hành động” xây con đường bê tông tiền tỷ vắt qua “trái tim di sản” những ngày tháng 10 và tháng 11 năm 2011 này. Có thể nói ngắn gọn: làng Mông Phụ là trung tâm, là trái tim, nòng cốt, khu vực 1 trọng yếu chiếm nhiều di tích, nhà cổ nhất của toàn bộ Di tích quốc gia Làng cổ Đường Lâm. Thế nhưng, hiện nay người ta đã duyệt và đã thi công cơ bản dự án 5 tỷ đồng đổ bê tông 5km đường dọc ngang xiên xẹo qua “trái tim” vô giá được bảo vệ nghiêm ngặt đó. Tám trăm mét đường nối từ Đình Mông Phụ ra chợ Mía, “xuyên thấu” di sản đã coi như hoàn thành, chỉ làm lễ khánh thành nữa là xong.
Dự án này có kinh phí do UBND TP Hà Nội cấp, thị xã và UBND xã Đường Lâm oai phong làm chủ đầu tư. UBND xã cũng trực tiếp giám sát làm đường. Vài “nhánh xương cá” đang được xúc tiến. Họ thuê một tốp thợ xã bên thi công. Họ làm đường với tốc độ cuốn chiếu và có gì đó…khá bí mật, không biết vì lý do gì. Bà con cực lực phản đối. Bởi họ không được thông báo rõ tiền do ai cho, làm đường để làm gì khi đường cũ còn tốt lắm. Lại nữa, trong khi đường quanh làng vừa khánh thành độ Tết, chưa đầy 365 ngày trôi qua đã bong tróc ổ voi ổ trâu đang cần phải tu sửa khẩn cấp… Dân bèn kêu đến báo chí.
Nhà bà Hà Thị Khanh vừa nhô lên một tí so (với nhà mái bằng 1 tầng) đã bị người ta dùng máy móc hiện đại, lực lượng vũ trang vây kín nhà, phá rỡ rầm rĩ trong mấy ngày, vài người ra xem và kêu ca thì bị tóm lên ô tô chở về thị xã “tạm giữ” xuyên ngày xuyên đêm… Sau vụ đó bà con hiểu luật Di sản văn hóa lắm. Họ hiểu: làng cổ là di sản quốc gia, ai tác động thay đổi cấu trúc cảnh quan kiểu làm đường xuyên tâm bằng bê tông khổng lồ, trơn láng, mới toe hiện đại thế này thì phải có đề án, có được sự thỏa thuận của Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa thể thao và du lịch) chứ. Bà con hiểu, con đường ra đời sẽ biến di tích trở thành một thứ lai căng kệch cỡm. Và quan trọng hơn là nó vi phạm Luật Di sản; nó thể hiện thái độ thiếu nhất quán, vô lối trong quản lý: nhà dân nhô lên một tẹo thì chặt, trong khi con đường bê tông trị giá 5 tỷ, dài xuyên làng và rộng tới 5m thì vô tư…mọc lên.
Choáng! - con đường 5 tỷ đồng đã “mọc lên” mà Ban quản lý di tích không biết?
Sau khi nhờ người hỏi Cục Di sản xem có cho phép làm con đường bê tông mới xuyên qua “tim” di tích không? Câu trả lời là: Cục chưa nghe nói. Một số người tâm huyết với số phận bị cào xé của Đường Lâm chỉ còn biết đau xót tiếp tục đi tìm các nhà báo. Cuối tháng 11 năm 2011, khi chúng tôi có mặt ở trụ sở xã, hỏi chuyện trực tiếp ông Phan Văn Hòa, Phó Chủ tịch UBND xã Đường Lâm thì mới ngã ngửa. Ông này thẳng thắn: Dự án được duyệt từ trước khi ông Hòa lên nhậm chức, UBND xã khóa mới cứ thế mà thi công, mà tiếp quản dự án của cán bộ khóa cũ thôi. Không được quyết cái gì cả. Ông Hòa là người của quê hương Đường Lâm, ông quá hiểu, con đường vừa được bê tông hóa kia chính là một trong hai cái râu thiêng quý của con rồng vĩ đại bao bọc cư dân làng Mông Phụ. Hai giếng làng nổi tiếng hai bên đình chính là đôi mắt của rồng (theo quan niệm phong thủy của nhiều đời dân làng). Xưa, đường làng là do tiền treo tiền cưới của nam thanh nữ tú đóng góp gạch và công sức, cộng thêm tiền “cung tiến” của những người giàu có. Ông bảo, nếu làm đường bằng gạch lát nghiêng, theo đúng các con đường xưa kia và cả không gian di sản hiện nay của làng Việt cổ Đường Lâm thì quý hóa hơn, thuận mắt hơn. Người làng cổ, du khách, giới yêu văn hóa - khoa học, cũng như thực tế tất cả các con đường ở làng cổ Đường Lâm hôm nay đều làm bằng gạch nghiêng như thế. Trong đề án quy hoạch chi tiết làng cổ Đường Lâm đang được xúc tiến hoàn thiện, đường làng cũng lát gạch nghiêng theo lối cổ như vậy.
Thế mà, không hiểu sao, tự dưng con đường “râu rồng” huyết mạch, linh hồn của di sản nổi tiếng được bê tông hóa bằng…5 tỷ đồng? Có phải họ đang thừa tiền và cần phải giải ngân gấp, dẫu việc “hợp thức hóa” này phải thông qua việc “khai tử” nhiều phần giá trị di sản có một không hai của dân tộc Việt Nam? Ông Hòa đưa cho chúng tôi xem và chụp lại bằng máy ảnh bản quyết định số 290 của UBND thị xã Sơn Tây do ông Nguyễn Quang Mạnh ký ngày 9/4/2010, phê duyệt báo cáo kinh tế kỹ thuật dự án làm đường Mông Phụ - Chùa Mía. Nương theo quyết định đó, con đường đã hiện ra lù lù, trơn láng, mới toe, không ăn nhập gì với vùng lõi di sản làng cổ Đường Lâm.
Chúng ta còn quá khó khăn, thậm chí ngay cả khi những người giữ các ngôi nhà cổ thu hút hầu hết khách du lịch đến Đường Lâm hôm nay, những ngôi nhà làm nên giá trị quan trọng của làng cổ (làm nên sự đáng giá của những cái vé vào cổng 15.000 đồng/ người!) đang …dài cổ chờ chế độ. Đường Lâm hầu như không có cái nhà vệ sinh công cộng nào, người ta vào làng, chỉ tìm…các chỉ dẫn nhà cổ để…đi vệ sinh. Đi xong thì ai ngắm nhà cổ lúc ấy mới ngắm. Gia chủ không được thu bất cứ khoản gì, họ phải mở cửa, vui vẻ mời khách ngồi uống nước và giới thiệu như một hướng dẫn viên bất đắc dĩ.
Mỗi tháng, mỗi hộ được khoảng 400 nghìn đồng, tức là một ngày được hơn 10 nghìn đồng. Bà con gọi đó là tiền quét mạng nhện, tiền củi lửa đun nước pha trà. Số tiền ỏn sót đó cũng chỉ có khoảng 10 hộ dân được nhận, vị chi, mỗi tháng chỉ có 4 triệu đồng từ nguồn thu du lịch Di sản văn hóa quốc gia làng cổ Đường Lâm đến được với ví tiền của bà con. Số tiền này bằng tiền thu được thông qua việc bán 250 cái vé vào cổng làng. Với 250 cái vé, chỉ ba bốn cái xe du lịch ùn ùn chở khách đến đậu dưới gốc đa làng, là bán đủ (đấy là chưa kể tiền bãi đỗ xe). Còn lại hàng vạn chủ nhân của làng cổ không được quyền lợi gì. Và, tiền tỷ thu vé, xé vé ở 3 cái lối vào làng (đều có trụ sở giữ xe, thu tiền)…không biết đi đâu. Đây đang là một câu hỏi lớn của hầu hết người dân làng cổ Đường Lâm muốn được thanh tra, kiểm tra, công khai minh bạch. Trả lời báo Nhân Dân, có lần đại diện Ban quản lý làng cổ nói tiền đó để nuôi 16 người thu vé và giữ xe ở các lối vào làng. Nếu đúng thế, thì thật là không tài nào tưởng tượng nổi.
Trong khi ấy, bỗng dưng 5 tỷ đồng được bày ra làm xấu di sản quốc gia, vi phạm luật. Tiền ấy không chỉ bị phung phí, mà nó còn làm mất niềm tin của bà con về một cung cách ứng xử tử tế với các giá trị quý báu đến từ nền văn minh sông Hồng bốn nghìn năm tuổi. Con đường làm nghênh ngang, kéo dài vài tháng, tắc hết đường làng, tê liệt nhiều hoạt động du lịch và thường nhật của biết bao người… Thế nhưng, rất nhiều cán bộ hữu trách quản lý di sản này, khi được hỏi tại sao lại để tình trạng sai luật như thế, họ thản nhiên: “Chúng tôi không biết.”
Ví dụ, khi chúng tôi tìm gặp cán bộ Ban quản lý di tích làng cổ Đường Lâm (trực thuộc UBND thị xã Sơn Tây), thì ông Sơn, Trưởng ban yêu cầu chúng tôi làm việc với ông Nguyễn Trọng An, Phó Ban; ông An chính thức trả lời phỏng vấn tại nhiệm sở của mình mà về nghe lại băng ghi âm, tôi cứ nghĩ tôi nằm… mơ. Ý rằng: việc UBND thị xã làm dự án thì BQL có biết, nhưng cứ tưởng “người ta” làm đường gạch, gạch xây nghiêng đúng kiểu làng cổ ấy. Mà họ xây nhanh quá, khi chúng tôi phát hiện ra thì họ đã xây xong 800m từ đình ra…chợ rồi. Trước mắt chúng tôi tạm đình dự án lại đã.
Than ôi, thế là đường làng cứ ngổn ngang, hàng vạn người khổ sở.
Nhưng khổ sở hơn là nỗi thất vọng: BQL di tích làng cổ hẳn hoi, bao nhiêu nhân viên quản lý cái làng đi bộ vài phút thì xuyên qua, ngày ngày họ xé vé, trông giữ xe, chặn người qua lại để thu tiền ở ba bề bốn bên các lối vào làng, thế mà đường bê tông khổng lồ, cốt sắt, máy nghiền máy nhào chạy ầm ầm, thợ thuyền làm náo nức thế mà các vị bảo không…biết. Khi họ làm đường 800m, mặt đường cốt sắt đổ bê tông rộng 5m hai xe tải tránh nhau được rồi, thì BQL mới biết!
Ông An thở dài: chờ quy hoạch chi tiết làng cổ Đường Lâm của UBND thành phố Hà Nội bao giờ xong thì mới tính chuyện khắc phục hậu quả của con đường bê tông gây choáng váng dư luận kia. Ông An dự đoán, chắc phải bóc bỏ bê tông, hoặc lát chồng gạch nghiêng truyền thống lên để khắc phục thôi. Chuyện cứ nhẹ như tơ hồng thế, 5 tỷ đồng bỏ đi đằng nào? Mà lát gạch lên thì đường làng cao vời vợi , nước chảy vào nhà dân ư? Đấy là chưa kể, từ ngày di tích được tôn xưng, cứ hứng lên là mấy con đường quanh làng lại được rải nhựa. Nhựa chồng lên nhựa, cao vút. Người dân cười mỉa mai, họ giải ngân thì họ mới có phần trăm chứ, cho họ làm, tiền có lấy trực tiếp mất từ túi của mình đâu mà tiếc. Chỉ tiếc, đường cứ làm xong vài hôm là rạn vỡ, đá sỏi vồng lên như cái bánh mỳ khổng lồ chưa khô bị một bàn chân khổng lồ xéo phải, đường hang ổ như có…xe chở quặng lậu đi qua. Mà tiếc gì, chưa hỏng người ta cũng rải nhựa, làm đường mới đè lên, thì cũng thế.
Vì sao nhiều người xin trả lại “danh hiệu làng cổ Đường Lâm” cho nhà nước?
Nhân chuyện BQL di tích không biết, UBND có dự án cũng như không biết chuyện khởi công làm đường…bê tông xuyên qua vùng lõi di sản quốc gia mình đang hằng ngày hằng giờ quản lý, lại nhớ đến bao trớ trêu của di tích này.
Kể từ khi được nhà nước vinh danh, mấy nghìn ngày trôi qua, vẫn chỉ có cái quy chế tạm thời quản lý làng cổ. Ai xây dựng thì phải xin phép, xin phép thì bảo là không được xây. Ai hỏi cũng bảo không được xây. Tức là chưa bao giờ họ cấp phép cho một ai xây dựng một cái gì cả. Nhưng hàng chục ngôi nhà hiện đại mọc lên thì họ nhắc nhở, lập biên bản rồi…ra về, có người (theo bà con đồng loạt kể) còn bảo, các bác cứ xây, cháu lập biên bản là việc của cháu, xây dựng là việc của các bác. Có người đến lập biên bản, bị bà con mắng cho: chúng mày không cấp đất cho tao giãn dân, con cái tao lớn lên dựng vợ gả chồng, đẻ ra một đàn cháu chắt, cái nhà cấp 4 này chứa làm sao hết mà lại không cho xây? Thế là cán bộ quản lý di tích làng cổ lại cum cúp bỏ đi.
Khi bà con xây thì họ cưỡng chế chặt cụt ngôi nhà mấy trăm triệu cả đời nông dân tích cóp. Lý do phá nhà là nhà…không phép. Hỏi: tôi xin phép ông không cho, ông chưa cho phép một ai ở cái làng này cả, thế chúng tôi làm gì có thủ tục cho phép để mà đòi xem giấy phép? Thử hỏi, cả xã này chúng tôi chưa từng một ai được cấp phép cho xây nhà bao giờ. Tôi xây sao ông không cưỡng chế bảo đừng xây? Cán bộ im lặng. Im lặng nhưng người dân thì mất nhà. Không được quyền lợi gì từ du lịch làng cổ, con cái lớn lên, cứ giữ nguyên nhà cấp 4 thì quá chật, có khi gần 20 người trong một ngôi nhà xây từ ba bốn chục thậm chí cả vài trăm năm trước. Trong khi không cấp đất cứu làng cổ, nhưng cắt đất bán tiền tỷ thì cán bộ xã rất sẵn, ai mua là có. Bà con Đường Lâm, vì quá nhiều bức xúc đã xin với Nhà nước cho trả lại danh hiệu nhà cổ như các báo Tuổi trẻ, Dân trí đã đăng, phải nói là cũng rất có lý.
Như báo chí viết, sau khi bị trọc phú mua hết đất gò đồi được quy định là nơi mai táng người làng từ nhiều đời nay, người Mông Phụ đang có nguy cơ chết không có…chỗ chôn. Lý do đơn giản, như VTV1 từng làm phóng sự, người ta tin rằng long mạch ở làng cổ là tốt, đất ở làng còn rẻ gấp chục lần Công viên Vĩnh Hằng; và cái quan trọng hơn, việc quản lý làng cổ, quản lý cấm bán đất ở vùng đệm di tích quốc gia còn…quá lỏng lẻo. Cứ xông vào mà mua, mua rồi lại còn có lãi bán trao tay. Cán bộ đều nói là sẽ ngăn, sẽ cấm việc xâm hại khu vực có di tích quốc gia, nhưng xin thưa, thử làm một điều tra trắc nghiệm xem gò Áng Độ ở Đường Lâm bây giờ người thành phố đã xây và chiếm hết 80 hay 90% diện tích? Người dân biết, họ đứng tên mua đất thay cho người Hà Nội để trục lợi; người quản lý có biết không? Có thể họ nói là họ không biết, nhưng tôi tin, chẳng mấy ai là không biết cả. Họ còn đang tính đến những dự án lớn hơn, đó là nạo vét, xây tòa ngang dãy dọc, bê tông hóa dòng sông Tích, xây chung cư cao tầng ở ven làng cổ. Toàn dự án vẽ rắn thêm chân, nó chỉ thêm bê tông hóa, kệch cỡm hóa không gian lẽ ra cần bảo vệ nghiêm cẩn của khu làng cổ biểu trưng cho bốn nghìn năm văn minh người Việt ở Đồng bằng sông Hồng mà Nhà nước đã vinh danh. Dự án vẽ rồi thi công, giải tỏa. Người dân bỗng dưng mất ruộng, mất đất; bỗng dưng thành tỷ phú triệu phú nhờ “giải tỏa” các khu bờ xôi ruộng mật phục vụ dự án, biết bao cảnh trái ngang, trọc phú, tai họa đang làm tan nát vẻ thanh bình còn sót lại ở nơi này.
Với tất cả những tâm huyết và sự thẳng thắn trong sáng của mình, tôi nghĩ: đã đến lúc chúng ta cần phải xem lại cách quản lý, khai thác di sản độc đáo ở di tích quốc gia làng cổ Đường Lâm. Xô bồ, ô nhiễm, tắc đường, lai căng, ẩn chứa những cơn sóng ngầm bất bình quá lớn…,đã đến lúc chúng ta cần xem lại việc vinh danh làng cổ tiêu biểu cho nền văn minh sông Hồng ở Đường Lâm là hành động tử tế hay chỉ là “yêu nhau như thế bằng mười hại nhau”. Trong chua xót ấy, người Đường Lâm nệ cổ, văn hiến và lịch lãm, họ không có lỗi gì cả.
Sài Gòn, 11/2011, Huỳnh Thị Sơn Nam
Wednesday, December 28, 2011 1:17:01 AM
Chim cá tiến vua cùng khóc trong hũ rượu…
Tôi có anh bạn từng đi và nghiên cứu khắp hơn 80 nước trên thế giới. Một lần vui chuyện, lấp nhấp tí “rượu dân tộc” ở Hà Nội anh ta nhận xét rất đáng giật mình: Tớ đi nhiều nhưng chưa thấy nơi nào người ta nhét đủ thứ từ hổ báo hươu nai cho đến ong đất, dế mèn, rồi chim cá tiến vua, rồi cây lá, thân rễ cây thuốc phiện và trăm thứ bà rằn khác…vào hũ “rượu dân tộc” như ở ta. Đúng là sơn hào hải vị của Việt Nam, có hẳn một xê-ri các thức được tiếng là “thời trân” danh bất hư truyền, đến vua chúa ngày xưa cũng phải bắt con dân của mình nai lưng lên rừng xuống biển kiếm tìm về để tẩm bổ. Ví như “chim cá tiến vua” với chim sâm cầm, cá anh vũ, hoặc bộ lòng cá chiên. Để đến nỗi, bây giờ các món này đều bị lùng tìm kiểu tàn sát, hủy diệt. Thật khó để không buồn và xót xa cho những gã trọc phú đang mải mốt xui thợ săn đi bắn sâm cầm về “tửu táng”.
Dường như, từ trên tivi cho đến hàng quán vỉa hè bệ rạc nhất, người ta đều thi nhau quảng cáo các thứ xoay quanh công dụng “tráng dương bổ thận”. Cũng khó ai có thể tưởng tượng được, có gã quái dị đem bắt cả đàn cá anh vũ với những cái mõm chù chù như mõm lợn ỉn về thả vào bình rượu “cường dương” tả pí lù. Sao mà thiên hạ bây giờ mải mê “kích dục” thế nhỉ?
Một con cá đổi lấy ba chiếc công nông!
Những chuyến theo thợ săn cá Anh Vũ dọc sông Gâm, sông Lô, sông Nho Quế, sông Đà và vạch mặt những trò bầy hầy lừa đảo khách thích làm “vua” ở nhiều tỉnh thành luôn để lại trong tôi cảm giác bi hài. Đám “phá sơn lâm, đâm hà bá” đang muốn lộn ngửa sông nước lên, bới bùn, tát nước, bắt bằng được những “quái vật” sông hồ. Đó là những con cá chiên khổng lồ, có khi nặng 50kg đến 70kg, to như một thây người nằm sấp. Có khi tròn lẳn, nhẵn thín, đen kịt như quả bom tấn hoen gỉ ngâm nước. Khi nó lại bơi lù lù, đen nhánh như khúc đại thụ mục ruỗng lập lờ trôi dưới đáy sông.
Cung, súng bắn tên của Trung Quốc được tuồn về. Mỗi mũi tên sắt có ngạnh dài và dây buộc để bắn trượt hay bắn trúng thì vẫn không bị mất vũ khí. Bắn! Máu cá loang đỏ mặt sông. Cụ cá già nua quẫy đạp bi tráng. Tàn nhẫn nhất vẫn là trò dùng mìn, dùng xiết điện dí thẳng xuống nước, khiến vạn vật của thủy giới cùng chết ngắc. Các báu vật của lòng sông bị phanh thây, thứ “tiến vua” quý giá, nghe đồn là bộ lòng cá chiên. Dạ dày cá to như cái bong bóng lợn. Lòng cá dai và giòn, người ta phải vuốt, lộn, bóp muối như làm lòng lợn. Có khi, một bộ lòng cá thái ra, xào được ba đĩa tây.
Con công chết vì bộ lông đẹp, con chim sáo chết vì tiếng hót hay. Và bây giờ cá tiến vua tuyệt diệt vì cái tiếng vua chúa ngày xưa có thò mồm vào. Một con cá chiên già nua với những thớ thịt vàng như nghệ và bộ lòng tương truyền là thứ tiến vua kia có giá vài chục triệu đồng. Có khi một “con cá lá rau” bắt được ở nơi sông hồ chẳng của riêng ai, đem về đổi được hai ba cái công nông. Các nhà khoa học ở Viện thủy sản kêu trời, vì cá quý sắp tuyệt diệt. Trong bối cảnh ấy, số phận cá Anh Vũ mới thật thảm thương. Dữ dằn như cá chiên còn chết, huống kể gì đến Anh Vũ, cái loài mỏng manh yếu ớt, con to nhất cũng chả mấy khi nặng quá một cân. Cụ Nguyễn Trãi, cụ Lê Quý Đôn đều viết, cá Aanh Vũ sống ở ngã ba Bạch Hạc, sở dĩ ăn rễ cây chiên đàn nghìn tuổi rồi thụ khí thiêng vùng đất huyền sử mà trở nên thiêng quý, là thứ tiến vua. Thế là vua phong kiến xưa có cả “chỉ dụ” bắt người ta cống cá Anh Vũ, cống chim sâm cầm. Xưa, dân thôn lành lẽ tết lưới đan rọ thô sơ mà bắt cá, cái việc “khai thác nguồn lợi thủy sản” bấy giờ, nói như ngôn ngữ bảo tồn của nhân loại tiến bộ bây giờ là: “sử dụng bền vững tài nguyên”. Chim cá tiến vua chỉ thật sự rơi vào thảm kịch tuyệt diệt khi con người sử dụng máy móc, điện đóm, vũ khí tối tân và thả rông ham muốn ích kỷ của mình để…tàn sát. Xiết dây điện để trần xuống nước giết chết cả trứng cá và bất cứ ấu trùng nào của thủy giới. Họ làm tất cả, bất chấp ngày mai chính họ và cả loài người này, có thể không còn một ai được trông thấy cá chiên và cá Anh Vũ nữa.
Những chú sâm cầm bị chặt chân ở Hà Nội
Thế rồi hàng quán khắp Việt Trì, Tuyên Quang, Hòa Bình, Hà Nội…rộ lên phong trào “ăn món của vua”. Đám con buôn đem cá trắm, cá dầm xanh, cá trôi ra bảo là Anh Vũ đấy. Người lắm tiền muốn thử nếm thì không phân biệt được con diếc với con rô, huống hồ là thứ thời trân bước ra từ huyền thoại như Anh Vũ. Thế là đem tiền nhiều triệu ra ăn cá trôi nuôi bằng cỏ rả, bằng cám “Con cò” và phân lợn ở các cái ao tù. Vừa ăn vừa tấm tắc nó là “cá tiến vua”, ăn thế này thì có nhẽ mình được làm vua đến nơi rồi. Và họ nghĩ kế mua vài con cá tanh òm về thả nó “bơi” trong hũ rượu, hạ thổ một năm rồi òm ọp uống để cải thiện “dương sự”.
Lại nói chuyện lừa. Có một dạo, ở cửa ngõ phía Tây Hà Nội, rồi cả ở chỗ Hà Đông, khu Công viên Thống Nhất, chỗ Bách Thảo, xuất hiện đám người chuyên bán “chim sâm cầm tiến vua”. Những con chim vẫn đi lại loăng quăng vật vạ, nhưng cơ thể thì trụi không còn một sợi lông. Người bán và người mua giữa thủ đô khi ấy đều quá man rợ. Người mua luôn yêu cầu người bán vặt hết sạch lông của lũ đặc sản chim trời để về nhà đỡ phải…bẩn tay. Vặt sạch, lông chim bay tơi bời trên phố xá, nhưng người bán phải để cho chim vẫn sống, để chắc cú là mua về còn có thể “tươi ngon” cắt tiết được. Thành thử, chim trời cứ phải trụi lông như một người gầy gò, trần truồng, kiệt sức đang loạng choạng đi lại trên rìa phố hun hút gió mùa đông. Đám con buôn rao: “Chim sâm cầm này là thứ quý để tiến vua đấy. Bọn em khổ sở mới bắt được, các bác chỉ việc bỏ tiền ra là bỗng dưng thành…ua chúa. Chứ xưa thì vua…Tự Đức mới được ăn!”. Nhiều người biết chút kiến thức về chim sâm cầm đã đòi xem chân chim. Nghe nói trong muôn loài chim chóc, gia cầm, chỉ có duy nhất chim sâm cầm là các ngón chân của nó có ba cái màng xòe ra mà màng nào cũng tròn như đồng tiền xu. Mỗi ngón chân nhất định có ba “đồng tiền xu” màu xanh nõn chuối như vậy. Không giống với bất cứ loài vật nào trên thế gian.
Bọn bán chim và người mua chim đôi khi biết rõ điều đó. Nên đám con buôn leo lẻo: “Chân con sâm cầm là bổ nhất, bọn em đã cắt ra dành ngâm rượu cho thật ngấu rồi bán riêng. Đây là hũ rượu ngâm chân sâm cầm. Còn cả con chim ăn rất bổ, bộ lòng nó bé xíu và dai ngoét, mật nó ngâm trong rượu thì tuyệt cú mèo, đảm bảo ông uống bà khen. Vua ngày xưa toàn phục vụ cả trăm bà ấy chứ”. Và người ta mua tơi tới. Mua mà không biết rằng, thiên hạ phải chặt chân con chim kia trước khi đem bán, bởi vì chim đó một trăm phần trăm là chim cuốc và vịt trời. Ngón chân cuốc, chân vịt trời (và những loài khác) thì màng của nó không tròn như đồng xu, nên mới phải chặt vứt đi. Với giá cắt cổ 500 nghìn đến một vài triệu đồng một con “chim tiến vua” giả, “cá tiến vua”…lừa, nhiều thợ săn, lái buôn dạng này đã xây nhà lầu và mua xe hơi ngon lành. Và có hôm, họ lái xe, đeo súng đắt tiền, cho tôi đi theo xem họ tàn sát chim tiến vua.
Sự thật là vua Tự Đức còn có cả chỉ dụ yêu cầu dân chúng ở làng Nghi Tàm ven Hồ Tây (Hà Nội) phải cống nạp 10 đôi chim sâm cầm mỗi năm, bắt đầu từ năm 1847. Sâm cầm là giống chim di cư, hằng năm bay dọc trái đất để chạy theo nhịp điệu mùa và nhịp điệu thức ăn. Sâm cầm tương truyền sống lâu trên dãy Trường Bạch của xứ Cao Ly phương Bắc, ăn củ sâm quý nên cơ thể nó chứa bổ dưỡng ở đủ mọi nhẽ (chiết tự ra: sâm là củ nhân sâm, cầm là con chim). Thế nên người đời tiếp tục tàn sát giống chim lạ và quý này, cho đến khi người ta đều tin rằng nó đã tuyệt diệt. Tuy nhiên, sâm cầm là chim di cư, cứ đầu đông hằng năm, trong se lạnh và trời ong ong chút sương mù là chúng lại di cư qua nước Việt Nam. Người Việt dù ích kỷ và nhẫn tâm nhất thì cũng không thể bắn, bẫy hết được sâm cầm. Bởi từ trên núi Trường Bạch, quê hương của giống nhân sâm quý nhất thế giới, sâm cầm còn đi qua hàng chục quốc gia khác, Việt Nam chỉ là một bến đỗ tiếp nhiên liệu (thức ăn) để tiếp tục đốt mỡ thiên di. Việt Nam xử ác với sâm cầm, nó không dừng lại ở nhà ga nước Việt nữa. Và thời gian vừa qua, nạn săn bắn được kiểm soát, súng tự chế được vận động giao nộp khá triệt để, sâm cầm đã trở lại.
Sâm cầm chưa dám về Hà Nội ồn ào, nhưng dọc vùng Phú Thọ, Yên Bái thì đã lác đác vài đàn chim quý. Sâm cầm bay như một cơn mưa với những hạt nước khổng lồ đen nhưng nhức. Nó sà xuống ăn chung với đàn vịt trời, đàn vịt nhà. Giống như các loài chim di cư khác, sâm cầm rất lành, rất ngốc nghếch. Nó không có sự đề phòng với súng săn, lưới ụp. Đám thợ săn giàu có đỗ xe, khoác súng hơi 12kg, súng tự chế bắn đạn hoa cải loại đạn lớn. Họ ngụy trang bằng lá lẩu khắp mình, rồi bơi ra mặt đầm. Súng của họ đạn ria bắn thành vòm tròn, một lần xiết cò có thể giết chết cả một bầy chim, bắn trượt khó hơn bắn…trúng. “Sâm cầm nó ngu lắm, đã gặp là bọn tớ bắn chết! Nhưng ít khi gặp lắm. Chứ gặp luôn có mà giàu to”, một thợ săn nói.
Khi bị bắn, chim cứ nổi trên mặt nước, nổi ba ngày thì lông của nó cũng không ướt. Lông chim bết và dai, cực kỳ khó vặt, đôi khi không thể nào nhổ ra được. Lòng chim sâm cầm bé xíu, dai ngoét như dây dù. Có khi hứng chí thợ săn nhậu một lúc cả đàn chim tiến vua, rồi tò mò nhằn từ chân chim ra những cái vòng sắt ở đó có ghi chữ Tây, số hiệu rất ngộ nghĩnh. Bọn họ không biết rằng đó là thiết bị mà các chuyên gia quốc tế đeo vào chân chim để nghiên cứu, ở đó có tên trạm đã bắt và đeo vòng cho chim, có mã số theo dõi bệnh tật, cân nặng, thói quen di cư của sâm cầm. “Phẩm tiên đã đến tay phàm”, tiếc thay, tất cả đã chết chìm trong hũ rượu. Người ta dặn nhau, sâm cầm quý nhất là cái mật của nó, nhớ để nguyên mà…tửu táng.
Đàn sâm cầm đã trở về. Cá tiến vua cũng chưa tuyệt diệt. Nhưng chẳng bao lâu nữa, có lẽ tất cả chỉ còn trong…sử sách. Tôi đã rùng mình như thấy hết cái hùng thiêng của thiên nhiên xứ sở khi cầm trong tay, chụp bức ảnh con cá Anh Vũ “tiến vua” đúng như sử sách và tài liệu khoa học mô tả. Vì ăn rêu đáy nước, vì sống ở nước xiết cần bám miệng vào vách đá liên tục, nên miệng cá anh vũ loe ra, dày lên, chù chù như mõm lợn ỉ. Tôi chưa từng nghe nói, chưa tìm thấy trên mạng một bức ảnh chụp được cái mõm một con cá Anh Vũ đích thực như thế. Tôi cũng chứng kiến những cỗ tủ lạnh, những dãy hầm rượu rao bán tiền triệu/hũ mà ở đó đen nhoáy, rũ rưỡi toàn chim sâm cầm đã chết. Để rồi lòng chợt tuyệt vọng tự hỏi lòng: sao bây giờ người ta mua súng săn, súng đạn hoa cải dễ thế. Thợ săn đi cùng tôi chứa trong nhà cả chục khẩu súng, cả mấy tải đạn. Họ tự nhồi đạn rồi xiết cò đùng đoàng. Súng và thuốc nổ ấy đã và sẽ là một hiểm họa lớn, không chỉ tàn sát chim sâm cầm hay cá tiến vua.
Đỗ Doãn Hoàng
Kèm theo chùm ảnh
Wednesday, December 28, 2011 1:15:55 AM
Có những người nghèo không biết Tết
“Có một người nghèo không biết Tết/ Mang lì chiếc áo độ thu tàn” (Chế Lan Viên), câu thơ từ hồi học phổ thông cứ ám ảnh tôi mỗi khi cùng cơ quan chức năng đi tặng quà, đi “lo” Tết cho người nghèo ở khắp mọi miền Tổ quốc. Đúng là có những người nghèo không biết rằng Tết đã đến và hương vị Tết thì có chút gì ngon ngọt hay không. Tôi sinh ra trong cảnh không thể nghèo hơn, tuổi thơ khốn khó đến mức bà mẹ già của tôi mỗi lần nghĩ đến những ngày tháng ấy đều áy náy nhìn thằng con trai như tìm sự…tha thứ. “Con không chê cha mẹ khó/ chó không chê chủ nghèo”. Mẹ à, con có oán thán bao giờ đâu. Chỉ có điều rằng, cũng bởi thế mà con càng nặng lòng hơn với người nghèo mà con gặp mỗi độ xuân về.
Hà Nội, có khi chiều Ba mươi tết nhẩn nha ngắm đào quất vào hội xuân, chợt gặp những cảnh buồn tê tái, rồi ai đó thốt lên: Sao người ta có thể khổ đến vậy nhỉ? Còn sao nữa! Giữa thừa mứa tiệc xuân, có ai còn nhớ đến những mảnh đời như thế không? Bây giờ xuân lại về, người trong chiều Ba mươi mà tôi chụp cách đây độ một cái Tết, liệu bây giờ anh ta có còn nằm ở lề đường, gầm cầu, bến xe “mặc người mây Sở mưa Tần/ Những mình nào biết có xuân là gì” nữa không (ảnh 1 và 2)? Rồi người đàn ông điên dại bới rác ăn ở gần cầu Chương Dương, cách Hồ Hoàn Kiếm có chừng cây số; Ba mươi tết này, anh ta đang ở đâu? Có phần trăm hy vọng nào thoát khỏi vòng oan nghiệt của chứng bệnh tâm thần? (ảnh 3). Thế rồi ra ngó người đàn bà ăn xin ngồi trước cửa Nhà thờ, cũng cách Bờ Hồ Trung tâm Hà Nội có một vài trăm mét đây nữa (4). Bận bịu làm người ta vô cảm dần, xuân 2012 lướt thướt kéo về, cho người đi dò hỏi, thì người ấy mới chết. Cái bướu trùm lên khuôn mặt, chị ăn xin để lấy tiền đi cầu Đấng thần linh đem an lành cho thiên hạ, đem “nhiệm màu” thoát tai ách cho bản thân mình. Song rồi, chị vừa mới chết. Sao mình “chợt nhớ” ra người đàn bà mà hôm ngồi quán cà phê mình đã chụp ảnh rồi thấy đắng lòng ấy muộn mằn thế nhỉ? (bức ảnh chụp qua cửa kính quán cà phê, như thế nào đó, gương mặt chị ăn xin phản chiếu thành…2 người tật nguyền). Xuân có đem chút vui nào cho chị ở nơi xa xanh không?
Bài và ảnh: Trần Diệu Diệu
Tuesday, December 27, 2011 2:24:06 PM
Ăn rác, đốt nhà, đánh mẹ, vác cuốc đào mả bố và mả ông bà…
Bài và ảnh: Diệu Tâm - Khởi Quang
Ông Nguyễn Văn Độ, Tết 2012 này bước sang tuổi 55; nhà ở khu 10, thị trấn Đông Phú, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Người thân, xóm mạc và chính quyền cơ sở, ai cũng thở dài: lão Độ thuộc dạng “điên hết cỡ”. Hàng ngày ông Độ đi ra bãi rác thối tha nằm ngay cổng chợ huyện, bới nhặt và thản nhiên đút bao nhiêu xú uế vào miệng nhai nuốt ngon lành. Cái gì chưa ăn hết, như con gà chết, con chó chết, ông bỏ túi mang về cất giấu trong “địa đạo” đào như thời chiến tranh trốn B52 ở vườn nhà. Hứng lên ông bắt ốc sên về làm “lẩu” ăn với củ chuối, trời nóng thì ông ở trần truồng lội ủng oẳng suốt ngày đêm dưới ao, bảo là “cho nó mát”. Đã 4 lần ông châm lửa đốt nhà để…xem tro, ai ngăn cản là ông chém. Hoặc rỗi rãi vác cuốc đi đào mả bố và mả ông bà mình lên để xem… xương.
“Điên” đến mức người có liêm sỉ phải thấy… xấu hổ !
Cụ Hưởng thấy con trai đốt nhà, đảo mả chồng mình thì chạy ra can ngăn. Độ bổ cho mẹ già 80 tuổi nhát cuốc, bà cụ bất tỉnh nhân sự; đi viện mất 6 tháng mới sống sót, tiêu tốn gần 30 triệu đồng, nợ ấy chưa tài nào trả hết. Có khi ông Độ dắt trộm trâu nhà bố vợ đi…bán chơi, thế là công an về bắt. Cả lần đánh mẹ đẻ mình dã man, cả lần dắt trộm trâu của bố vợ đều khiến ông Độ bị tòa tuyên án, con người “điên đến mức không thể điên hơn” này cũng vui vẻ đi ở tù. Bệnh viện tâm thần Phú Thọ, năm 2010, trước sự kiến nghị của chúng tôi đã về giám định cho ông Nguyễn Văn Độ, có văn bản chính thức kết luận rõ: Nguyễn Văn Độ bị tâm thần phân liệt thể nặng. “Tuyên bố” vậy thôi, người ta vẫn để mặc đồng bào mình (ông Độ) sống như con vật, tiếp tục đánh mẹ đẻ và ăn rác rưởi. Điều đó khiến những người có liêm sỉ phải cảm thấy xấu hổ.
Lần đầu xâm nhập lãnh địa của người điên kia, chúng tôi phải nhờ công an thị trấn Đông Phú đi cùng để đề phòng bất trắc. Bởi ông Độ từng đánh nhiều người trong xóm; đến mẹ đẻ ông - cụ Nguyễn Thị Hưởng hơn 80 tuổi đầu, bước đi lẩy bẩy, giọng nói thều thào thế kia ông Độ “điên” còn không tha, nữa là gã nhà báo ở tận đẩu đâu tìm đến như tôi. Ông Nguyễn Văn Hữu, em ruột ông Độ, sống kề ngay bên, cũng năm thì mười họa mới dám sang ngó anh trai. “Tôi ngó vì, nói nhà báo thông cảm, nhỡ anh ấy chết thối trong hầm hào công sự anh ấy đào mà mình không biết, thì phải tội lắm”, ông Hữu khóc, “Chứ ông ấy đánh, tôi sợ lắm. Bao năm nay, vợ tôi không dám bén mảng sang thăm mẹ chồng và anh chồng lần nào, dù chỉ cách nhau chưa đầy trăm bước chân. Anh ấy nhìn thấy vợ tôi là vác gậy đuổi. Bà hàng xóm dắt xe qua đường, nơi anh Độ vẫn ngâm mình dưới ao và ở truồng từ sáng đến tối, thế là bị anh ấy đánh thâm tím mình mẩy, phải vứt bỏ xe mà chạy”. Ông Hữu chỉ cho tôi khu mộ của bố mình (cũng là bố ông Độ). “Nói có mồ mả bố tôi và ông bà tổ tiên nhà tôi. Tôi đau lắm. Bố tôi chết, anh ấy đào bung cả quan tài ra, đòi xem xác bố, “xem nào, có khi bố chết vì bị…ai đó giết”. Anh ấy bị hoang tưởng mà, gia đình đi cầu cúng khắp nơi vì nghĩ là anh ấy lấy vợ miền ngược bị người ta “chài”. Bố tôi chết già, bố hiền lành cả huyện này biết, làm gì có án mạng nào. Đào xong mả bố, anh ấy còn đào cả mồ mả ông bà tôi, đào tung cái “nghĩa trang dòng họ” lên. Rồi xòe diêm đốt nốt cả nhà, bốn lần đốt nhà rồi. Anh ấy bảo đốt nhà để xem tro”.
Cái việc ông Độ điên ra sao trong suốt hai chục năm qua, thì cả huyện Sông Thao cũ và huyện Cẩm Khê bây giờ, chắc chắn không ai lạ gì. Cái lạ ở đây là, lẽ ra cần một chính sách chăm sóc, quản lý người điên chu đáo và tử tế hơn; thì với cán bộ cơ sở và bà con, ai có thân người ấy lo, ai ăn rác rưởi và xú uế ở giữa chợ huyện là việc của người ấy, ai đào mả bố đòi đập chết mẹ là việc người ấy tự nguyện tìm lối…đi ở tù (?). Vừa rồi, trước sự kiến nghị của nhóm phóng viên chúng tôi, Giám đốc Bệnh viện Tâm thần Phú Thọ, ông Hùng đã về tận nhà ông Độ thăm, khám bệnh, giám định cho “người điên”, cơ quan hữu trách đã chính thức kết luận: Nguyễn Văn Độ là một người bệnh tâm thần phân liệt cỡ nặng. Cần công nhận là người điên, đưa đi trung tâm bảo trợ xã hội gấp, kẻo ông ta sẽ chết vì tàn lụi trong điên dại, kẻo ông ta sẽ xâm hại tất cả những người xung quanh trong vô thức. Họ nói vậy nhưng có thể nhiều năm nữa họ vẫn chưa làm. Chỉ có một điều chắc chắn, ông Độ là người điên.
Nín thở khám phá “lâu đài” và “địa đạo” của người điên hết cỡ
Tôi bước dò dẫm, nín thở. Em dâu ông Độ đưa tôi đến cổng nhà mẹ chồng là chạy biến mất, chị đi rồi, các tiếng “sợ lắm, sợ lắm” vẫn văng vẳng bay lại. Đường vào nhà phải trèo qua các vở đất nát bươm. Có lần bà Hưởng hơn 80 tuổi phải bắc thang mới đi từ nhà mình ra ngõ được. Bởi cứ ăn no rác rưởi là ông Độ lại vác cuốc chim, xẻng và quang thúng đi đào “hầm”. Ông đào toàn bộ vườn và đường ra cổng dài cả trăm mét của nhà mình thành…ao hồ. Đến mức bờ rào nhà hàng xóm đã cao, nay phần móng lại bị đào khoét sâu hắm, nó cứ chênh vênh như bức tường thành trại giam. Bà Hưởng gần đất xa trời, yếu ớt lẩy bẩy, cô em gái ông Độ ngoài 40 tuổi chưa bao giờ biết đi, biết nói, thế thì chẳng miêu tả cũng đủ hiểu cuộc chung sống với người điên đào hầm khoét ngạch kia nó…“địa ngục” tới mức nào.
Cạnh nhà ông Độ là một hộ buôn bán phế liệu. Họ sợ bị người điên đánh, nên rào ô sắt mắt cáo ở chỗ tiếp giáp với nhà ông Độ rất kỹ càng, họ tự bảo vệ rất cẩn trọng. Bà Hưởng lập cập tiếp khách lạ bằng những tiếng hờ não ruột: “Tôi đang đói quá, chả ai nấu cho tôi ăn, cũng hết tiền rồi. Nó đào hang như con don con dúi ngoài vườn ấy. Tôi góp ý gì là đừng đốt nhà, thế rồi nó chém tôi. Giờ tôi ra ngoài ấy mà nó lại chém thì chết. Nó đốt nhà mấy lần rồi, nó đào mả chồng tôi lên, tôi có dám nói gì nữa đâu. Nó đánh tôi vào chỗ đầu này, 6 tháng nằm viện mà bây giờ da thịt chưa liền, đầu tôi vẫn bốc mùi thối lắm nhà chú ơi”. Căn phòng thối inh. Toàn mùi nước đái lưu cữu. Bà Hường không đi được nữa. Dưới sàn nhà là một người phụ nữ hơn 40 tuổi bò lổm ngổm, mặt mày ngơ ngẩn, mũi dãi lòng thòng, . Từ lúc sinh ra, Cúc (tên người con gái bà Hưởng) đã bị bại não, teo chân, câm điếc và động kinh.
Đeo một cái máy quay bật chế độ tự động hoàn toàn ở trước ngực, tôi bước đi nhon nhón (tôi làm vậy vì sợ mình không đủ thời gian quan sát kỹ khi ông Độ đột ngột xông ra hoặc từ ngoài bãi rác trở về; sau này mở máy xem lại, như phim khám phá các “kỳ tích của người điên hết cỡ”). Từ trên khoảnh vườn bát ngát rau khoai lang mọc hoang khô cằn nhìn ra, tuyệt đối không thấy lều lán gì. Chỉ lúp xúp ít lá chuối khô rải trên mặt ruộng khoai lang. Hóa ra đó là nóc các hầm “người điên” trú ẩn: ông Độ đào hầm trong lòng đất mà sống. Nóc hầm chính là mặt vườn, ở đó phủ lòa xòa lá chuối. Khung gỗ xếp thành giàn ở độ cao bằng với mặt vườn để nâng đỡ “mái nhà” lá chuối. “Nhà” hoắm vào trong lòng đất. Tôi trèo xuống con đường đầy bùn đất nhão nhoét do ông Độ đào bới trong mưa rào trung du. Mấy ụ gạch rêu phong lở lói, lại thêm cái vườn chuối rậm rịt tối om, từ một chòm lá xanh rủ xuống vài “bông” hoa chuối đỏ tươi, khiến cho “khu thái ấp người điên” giống như một khu phế tích cổ với tường thành rêu phong. Nếu không xét bản chất vấn đề, thậm chí còn có thể thấy đó là bối cảnh sáng tác ảnh khá…lãng mạn.
Nhưng, chỉ đi thêm vài bước nữa, thì mùi khét và khăm khẳm ngày càng nặng. Trước cửa hầm là vườn chuối rộng mênh mông. Có lối mòn nhẵn thín đi xuống ao, giống như “hoang thú” vẫn thường qua đây và để lại nhiều dấu vết lạ. Trong hầm có một cái “giường cá nhân” kê bằng gạch, “lát” tre nứa ọp ẹp, phủ màn tuyn màu cháo lòng, bốc mùi khăn khẳn. Màn này ông Độ nhặt ngoài bãi rác về. Màn bẩn đến mức, tôi không tài nào biết trong đó có ai đó đang ngủ hay không. Nóc hầm treo lủng lẳng các hình con vật đồ chơi sặc sỡ. Có con lợn to như lợn thật làm bằng cao su màu đỏ rợn người cứ tòng teng trước mắt tôi. Cái này cũng là đồ nhặt về từ bãi rác. Góc này là nải chuối chín vàng, cũng treo lên theo lối đồng bào vùng cao bán chuối ngoài chợ. Nền đất ẩm ướt. Tôi sững sờ, có cảm giác như mấy chục người đang ăn cỗ trong lòng “địa đạo”, khi trông thấy chừng 30 đôi dép xếp ngổn ngang ở gần chiếc giường đơn. Hóa ra ông Độ có thú vui đi nhặt dép đứt về cọ rửa và trưng bày. Quần áo rách bới được từ thùng rác, ông Độ cũng treo trên vách hầm, phủ nilon ở ngoài (chắc sợ chúng bị ẩm ướt hoặc nước mưa xối vào). Rùng mình nhất là bộ sưu tập dao kéo. Tôi nghĩ đến cảnh ông Độ hoặc ai đó xé màn lao ra cầm dao kéo và tấn công vị khách không mời mà đến. Chắc chắn có người trong lều, tôi chắc mẩm. Bởi có ngọn khói khét lẹt bốc lên, trông có vẻ mơ màng lắm, họ đang nấu lẩu ốc sên hoặc đang sưởi trong tiết trời mưa gió. Ông Độ đã xây một hỏa lò như cài lò nấu chảo gang mèn mén ngô của người Mông ở vùng cao. Trong hỏa lò là nilon và rác rưởi bẩn thỉu được đốt lên len lén. Đốt lửa theo kiểu giữ ấm cho địa đạo. Trên bếp có cái nồi gì bé xíu, đen nhẻm. Dăm bảy cái nồi con con xếp hàng ngang, lửa ủ trong hỏa lò có lẽ đã lâu lắm. “Củi” là rẻ rách và nilon bẩn thỉu.
Ông Độ nhặt rác về để trưng bày và để đốt chơi. Ông thường lấy nước ao bỏ vào trong các cái nồi bé xíu, đốt nilon bên dưới rồi ở trần truồng đi quanh vườn vừa nhẩn nha chơi vừa nhặt tìm ốc sên thả vào nồi nước nấu “lẩu”, rau và thịt là những thứ cặn bã người ta vứt ngoài bãi rác ông nhặt về, hoặc là củ chuối trong vườn. Ông cứ đào rồi cắt dần củ chuối ăn, đến lúc các cây chuối đổ gục hoặc chết đứng cả loạt. Chúng tôi chụp bức ảnh ông Độ bới rác ở nơi trung tâm nhất, chính gần bưu điện huyện Cẩm Khê mà bất giác thấy mình thật…bất nhẫn. Sao lại chụp ảnh rồi ngắm nghía đồng loại của mình đi ăn rác rưởi như con chó hoang thế? Sao vạn vạn người qua lại ven Quốc lộ này, không ai thấy buốt lòng và nghĩ rằng cần phải ra tay, phải kiến nghị có cách gì để cứu nạn nhân điên loạn kia? Nếu ông Độ là bố, là anh, là ruột rà máu mủ hay bạn hữu của ai đó trong những người đang viết hoặc đọc bài này thì sao nhỉ?
Đứa con trai từ cũi chó xông ra tìm cứu được bố “điên” và mẹ bị bán ra nước ngoài
Lần khác, Nguyễn Văn Mạnh, con trai ông Độ đã đưa tôi vào căn hầm phủ lá chuối đào ngoài góc vườn thăm “người điên hết cỡ”. Mạnh ngoài hai mươi tuổi, cậu ta tiết lộ với tôi tất cả những “kiến thức” vừa mô tả về căn hầm người điên. Mạnh chui vào màn, ông Độ ốm không dậy được, ông nhìn con đờ dại, và bố con ông nói chuyện với nhau rủ rỉ mãi. Nhưng Mạnh bảo, ông chả biết gì, nói lảm nhảm, chửi lảm nhảm vô thức. Ông bảo Mạnh “mày cút đi, mày là thằng nào vào lều của tao, dạo này mày có khỏe không, vợ con mày ổn cả chứ”. Ông Độ nói văng mạng, không biết Mạnh là con trai mình, càng không biết cậu cứ đưa người yêu về là cô ấy nhìn thấy người điên ăn rác rồi… biến mất vĩnh viễn. Kể đến đây, Mạnh rỉ nước mắt ngồi im.
Mạnh bảo, nếu ngoài bãi rác chợ huyện mà không có bố em, thì ông chỉ ngâm mình dưới ao hoặc trong hầm. Cả xã hội này, chắc chắn chỉ có một mình Mạnh là đủ tự tin bước vào căn hầm của Nguyễn Văn Độ. Ông Độ đánh gần chết mẹ mình, nhưng ông ta tuyệt đối không bao giờ tấn công con. Cậu bé Mạnh từng theo mẹ chạy loạn lên tận Bắc Ninh, khi bố phát bệnh điên đánh đập bà quá dã man. Sau bà bị lừa bán sang Trung Quốc, Mạnh bị nhốt trong một cái cũi chó, mỗi ngày cho ăn nửa bát cơm để chờ…bán nốt. Tình cờ bà ngoại của Mạnh nghe tin, thông báo cho lực lượng chức năng, “bắt” Mạnh về nuôi. Bảy tuổi, cậu bé theo bố lên miền ngược làm thuê. Đến lúc ông điên hết cỡ, không ai thuê nữa, thì bố con hồi hương trong…đói khát. Kể từ khi ông Độ đào hầm sống, ăn ốc sên và ngủ dưới ao, ngày đi ăn rác rưởi, thì Mạnh không dám ở gần bố nữa. Cậu bé bỏ học về Hà Nội làm thuê. Cách đây vài năm, khi bố cầm cuốc chim bổ vào đầu bà nội, bố đi tù vì cố ý gây thương tích, thụ án ở trại giam Tân Lập của Bộ Công an; thì Mạnh vừa đi thăm bố vừa đi…cứu sống bà nội. Bà Hưởng nằm dăm bảy tháng, từ viện huyện Cẩm Khê, xuống Việt Trì và đi mãi Hà Nội, tiền viện phí mấy chục triệu bây giờ còn chưa trả hết. Nhiều ngày Mạnh chỉ dám ăn một cái bánh mỳ 1 nghìn đồng, van xin bọn lơ xe để nó cho đi nhờ vì trong túi không còn xu nào, cậu bé cứ đi như con thoi Hà Nội, Phú Thọ chăm bố và bà nội. “Em làm bất cứ nghề lương thiện nào, từ nhôm kính, bốc vác thuê, hàn xì thuê. Lương của em bây giờ là 1,5 triệu đồng/tháng. Em chỉ sợ bố em chết thối ở trong hầm mà không ai biết, thì có khi sau này em chết không nhắm được mắt. Em mang quần áo về, ông vứt bỏ, rồi đi nhặt giẻ rách về mặc. Em mua màn tuyn mới mắc cho bố thì bố đốt màn mới, đi bới màn bẩn ngoài đầu đường xó chợ về mắc lên nằm. Em chỉ ước bố em được đi…trại tâm thần. Em đã viết đơn lên huyện, lên xã, đã gặp lãnh đạo Bệnh viện tâm thần, Trung tâm bảo trợ xã hội để xin. Nhưng, người ta bảo phải…chờ”.
Có lúc, Mạnh buồn quá, nói vài câu uất ức hoài nghi về nhân cách người cán bộ cơ sở khi họ để một người “điên” tác oai tác quái như vậy mà không cho đi chữa bệnh, quản lý, chăm sóc theo đúng tiêu chuẩn của Nhà nước ta. Nhưng tuyệt đối tôi không thấy Mạnh văng tục. Ai cũng khen cậu bé ngoan, hiền, biết thân biết phận và rất mực thương yêu ông bố điên dại. Đặc biệt, Mạnh còn sang Trung Quốc tìm mẹ sau gần hai chục năm mẹ biến mất. Em thuyết phục mẹ về quê với em, mẹ con giờ khốn khó nhưng lộ trình tái hợp đang đến gần. Họ thường gọi điện cho nhau và khóc.
Có một sự thật còn buồn hơn cả sự điên loạn của bệnh nhân Nguyễn Văn Độ
Có lẽ đau đớn hơn cả sự điên dại ăn gà chết chó chết thối khắm ngoài bãi rác rồi đốt nhà, đánh mẹ, đào mả bố kia, chính là lối hành xử bất nhẫn của cơ quan chức năng địa phương, mà ở đây trực tiếp là phòng lao động thương binh xã hội và chính quyền thị trấn Đông Phú và huyện Cẩm Khê. Sau khi các nhà báo chúng tôi quyết liệt vào cuộc và trực tiếp kiến nghị, thì người ta mới dần dà nhận đơn, xét duyệt, mời Bệnh viện tâm thần và trung tâm bảo trợ xã hội Phú Thọ về khám rồi “phán” ông Độ bị tâm thần. Họ làm điều đó như một sự chữa cháy, cực chẳng đã. Nhiều nghìn ngày qua, nhiều năm qua, cả huyện và cả nhiều người có lương tri đi qua quốc lộ 32 đoạn Cẩm Khê này đều biết cái ông Độ “điên”, sao bây giờ những người hữu trách mới ra tay “cứu vớt”? Ông Lan, Chủ tịch thị trấn ra tay, ông Hùng, Giám đốc Viện tâm thần vào cuộc, phòng LĐTBXH huyện thì vẫn vô trách nhiệm ngồi chờ gia đình ông Độ hoảng hồn liên tục lên hỏi chính sách rồi bảo: “Chờ đã nhé”. Gia đình họ tuyệt vọng và oán thán. Chính sách nhà nước đã có, ông Độ đáng được hưởng, sao cán bộ lại “cắt” của con người tận khổ đó?
Bố đẻ ông Độ mất cách đây chưa lâu. Sinh thời, cụ cõng con gái bại liệt, điếc bẩm sinh đi lên thị trấn, lên huyện và lên cả tỉnh “xin” chế độ, người ta bảo về đi, ông chỉ biết khóc. Mãi vừa rồi, khi ông đã chết thì con gái ông mới nương nhờ được tí tiền chính sách mà lẽ ra cô ấy phải được hưởng từ…mấy chục năm qua. Còn bản thân người điên hết cỡ Nguyễn Văn Độ thì đến giờ vẫn “treo” cái khát vọng được là “người bệnh tâm thần” được phát thuốc, phát tiền, điều trị ở đó - dù đích thân giám đốc Bệnh viện đã về khám và kết luận bằng văn bản về chứng tâm thần phân liệt cần đưa đi trung tâm bảo trợ xã hội gấp. Mạnh, con trai ông Độ hằng tuần vẫn từ xới làm thuê dưới Hà Nội trở về vạch lá lẩu, rác rưởi, chui vào các căn hầm của người điên hết cỡ xem bố còn sống không. Rồi cậu bé lại lên gặp các cô các chú ở huyện hỏi, xem bố cháu được là người điên chưa, được có số tiền và số thuốc hàng tháng chưa, được đi trại điên chưa? Và họ lại bảo là “chưa”. Chao ôi cái thủ tục đáng sợ, thủ tục làm người điên, sao mà khó thế. Khi viết gần xong những dòng này, thì tôi lại nhận được tin từ con trai ông Độ: ông Độ tiếp tục đào nhà cửa thêm tan hoang, tiếp tục đánh mẹ mình - bà Hưởng hơn 80 tuổi - thâm tím hết cả mặt mày. “Còn cái chị Hương ở phòng LĐTBXH em thường lên hỏi chính sách, chị ấy bảo chị chuyển công tác rồi, hồ sơ bàn giao cho người khác”. Chả biết cô cán bộ ấy nói thật hay đó chỉ là một cách nói thoái thác. Rõ khổ!
Giá mà ông Độ có lúc nào đó bớt điên loạn, để đi hỏi rằng: tôi đã đánh mẹ tôi bất tỉnh nhân sự, vết thương nhiều năm chưa lành, tiền chạy chữa mấy chục triệu bao năm chưa trả hết; tôi đã ăn ốc sên và rác rưởi, cả gà chết chó chết ngoài bãi rác; tôi đã đốt nhà và đào mả bố, mả ông bà tôi - thế vẫn chưa phải là điên ư hả giời? Cái sự điên của ông Độ từng gây ra quá nhiều thê thảm cho ông, cho gia đình và xóm mạc; nhưng dường như những sự nhẫn tâm của người cán bộ “tỉnh táo” nó còn thê thảm hơn thế nữa…
Bà Lý, một người hàng xóm của ông Độ, kể: "Tôi sợ khi chứng kiến cuộc sống của ông Độ. Hàng ngày ông ta thường nhặt ốc sên sau đó múc nước ao tù luộc ăn sì sụp. Nhiều lần, tôi còn gặp ông ra bãi rác ở ngay đằng sau chợ Cẩm Khê nhặt những đồ ăn bẩn thỉu như hoa quả thối, thịt thối người ta vứt ở đó và ăn sống nuốt tươi tại chỗ. Nhìn ông ấy xé và ăn ngấu nghiến một con gà chết người ta đã vứt đi mà tôi thấy thương, dù gì đi nữa, ông ấy cũng là một con người!"
BOX (và ảnh)
Báo Tuổi trẻ Đời sống từng có bài viết và chùm ảnh về người điên bị cùm chân, nhốt trong căn nhà hôi thối suốt gần 7 năm trời ở xã Phú Lạc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Nhà ông Lê Văn Phiên, 77 tuổi, có 2 người con là Lê Văn Nghĩa, Lê Văn Nga và Lê Văn Tuấn đều bị điên nặng. Lê Văn Nghĩa giết vợ ném xuống giếng. Lê Văn Tuấn suốt ngày xõa tóc nằm ngoài bụi tre hò hét. Lê Văn Nga đâm cả công an xã, bổ vỡ đầu bố đẻ là ông Lê Văn Phiên, đánh hơn chục người hàng xóm, trộm cắp như một thứ bệnh thâm căn cố đế. Nga bị gia đình và chính quyền địa phương đóng cùm dài 3m, gông hai chân lại suốt gần 3000 ngày qua. Sau khi bài báo đăng, cơ quan chức năng đã đến thăm hỏi, phá dỡ cùm, đưa Lê Văn Nga đi khám bệnh, cấp sổ “tâm thần”. Bây giờ hàng tháng Nga được nhà nước cấp gần 300 nghìn, kèm theo thuốc điều trị miễn phí, được hưởng các quyền lợi khác như một bệnh nhân đặc biệt. Nhiều nhà hảo tâm đã tìm đến giúp đỡ gia đình ông Phiên, ông đã có vài chục triệu đồng để sửa chữa nhà cửa, chăm sóc 3 đứa con điên.
Tuesday, December 27, 2011 1:12:30 PM
Nhà sử học Lê Văn Lan:
Ký ức “độc bản” về vẻ đẹp đã tàn phai của những cái Tết Hà Nội
Thời xưa tấm lòng người ta thong thả hơn bây giờ
Nhà sử học Lê Văn Lan: Tết đến bao giờ cũng rất vui, vui theo lối rất…Hà Nội. Có điều là Hà Nội thời ấy rất khác với Hà Nội bây giờ. Xưa, ngày Tết người ta chỉ tập trung vào chuyện nhà chứ không phải chuyện phố phường, lại càng không phải chuyện thành phố. Ngày ấy có một quan niệm rằng chỉ những kẻ vô công rồi nghề, “sống vô gia cư, chết vô địa táng” thì ngày Tết mới lang thang ngoài đường, còn những người có gia đình dứt khoát là ở nhà. (Bây giờ thì người ta cứ ào ào ra phố, khiến đường đi lối lại tắc tị kéo dài). Ngay cả những người đi làm ăn xa cũng phải đánh đường, “lặn ngòi ngoi nước” làm thế nào để về nhà.
Hồi tôi còn niên thiếu, Hà Nội đón Tết tuyệt đối không có chuyện cộng đồng, nhà nước đứng ra tổ chức Tết. Chuyện tràn cả ra ngoài đường phố như bây giờ lại càng không. Hồ Hoàn Kiếm ngày ấy, Tết đến vắng tanh như chùa bà Đanh. Tất cả mọi người phải về nhà, thậm chí đóng cửa lại, vẽ cung tên, rắc vôi bột trước cửa để trừ tàvà được bảo vệ. Vì ma quỷ thường vào bằng lối cửa chính. nên phải vẽ cung tên rắc vôi bột cho chúng sợ. Cửa đóng lại, từng gia đình với nhau cho đến thời điểm quan trọng nhất là 30 Tết.
Vẽ cung nỏ và mũi tên bằng vôi bột trước cửa đã không còn nữa. Ngay cả lễ cúng gia tiên, hình như bây giờ người ta cũng thay đổi, cũng quan niệm khác đi mất rồi?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Bây giờ người ta lại cúng gia tiên nhầm vào buổi tối. Thực ra nguyên tắc cúng gia tiên là vào buổi trưa để dôi ra một khoảng thời gian từ trưa đến tối để làm giờ thiêng, giờ lành, giờ yên tĩnh; lúc ấy mọi thứ mới lắng xuống được. Còn lễ cúng gia tiên vào buổi tối thì cận giao thừa quá, người ta không còn dư dả thời gian nữa. Thời xưa hình như thời gian dài hơn bây giờ. Và tấm lòng người người ta cũng thong thả thế, thành ra cỗ gia tiên là trưa 30 Tết.
Tết đến, gia đình nào cũng phải có mía tím ở hai bên bàn thờ (phải là mía tím chứ không được là mía xanh). Bởi mía có các đốt gợi hình ảnh những bậc thang. Thiên nhiên ở ta lại không cây nào có đốt rõ mà kích cỡ lại vừa vặn như vậy. Đốt tre, đốt trúc cao quá, xa quá, tổ tiên dùng thang đó dễ trượt chân, mỏi chân quá có thể ngã. Nhưng đốt mía thì vừa bước chân của các cụ. Cây mía tím vừa là dấu hiệu của việc tưởng nhớ cội nguồn (sự du nhập của cây mía), đồng thời phát triển thành bậc thang, để những bước chân tổ tiên phiêu giáng đâu đó thì về ngự ở ban thờ. Cụ về nhà phải là ở nơi dành cho cụ, đó là ban thờ chính điện. Nhà ba gian hay năm gian cũng phải là là bàn thờ gia tiên ở gian giữa, có linh vị, bài vị của cụ. . Ý nghĩa của cây mía tím vừa là về nguồn cội, vừa là thực dụng; trong cái thực dụng ấy lại có một chút ngây thơ là bậc thang ấy vừa bước chân các linh hồn. Hai cây mía bắc ở hai bên châu phần ngọn vào chính giữa ban thờ là cầu thang để các cụ lên bậc thang bên này và lần xuống bậc thang bên kia. Chỉ cây mía thôi nhưng lại mang những ý nghĩa rất kỹ lưỡng.
Thời thuộc Pháp, Tết Hà Nội vắng lắm!
Hà Nội ngày ông còn nhỏ là thời chúng ta còn là thuộc địa của Pháp, Tết, chắc khác xa bây giờ lắm lắm?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Thời thuộc Pháp người Hà Nội về quê ăn Tết đông lắm. Những người trụ lại như gia đình tôi, là vì không có quê nữa, đã thành thị dân mất rồi. Vẫn là ăn Tết theo kiểu nông thôn giữa phố xá xây kiểu Tây; gia đình tôi cũng cúng gia tiên, cũng có tất cả những món ăn như ở quê. Ở nông thôn chẳng giàu sang cũng no say ba ngày Tết, các cụ già, các bà phụ nữ thường có câu cửa miệng “Giờ còn để sống thì thôi/ rồi ra có lúc no xôi chán chè”, tội nghiệp như thế! Nhưng ở thành phố có cái khác là rủng rỉnh tiền hơn nên cỗ bàn, rồi đặc biệt là thú chơi cầu kỳ hơn.
Gia đình tôi đến giờ vẫn giữ được món ăn mà chỉ ngày Tết mới làm Đó là món bún Thang. , Dù cỗ ngày Tết có đủ các sự sang trọng nhưng không được chém to kho nhừ mà phải trang nhã, tinh tế. Bún Thang cũng vậy, muốn dễ nuốt là phải có “thang” (nước dùng). Và bí quyết nước dùng mới là cái đặc sắc để nhà này khác nhà kia, rồi thành món gia truyền. .
Gà luộc lên, bóc chỗ lườn có thịt nạc màu trắng ra rồi xé thành những sợi càng nhỏ càng tốt; sợi thịt gà ở chỗ lườn trắng làm thành một món có màu trắng trong bát bún Thang. Da gà để riêng làm thành một món gà có màu vàng. Xương để nấu nước dùng phải là xương gà, ngày ấy chưa có máy xay như bây giờ nên toàn bộ chỗ xương sau khi đã bóc thịt phải cho vào cối giã nhỏ rồi lấy chính nước luộc gà để lọc. Bỏ thêm vào nước dùng ít tôm, cầu kỳ hơn thì thêm món sá sùng (giun biển) nữa. . Khi đun lên sẽ có bọt, lại phải dùng muôi hớt thật kỹ lớp bọt ra để nước dùng trong vắt. Làm thế vừa có đủ vị ngọt, lại thanh. Ngày Tết người ta ngán mỡ rồi, ăn bánh chưng lại hay nghẹn nên phải thêm món bún Thang có nước dùng là vì thế.
Những trò chơi đã khuất bóng trong dịp Tết
Tết, giờ đây Hà Nội đón năm mới giống như tất cả các thành phố khác, thậm chí như các vùng nông thôn đang vươn lên tiến kịp phố phường. Xin được hỏi ông, xưa kia, no xôi chán chè rồi, người Hà Nội chơi gì trong dịp Tết?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Dưa hành và pháo thì giống tất cả các vùng nông thôn. Nhưng ở Hà Nội thời đó còn các trò trèo pháo, thưởng pháo, rồi cướp pháo của cánh múa sư tử Tết. . Trò chơi cũng cầu kỳ, cũng thử thách nhau. Tôi ở nhà cao tầng, tôi treo một tràng pháo thật cao, anh phải công kênh nhau lên, phải trồng người thế nào để đốt được bánh pháo cho tôi thì anh mới có thướng thướng chứ không phải thưởng như cách gọi bây giờ. Người múa sư tử đi thành từng đoàn, mỗi đoàn lại có cạnh tranh, có cả đánh nhau nữa. Đoàn sư tử này chơi ở mấy phố này thì đoàn sư tử khác không được đến nữa, vì họ trông cả năm mới được thu tiền thướng vào ngày Tết. Đô thị có chuyện kiếm tiền theo kiểu đó.
Tết còn phải kể đến những người đi hát nữa. Bấy giờ có những nhà hát cô đầu ở Khâm Thiên, phố Hàng Giấy có cả một dãy chạy từ chợ Đồng Xuân lên đến phố Hàng Đậu. Đây là trò chơi không dành cho thanh niên mà chỉ dành cho ông già, cho người trưởng thành. Các ông muốn đi hát cô đầu ngày Tết cũng phải trốn vợ cho kheo khéo: Ta đi chúc Tết đây, mẹ nó ở nhà trông nhà đón khách nhé.
Ở các nhà hát cô đầu có 2 loại: một là đào hát và một là đào rượu. Cùng là cô đầu (đào và đầu là một) nhưng các cô đào hát chỉ biết hát thôi. Rất nghiêm chỉnh, họ rèn luyện giọng hát, các khổ hát và điệu hát. Nhưng đông hơn đào hát là đào rượu. Họ là các cô đào rượu đến để hầu rượu những ông khách đến nghe hát. Cô đào đào hát hát nghiêm chỉnh từ lúc khách uống rượu cho đến tận lúc khách ra về sau khi đã rủ các cô đào rượu vào buồng trong…
Tết cũng là dịp để nam thanh nữ tú được “tháo khoán”
Phụ nữ Thăng Long Hà Nội thời trước ra đường du xuân chắc là nề nếp lắm?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Những năm bốn mấy tôi mới độ 7, 8 tuổi. Bà chị ruột tôi hễ đi chơi ở đâu là phải áo dài, giày muyn, tóc tai cẩn thận lắm. Rồi gọi anh xe từ nhà ngang lên chuẩn bị xe kéo để bà ấy đi chơi phố. Bao giờ bà cũng kèm theo thằng em trai là tôi để làm lính bảo vệ. Những công tử lúc ấy đã bắt đầu có xe đạp, đặc biệt là xe đạp “cuốc” (xe đua), các chàng kèm bên này kèm bên kia đuổi theo rồi ném thư vào trong thùng xe kéo. Chỉ đến mức ấy thôi nhưng bao giờ bà cũng để thằng cu là tôi trừng mắt nhìn đám thanh niên kia.
Còn ở nơi làng quê, chắc là nam nữ thanh niên sẽ vui vẻ hồn nhiên hơn, thậm chí cả “linh tinh tình phộc” như lễ hồi thờ âm vật và dương vật được mang ra trình diễn ở lễ hội tối cổ tại Tứ Xã, Phú Thọ nữa chứ?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Ví như cái trò bắt chạch. “Bỏ con bỏ cháu không được bỏ mồng Sáu hội Dưng”, các cụ đã thề đến mức ghê gớm thế kia mà. Khi làng Văn Trưng mở hội ngày mồng Sáu (tên gốc là làng Dưng, xã Tứ Trưng, huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc), bao giờ cũng có trò quàng vai bắt chạch.
Một cái chum miệng nhỏ đổ đầy nước, thả vào một con chạch. Nam nữ thích nhau thì kết đôi lại. Trước sự chứng giám của thần linh, công khai đàng hoàng, họ quàng vai cùng nhau bắt chạch. Nhưng có phải quàng vai nhè nhẹ đâu, anh con trai thò cả tay sâu xuống…ngực người nữ. Với động tác quàng vai, anh được tự do làm động tác “kích dục”; trong khi mỗi người còn một tay kia thò vào bắt chạch, làm sao mà bắt được, thành ra “quàng, ôm” càng lâu càng tốt, càng kéo dài thời gian biểu diễn càng hay. Nhưng cuối cùng cũng phải bắt được con chạch để còn lấy thưởng.
Thật lòng, chúng tôi chưa từng có cơ hội nghe nói đến các nghi lễ phồn thực ở Thăng Long, Hà Nội xưa?
Nhà sử học Lê Văn Lan: “Văn hóa phồn thực” ở Hà Nội được làm thiêng hơn. Ví như làng Hồ Khẩu ở khu Bưởi cũng có trò quàng vai bắt chạch, nam và nữ cũng được kén chọn nhau, cũng mỗi người thò một tay vào chum nhưng anh không được quàng vai mà chỉ được nắm tay cô gái. Khi chấm giải, người ta còn kiểm tra cổ tay cô gái, tay anh mà để lại dấu đỏ là anh bị trừ điểm, thậm chí còn bị mắng. Đó là sự thanh nhã hóa của những trò chơi Tết.
Ông Tây mà lấy bà đầm/ thấy hàng kẹo kéo chạy ầm ra mua
Là một người sắc sảo lại hóm hỉnh, chàng công tử học đủ đàn hát, võ nghệ từ nhỏ như ông chắc có nhiều chi tiết ngộ nghĩnh lắm về những trải nghiệm Tết thời thơ bé?
Nhà sử học Lê Văn Lan: Chắc chắn là thích nhất tiền mừng tuổi. Thích nữa là cái anh kẹo kéo, có một khối trắng trong bụng thôi mà kéo thế nào dài dằng dặc, rồi thành một cây kẹo nhỏ mà bao giờ cũng có lạc ở bên trong. Mỗi đồng xu Bảo Đại mua được một cái. Tôi đặc biệt thích thú khi anh kẹo kéo để tay thế nào mà bẻ đến “cấc” một cái, không cần đến động tác thứ hai. , tiếng kêu rất giòn nữa. Tiếng bẻ kẹo như thế chỉ cần trông thấy cái kéo của người bán là đã sướng rồi, lần nào cũng mong người ta bẻ nhầm để cho mình một khúc dài hơn mà chẳng bao giờ được.
-Xin chân thành cảm ơn nhà sử học Lê Văn Lan, chúc ông thêm một tuổi mới sức khỏe và niềm vui!
Sunday, December 25, 2011 3:44:41 PM
Cù lao kiêu hãnh!
Ghi chép của Đỗ Doãn Hoàng
Những cư dân sinh sống ở nhóm đảo Cù lao Chàm (xã đảo Tân Hiệp, TP Hội An, tỉnh Quảng Nam) mà tôi giao thiệp lâu nay, ai cũng hiền, chất phác và hết mực khiêm tốn. Cái giọng ăn sóng nói gió ồn ào vậy, nhưng mỗi lúc gọi điện cho tôi, anh Thông cán bộ xã luôn xưng “em” và gọi tôi là “ăn” (anh), “a lô, em Thông ngoài đảo Rô-bin-sơn đây, “ăn Goàng” (anh Hoàng) ơi”. Tôi bảo anh Thông đừng gọi tôi là anh, bởi anh hơn tôi những chục tuổi. Nhưng anh Thông ừ ào rồi một mực xưng hô theo lối cũ.
Anh bảo, làm cán bộ ở miền đất Rô-bin-sơn tuy chịu nhiều thiệt thòi mà vui tệ. Cảnh Cù lao Chàm lúc nào cũng như ở chốn thần tiên, biển thì xanh biêng biếc, san hô rực rỡ bốn mùa, chỉ úp mặt xuống nước đã lạc vào thế giới của long vương lộng lẫy. Trong cái kiểu ví mình như Rô-bin-sơn của người Cù lao Chàm, tôi hiểu là bà con cũng có cái gì mặc cảm khe khẽ. Mình ở xa xôi, nghèo khó, đến giờ phút này còn chưa có điện lưới, vẫn chịu phận đèn dầu. Cả xã không có ô tô, chỉ lác đác vài cái xe gắn máy bị nước biển ăn mòn. Tàu thuyền thì bé xíu bậm bạch.
Khi những chiếc chân vịt ở Cù Lao Chàm không thể quay…
Mỗi lúc trở lại Cù lao Chàm, mỗi lúc nhớ về những người bạn phóng khoáng giữa đại dương xanh thăm thẳm ấy, tôi đều thấy kiêu hãnh thay cho họ. Các hòn đảo của cù laocòn quá nhiều cam khó, vậy mà họ đã làm được những kỳ tích mà người tự vỗ ngực là văn minh ở các đô thị, ở trong đất liền mấy nghìn năm văn hiến đáng phải học tập khẩn cấp.
Từ thuở khai thiên lập địa, Cù lao Chàm với 8 hòn đảo vẫn chung chiêng nằm cách các cửa sông của Hội An hôm nay khoảng 15km đường biển. Các nhà khoa học đã chứng minh, từ 3.000 năm trước, Cù lao Chàm đã có cư dân sinh sống. Những giếng nước ngọt và các cánh rừng rậm rịt nơi này đã mời gọi thuyền bè muôn phương tụ về. Họ tiếp nước ngọt, kiếm thức ăn, lấy nhiên liệu (củi) phục vụ hải trình dằng dặc của mình. (Bây giờ, chùa Hải Tạng cổ kính, những giếng nước cổ xếp đá không bao giờ vơi nước của người Chăm xưa, cả những ruộng bậc thang quyến rũ của Cù lao Chàm ra đời đã nhiều thế kỷ vẫn không ngừng khiến du khách phải sửng sốt). Hệ thống đảo Cù lao Chàm không chỉ là âu thuyền, là bến đỗ lý tưởng cho các thương thuyền và ngư dân vạn thuở. Nó còn là bức bình phong trấn giữ cho sự bồi lắng của chi chít các cửa sông vùng “Phố Hội”. Là bình phong tạo nên sự lắng sóng cho thương cảng Hội An tấp nập thuyền buôn Việt Nam và các nước Phương Đông, Phương Tây. Nếu không có tấm lá chắn để náo nức thuyền buôn tụ hội kia, thì chắc chắn đô thị cổ Hội An - thương cảng sầm uất bậc nhất nhì nước Việt và toàn khu vực đã không ra đời. Đó là lý do đầu tiên để tôi muốn người Cù lao Chàm phải biết kiêu hãnh.
Lý do thứ nữa, những người bạn tự xưng là Rô-bin-sơn với ít nhiều cảm xúc tủi phận của tôi ơi, các bạn đã hồn nhiên tạo ra kỷ lục “Nói không với túi nilon”, bằng suy nghĩ giản dị như hai với hai là bốn của mình; bằng thái độ sòng phẳng và trách nhiệm đến cùng với môi trường sống của cụm đảo 8 hòn kia. Các bạn đã xắn tay áo làm vì danh dự của người đã nói là làm, làm cho ra làm, không hô hào, không học tập ai. Giản dị như con cá hiền lành tung mình giữa đại dương, người Cù lao Chàm khiến nhân loại tiến bộ phải giật mình công nhận vùng biển này là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới” (năm 2009). Cụm đảo nhỏ bé ấy đã đem lại niềm tự hào cho người Việt Nam.
Nhưng người cù lao cũng từng hồn nhiên quá cỡ để rồi phạm sai lầm. Giản dị đến mức năm 2011, nhiều bà con vẫn thường phải ra bờ biển mà ngủ để hóng gió, bởi điện máy nổ tắt từ lúc 21 giờ hằng đêm. “Giản dị” hơn là bao năm họ hầu như không sử dụng hố xí gia đình.
Cách đây vài năm, chính quyền thành phố Hội An khảo sát, giật mình thấy cả cụm đảo ba nghìn dân mà chỉ có ba bốn cái điện thoại, rồi cũng chỉ ngần ấy cái hố xí. Sáng sáng, hàng nghìn cái mông đồng loạt chĩa ra phía biển. “Nhất quận công, nhì…đồng”, bao giờ cũng có cái lý của nó. Song việc cả xã phóng uế ra biển trong khi mình sống nhờ biển, nhà nhà quay cửa ra biển, quán quán đón gió từ biển…thì thật trớ trêu. Sóng biển như sự ân hận trong mỗi con người ấy, sóng đẩy ra rồi sóng lại cõng mọi thứ vào.
Rồi bà con đánh cá, bán cá, sinh hoạt hằng ngày cũng nhiễm thói của người phố thị, ấy là sử dụng vô hạn độ các loại túi nilon. Trong khi thế giới vận động cấm sử dụng, hoặc đánh thuế cực cao vào các doanh nghiệp sản xuất túi nilon khiến môi trường bị đầu độc, thì ở Việt Nam hiếm có cái gì bán rẻ và sử dụng tung hoành như túi nilon. Ra chợ, mua một củ hành, một quả ớt, các bà hàng xén cũng bỏ mỗi củ mỗi quả vào một cái túi nilon. Hầu hết các siêu thị, các cô thu ngân vẫn bốc cả nắm túi nilon ném vào khách hàng, đựng gì thì đựng, không đựng hết mang về mà cất giữ dùng dần. Ngư dân Cù Lao Chàm, hơn ai hết, giữa cá mú tanh ngòm, giữa nước mắm ướp ủ và đá bảo quản hải sản phải “đối mặt” hàng ngày, họ đã lăn xả vào và tâm đắc các tiện ích của túi nilon.
Thế rồi cảnh “nhất quận cộng” và túi nilon đã tàn phá các hòn đảo đến rợn người. Chuồng lợn chuồng gà, rác rưởi, phân gio, vài trăm cái cống dẫn nước thải sinh hoạt, tất tật đều tống ra biển. Nước biển không thấy màu xanh nữa, không có cả mùi mặn mòi của biển và các thuyền cá vươn khơi. Thối tha tràn ngập, nilon giăng kín các mép nước. Nhiều người trọn đời sống với biển, bây giờ nhìn ra biển thấy kinh sợ. Họ không dám tắm biển nữa. Rác vớt về, cõng lên núi chôn lấp. Mưa ào một cái, thứ nilon trăm năm chưa phân hủy lại ùa ập về với biển. Chân vịt con tàu bị nilon cuốn không tài nào quay được. Nhát cuốc bổ xuống rìa núi quằn lên, bật lại bởi vấp phải bạt ngàn túi nilon. Khi ấy, du khách không dám đến, và có đến cũng không dám quay lại với Cù lao Chàm.
Nói thật và làm thật, làm vì cả cái danh dự của lời mình đã nói!
Bà con ở miền đất Rô-bin-sơn thấm thía nỗi ám ảnh túi nilon và rác thải giết chết cả đại dương. Họ bèn bàn nhau, biểu quyết, nghiến răng cùng ra nghị quyết: Cấm sử dụng túi nilon. Mỗi nhà xây một hố xí tự hoại. Thiếu tiền thì xin…thành phố. Cái gì không hiểu thì đi hỏi. Người ta không chết vì dốt, mà người ta hay chết vì cứ tưởng mình giỏi - một lãnh đạo xã triết lý với tôi.
Rồi chuyện đến tai Bí thư thành ủy Hội An, ông Nguyễn Sự. Ông Sự cưỡi ca nô siêu tốc ra dự “Hội nghị Diên Hồng” tiêu diệt túi nilon khỏi Cù lao Chàm. Mỗi gia đình có một cánh tay giơ lên. Sức mạnh đáng nói nhất của người Hội An trong mắt tôi là tư duy thật thà: nói là làm. Cái mồm nói ra là danh dự của mình ở đó, làm vì danh dự. Không còn rơi rớt lại một tí điêu trá hô hào kiểu chỉ làm để tỏ ra mình có trách nhiệm, làm cho có phong trào rồi kết quả thế nào thì “cha chung không ai khóc” (thứ mà tôi rất rất hay gặp ở các cán bộ nơi khác).
Lần nào làm việc với ông Nguyễn Sự tôi cũng thấy công việc trôi như tên bắn. Chú đi ăn đi, anh ngại nhậu, mai rỗi anh mời cà phê ở khách sạn Hội An. Vụ này anh điều cán bộ văn hóa và cán bộ môi trường làm việc với chú, lát nữa họ sẽ chủ động gọi cho chú trao đổi cụ thể. Hôm nay trời mưa bão, muốn ra Cù Lao Chàm thì không đi tàu bé hoặc tàu chợ được đâu, để anh mượn tàu lớn của lực lượng biên phòng. Tàu hiện đại nhất ấy mà không ra được nữa, thì đến anh cũng phải ở trong bờ. Ra đó, ở nhà Chủ tịch xã, chứ không có nhà nghỉ khách sạn, không có điện đóm gì đâu. Chú cho cô ấy, cậu ấy cái địa chỉ email (thư điện tử), đừng nghĩ họ xin cho nó sang đâu nhé, nửa tiếng nữa công việc sẽ được trao đổi qua mail. Thậm chí nghị quyết của Thành phố về việc chú muốn hợp tác trao đổi, cán bộ xã cũng sẽ gửi qua mail cho chú tham khảo sau khi anh ký. Tôi mỉm cười khi nghe Nguyễn Sự kể chuyện cán bộ xã trực tuyến trao đổi công việc qua mail, cũng có ý là thôi thì im lặng cho lão Sự nói khoác. Ai dè, đoàn chúng tôi ai cũng giật mình khi nhận được đủ thứ trao đổi, thông tin từ cán bộ xã qua điện thoại, ipad (máy tính bảng). Việt Nam này, có nơi nào người cán bộ đắm đuối vì công việc, tử tế với người đến liên hệ công tác như thế chưa?
Trở lại câu chuyện diệt trừ túi nilon khỏi các hòn đảo của Cù lao Chàm. Chúng ta đã hô hào, đã nghị quyết quá nhiều về việc này rồi. Nhưng phải đến lúc các ngư dân chất phác “một với một là hai”, cơ bắp cuồn cuộn “đã ra khơi là nặng ghe tôm cá” kia vào cuộc, thì Việt Nam mới có duy nhất một miền đất không còn một bóng dáng túi nilon. Mới đây, nước ta tổ chức “Ngày không có túi nilon”, cũng chọn chính địa điểm ở điển hình tiên tiến Cù Lao Chàm để khai hỏa. Họ làm việc không phải để báo cáo thành tích, để hết trách nhiệm cán bộ, để ra oai ra oách với ai. Họ làm vì sự tử tế và danh dự ngư dân bám biển suốt đời của họ. Họ yêu biển, họ thấy mình rất không phải với nước nhà và thế giới này, khi mà họ ưỡn ngực nhận danh hiệu “Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cù Lao Chàm” hẳn hoi, mà biển bẩn đến mức không tắm được, không ngửi được. Rều rác, nilon bủa vây và sẽ giết chết các hòn đảo, các rặng san hô, giết chết cả đại dương ở khu vực này mất thôi. Thế là nghị quyết xử phạt bất cứ ai tích trữ, sử dụng túi nilon ra đời. Chính quyền, biên phòng, quân đội, công an và người dân cùng vào cuộc, họ chặn ở các bến tàu, xin phép kiểm tra hành lý của toàn bộ du khách và người đến giao dịch, công tác. Ai có nilon, tôi xin thu lại, đền cho các vị túi giấy tự dán, túi nilon tự rã tự hủy với công dụng tương đương, giá thành thậm chí còn đắt đỏ hơn. Các biệt đội làm hàng rào nổi trên mặt nước vớt và chặn nilon tiếp tục từ đại dương tràn vào đảo. Ai tích trữ nilon trước khi có “nghị quyết diệt trừ nilon” sẽ được chính quyền mua lại với giá gấp đôi. Sau khi có “chính sách” ai còn vi phạm thì phạt không nương tay, đọc lên loa xã cho xấu hổ không còn vết nứt nào mà chui chạy. Học sinh đi làm kế hoạch nhỏ bằng cách bới cát biển, khua nước biển nhặt nilon “bán”. Các bà nội trợ được phát làn nhựa nhiều ngăn, giấy báo, lá cây để đi chợ. Băng rôn, pano, áp phích “Nói không với túi nilon” chăng khắp đảo.
Khẩu hiệu của họ có tư duy thật lạ: trở về dùng lá cây gói xôi, gói cá, là trở về với cái đã có từ ngàn xưa của cha ông mình, của chính mình, chứ có gì xa lạ đâu. (Xưa kia làm gì có túi nilon!). Hãy cứu các hòn đảo, hãy làm giàu cho quê mình bằng cách làm và giữ trong sạch môi trường để mời gọi du khách muôn phương. Cán bộ vào tận Sài Gòn để đặt làm túi nilon tự hủy. Các xí nghiệp công ty được cấp phép sản xuất túi nilon ở Hội An thì bị rút giấy phép. Có người bảo, sợ họ kiện không, ông Sự vẫn dép lê, quần vải, đầu tóc bù rù nhắp tí cà phê nói năng suồng sã: “Cứu môi trường cho chính mình và con cháu mình, thì làm sai luật tí cũng được. Ai nỡ kiện nào?”. Thành phố bỏ gần 500 triệu đóng một con tàu lớn, chuyên để chở rác vào đất liền tiêu hủy. Đội quét rác, nhặt rác, gom rác khắp các hòn đảo cũng được thành lập. Gần đây, tàu chở rác đem đi đánh cá cải thiện kinh tế cho ngư dân. Bởi họ đã mua ô tô ra đảo chở rác vào nhà máy khá hiện đại vừa mới thành lập ở ngay Cù lao Chàm để xử lý.
Những kỷ niệm ấm lòng; những lời góp ý của các Rô-bin-sơn gửi Hà Nội, Sài Gòn
Họ cứ làm ào ào. Vồng bắp tay lên, nghiến răng trợn mắt mà làm. Làm tử tế thì không ngại ngần gì, đôi khi vấp sai lầm cũng vui vẻ đón nhận để còn…sửa. Có khi đang lan man chuyện bảo tồn phố cổ Hội An như thế nào sau mỗi trận lụt, nghe tin ngoài Cù lao Chàm có người kinh doanh quán ăn xả nước thải ra biển rồi vô tư sử dụng túi nilon, Bí thư Nguyễn Sự bỏ khách Hà Nội lại, gọi ca nô siêu tốc cắt biển ra xử phạt thẳng tay. Suốt bao năm làm Chủ tịch rồi làm Bí thư, điện thoại di động của Nguyễn Sự hầu như chưa bao giờ tắt, ông niêm yết số máy của mình và sẵn sàng tiếp chuyện bất cứ ai, dù phản đối hay ủng hộ mình đến mức nào đi nữa. Người Cù lao Chàm giờ tự hào với biển quê mình lắm. Suốt 8 hòn đảo, suốt đại dương xanh thẳm kia, chỗ nào cũng là bãi tắm lý tưởng. Chỗ nào nước cũng trong xanh, san hô rực rỡ, sao biển, hải sâm, cua cá lượn lờ như chốn thần tiên. Du khách rất đông, nhưng người miệt biển Cù lao Chàm dường như chưa bao giờ bị thói xô bồ thớ lợ của lối làm dịch vụ kiếm tiền thẳng tưng nó tiêm nhiễm.
Tôi có những kỷ niệm với Cù Lao Chàm mà có lẽ suốt đời không bao giờ quên: Tôi tắm ở ngoài đảo xa, hứng chí bơi như cá tôm xuống với các vách đá để chiêm ngưỡng san hô và hải giới. Có khi hứng chí quá đà nhảy từ đỉnh thuyền lớn hai tầng xuống biển, kính cận bay vuột mất. Cái người vừa cận thị vừa loạn thị đã đeo kính gần 20 năm, thì mất kính là không chỉ biến thành gã mù dở, mà quan trọng hơn: hễ cứ mở mắt ra, dù không có nhu cầu nhìn cái gì cả, song cảm giác choáng, chóng mặt buồn nôn vẫn cứ ập đến. Đang loay hoay sợ hãi thì thấy người cán bộ cơ sở mang đến một cái kính lặn loại…cận 4 đi ốp. Tôi ngơ ngác, anh kiếm đâu ra cái thứ này? “Thì tôi đã hỏi anh cận mấy đi ốp từ lúc anh liên lạc công tác mà. Đây là kính lặn dành cho người cận thị”. Tôi sững sờ cảm động gần…ứa nước mắt. Các bạn Pháp, Thụy Điển ngồi bên mỉm cười thân ái, dường như họ cũng cảm động lắm. Lúc ngoi lên tàu, đang tính chuyện đeo kính lặn suốt hành trình, gương mặt chắc giống con ve sầu với ống thở, mũ mãng đen nhoáy trọn cả ngày, khi nào vào thành phố sẽ bỏ ít nhất nửa ngày trời để đi đo và mua kính cận. Đang âu lo vậy, thì tôi lại thấy một anh chàng “người cá” đeo đồ lặn như bộ đội phòng hóa hươ hươ vật gì sáng loáng lên mặt nước. Tiếng gọi thương mến lắm: “Kính của anh đây!”. Hóa ra anh vẫn bơi quanh con tàu của chúng tôi để cảnh giới, cứu hộ. Và anh đã kỳ công lặn tìm cho tôi cái kính nó bị rơi ở vùng biển nào đó khá xa chỗ chúng tôi đang buông neo. Giữa đại dương, dễ gì “khắc dấu mạn thuyền” được? Chuyện mò kính đáy biển diễn ra vào năm 2009, đúng năm đó, nhân loại tiến bộ công nhận Cù Lao Chàm là “Khu dự trữ sinh quyển thế giới”. Đến cuối năm 20011 vừa rồi, tôi trở lại Cù lao Chàm, vẫn Bí thư Nguyễn Sự lếch thếch xộc xệch, đầu tóc bù rù đưa khách ra tận đảo. Vừa bước lên bờ đã thấy bà con cầm loa, ai nấy dắt xe cộ đợi kín nhà đón khách ngay trước bến thuyền chính. Một tấm pano to và dài hơn ngôi nhà ba gian hai chái: “Cù lao Chàm nói không với túi nilon”. Họ chào khách, rồihỏi lịch trình, phân công nhau mỗi anh chị đưa vài vị khách về nhà mình tá túc. Họ còn chuẩn bị sẵn ngần ấy người đến với đảo Rô-bin-sơn là ngần ấy chiếc xe máy. Chìa khóa cắm sẵn ở xe. Ai đó ra nhận và ghi nhớ biển số xe của mình. Đi đâu thì lấy xe mà đi, lúc rời đảo cứ bỏ lại ở bến thuyền là xong. Suốt quá trình ở đảo, tối ngủ vứt xe ngoài hiên nhà, chìa khóa không bao giờ cần rút. Bởi bất kỳ ai rời đảo cũng có giờ có chuyến, cũng được lực lượng biên phòng kiểm soát chi ly. Trộm có lấy xe cũng chả biết mang đi đâu. Chứ không lẽ chúng ăn trộm rồi vứt xuống biển?
Mà, túi nilon, cái thứ cả nhân loại tiến bộ, cả Việt Nam phải đau đầu và tạm thời đang bó tay, người Cù lao Chàm còn chiến thắng, họ sợ gì mấy tên trộm cắp vặt. Nói là làm, đã làm là làm thật, đó là giá trị, bản sắc, là niềm kiêu hãnh của đất “cù lao” xinh đẹp. Trước khi chia tay, đoàn của tôi có người cảm khái: cứ cái đà giỏi giang này, có khi các vấn đề nóng rầy rẫy làm đau đầu hàng triệu dân và xiết bao quan chức như giao thông tắc tị của Sài Gòn, Hà Nội mà giao vào tay các Rô-bin-sơn Cù lao Chàm thì họ cũng…giải quyết ngon ơ. Nghe xong, một cán bộ xã Tân Hiệp cười nhạt: “Cứ thử xem”. Rồi anh bảo: Cái gì chúng ta cũng có hầu như đủ quy định, chế tài rồi. Vấn đề là thực thi những cái ta bày ra, xử lý nghiêm người vi phạm, thế là xong. Cấm túi nilon là chuyện chưa từng ai nghĩ đến ở Cù Lao Chàm, chúng tôi còn làm được nữa là. Xã tôi không có ô tô, chỉ có vài chiếc xe máy nên chưa tiện thử nghiệm phương pháp ai cũng dễ dàng biết này. Hà Nội và Sài Gòn cứ thử theo cách dân Cù lao Chàm cầm điện thoại di động của mình đi quay phim chụp ảnh các xe, các hàng quán, tổ chức doanh nghiệp vi phạm các quy định về an toàn giao thông. Toàn dân nêu cao ý thức rồi ghi nhận bằng hình ảnh các vi phạm, đưa lên cơ quan chức năng đòi xử phạt đúng những gì chúng ta đã quy định, rồi tiền ấy bỏ vào túi người có công quay phim chụp ảnh tố giác vi phạm. Trách nhiệm của người quản lý chỉ là tiếp tục vận hành tốt cơ chế điều hành giao thông hiện nay. Rồi thẳng thay trừng trị vi phạm, tái phạm thì phạt gấp đôi. Nếu chính quyền, cơ quan hữu trách cam kết làm Bao Công như vậy được, chúng tôi sẽ cứu “thảm họa” ùn tắc giao thông. Ngư dân của tôi và bạn bè tôi, các nhà báo như anh, sẽ có nghề mới là tố cáo vi phạm để hưởng tiền nhà nước. Nói như vậy để thấy, ta có luật mà ta làm không nghiêm, thì vấn nạn mãi mãi vẫn là vấn nạn, là quốc nạn.
“Túi nilon không còn ở Cù lao Chàm. Vừa rồi thành phố Hội An lại ra nghị quyết cấm săn bắt, ăn thịt, bán buôn đặc sản cua núi ở Cù lao. Vì cua này là món khoái khẩu của ngư dân và du khách nên nó bị bắt tận diệt, trong khi cả thế giới đang nai lưng ra bảo vệ. Thế là chỉ trong một tuần, chúng tôi đã dẹp sạch bách chuyện tàn sát động thực vật hoang dã ở Cù lao Chàm”, anh cán bộ này nói tiếp. Hỏi: “Quốc nạn chặt gỗ, phá rừng, săn bắn động vật hoang dã ở Việt Nam liệu có được giải quyết nếu cho những người nói thật làm thật ở đảo Rô-bin-sơn vào cuộc không?”. Anh cán bộ vẫn nhỏ nhẹ: “Tôi hỏi nhé, rất nhiều nơi treo biển quán đặc sản rừng, bán thịt thú rừng, sao các vị được đào tạo nghiệp vụ, có công cụ hỗ trợ lại không nhìn thấy mà xử lý? Vào một cái quán “đặc sản” bất kỳ, nhiều người dễ dàng gọi ngay một đĩa thịt thú rừng rồi vểnh râu lên chén chú chén anh, sao cơ quan liên ngành ký nghị quyết liên tịch rồi rầm rộ ra quân, rồi phát động chiến dịch này nọ mà vẫn lại không biết? Sao các vị không thử đóng giả là thực khách như hàng vạn người khác vẫn làm…mà tìm bản chất vấn đề? Hóa ra, các vị không phải là đã bất lực trước thảm trạng như trong báo cáo, trong hội thảo các vị đang nêu ra. Mà mấu chốt ở chỗ: các vị đã mặc kệ, hoặc đã nói dối. Cù lao Chàm chúng tôi là nói thật, làm thật. Làm vì cuộc sống, vì bản thân mình, vì những người khác, vì chính cả danh dự của cái miệng đã nói là làm”.
Bất giác, tôi cũng cảm khái thốt lên: Tám hòn đảo nhỏ bé chung chiêng giữa đại dương à, các bạn còn nên kiêu hãnh vì cả cái lẽ này nữa đấy: Bạn đã thức tỉnh nhiều người. Có những lý lẽ trẻ lên ba cũng biết, nhưng dường như người ta cứ cần phải giác ngộ và giác ngộ liên tục thì mới…cực chẳng đã nhận ra (chuyện túi nilon chẳng hạn). Như khi tôi viết những dòng này, các Rô-bin-sơn Cù lao Chàm ơi, tôi rất xấu hổ trước tấm lòng tử tế với môi trường của các bạn. Bởi trên diễn đàn Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu toàn cầu đang diễn ra ở Durban, Nam Phi, cả địa cầu cứ nhùng nhằng tranh cãi những lý lẽ của trẻ lên ba mà không thể phân rõ trắng đen. Nhiều nước lớn giàu sang, nhưng họ quá ích kỷ, họ ỷ thế làm càn, họ sấp mặt vì những lợi ích riêng. Họ để mặc tổ chức liên minh những hòn đảo nhỏ, trong đó có cụm 8 đảo Cù lao Chàm trước thảm cảnh băng tan, nước biển lạnh lùng dâng cao… Xấu hổ thay.
Đ.D.H
Sunday, December 25, 2011 3:37:39 PM
Tết no ấm nhớ 2 triệu đồng bào chết đói năm 1945:
“Một cơn gió bụi vừa tan…”
Nước ta cơ bản không còn người bị đói rạc rày theo đúng nghĩa đen, trong cả ngày thường và ngày Tết. Chúng ta đã tự tin treo khẩu hiệu “Xóa đói giảm nghèo” ở khắp mọi nơi. (Mà dễ gì không xóa được đói cơm ở một cường quốc xuất khẩu gạo đứng ở tốp nhất nhì ba trên thế giới 7 tỷ người!) Và dường như guồng quay của cuộc sống ngày càng tăng tốc. Người ta đang dần ít có thời gian ngoái lại hay dành những giây phút cho cảm giác sống chậm để có thể bớt nông cạn và hồ đồ. Người ta bây giờ, ưa bàn đến chuyện giảm béo, chống các bệnh của nhà giàu hơn là lo cho sự gào réo của cái dạ dày. Giữa bối cảnh đó, có ai chợt chạnh lòng nhớ đến năm Ất Dậu 1945, trong bối cảnh lầm than thiên tai khắc nghiệt, rồi “một cổ hai tròng” của cú diều xâm lăng Đế quốc Pháp và Phát xít Nhật, nước ta đã có tới 2 triệu đồng bào bị chết đói. Một phần mười dân số Việt Nam đã chết vì đói, đói giơ xương, thóp đỉnh đầu, đói đến mức xếp hàng ra để chết, cướp xé nhau, cắn đứt cả tình ruột rà máu mủ để được…ăn. Trong ngàn vạn cái chết trên thế gian này, người ta bảo, chết dần vì đói là cái chết đáng sợ nhất. Người ta có thể biến thành quỷ trước khi chết. Mà lại chết tới 2 triệu người chỉ trong thời gian ngắn, chết cả làng cả xã, cả tổng cả huyện; có khi cả nhà, cả họ hàng hang hốc “xóa sổ” vì đói.
Từ những tác phẩm bất hủ của nghệ sỹ Võ An Ninh và GS Vũ Khiêu
Có hai nghệ sỹ, trí thức, kẻ sỹ lớn của dân tộc ta được biết đến rất nhiều với các tác phẩm lừng lẫy liên quan đến…vụ chết đói năm 1945. Đó là GS Vũ Khiêu và nghệ sỹ nhiếp ảnh Võ An Ninh. Họ đã sống sót qua những ngày thảm họa tồi tệ bậc nhất lịch sử Việt Nam và họ đều sống rất thọ.
Người thứ nhất là nghệ sỹ nhiếp ảnh Võ An Ninh. Nếu ai đó từng hoài nghi và có cảm giác về cái phù phiếm của không ít người chơi ảnh èo uột và màu mè hiện nay thì chúng ta nên nhắc họ: hãy thay đổi cách nhìn về giá trị lớn lao của nhiếp ảnh bằng cách xem các tấm hình Võ An Ninh chụp chết đói năm 1945. Không ai đặt hàng, chỉ sững sờ và đau buốt trước thảm họa của dân tộc, chàng trai trẻ Võ An Ninh đã bí mật xách máy làm bộ ảnh trác tuyệt và thống thiết ấy. Ông giấu rất kỹ chiếc máy ảnh cũ, vì quân đội Nhật trông thấy là nó “bòm” hoặc đánh chết ngay. Mỗi ngày ông phải thay một bộ quần áo vì mùi tử khí, vì tiếp xúc với hàng trăm thây người và những “bóng ma đói khát” vơ vào mồm bất cứ cái gì mà họ nghi ngờ là có thể ăn được để sống làm người. Có người bị đưa lên xe cải tiến đi chôn tập thể, vẫn ngóc đầu dậy tôi chưa chết đâu.
Cố Tổng Bí thư Trường Chinh từng đánh giá bộ ảnh này của Võ An Ninh là “tài sản vô giá của loài người”. Đây, những cháu nhỏ gầy giơ xương, mắt sâu hoăm hoắm. Những đống thi thể người chồng chất không ai kịp đem chôn. Đây, người đàn bà rách rưới với đôi mắt kinh hoàng đang cầm một con chuột lên ăn. Kia là cả “núi” xương người, trong khi những chiếc xe cải tiến vẫn ọt ẹt chở cả đống thây người đi chôn rấp tạm bợ đâu đó, người kéo xe có khi cũng gầy đen như quỷ đói và sắp phải vùi xác trong những hố chôn người tập thể kinh dị nhất. Viện Sử học và chuyên gia nước ngoài, sau này đã kỳ công điều tra, công bố về con số 2 triệu người chết đói với cả kho tư liệu khổng lồ và chi tiết. Nhưng đúng là không có bút mực nào diễn tả được nhiều điều như các bức ảnh. Những bức ảnh có thể làm thay đổi nhận thức của người ta về lịch sử, về giá trị đích thực nhất của…nhiếp ảnh.
Người thứ hai mà khi nhắc đến nạn đói năm Ất Dậu không ai có thể quên, đó là GS Vũ Khiêu. Bấy giờ, dịch bệnh, mất mùa, vỡ đê, mưa gió não nùng càng như xúc tác khiến cho cái đói vì chính sách tàn độc của xâm lăng như được “chắp cánh”. Năm 1945, ở tuổi hai mươi chín, chứng kiến những hãi hùng của nạn chết đói hủy diệt nhiều xóm làng, nhiều vùng quê rộng lớn ở miền Bắc, ông đã thảng thốt viết một bài “Truy điệu những lương dân chết đói”, mở đầu như sau:
“Một cơn gió bụi vừa tan
Hai triệu sinh linh đã mất
Khí oan tối cả mây trời
Thây lạnh phơi đầy cỏ đất”.
Tác phẩm bi tráng của GS Vũ Khiêu, giờ được khắc vào bia đá dựng tại khu tưởng niệm những nạn nhân chết đói năm 1945, trong con ngõ nhỏ bé và khuất nẻo đến tội nghiệp ở giữa lòng Hà Nội sầm uất thời mới. Ông Vũ Khiêu dường như đã khóc, đã chua cay quá chừng khi viết những lời lẽ này nữa:
“Có những quán: hàng bao xác lạnh,
bỏ ruồi bâu bọ khoét chửa ai khiêng.
Có nhiều nơi: một nắm xương khô,
từng nắng giãi mưa dầu không kẻ nhặt.
Mỗi người manh chiếu bó bó chôn chôn.
Từng đống trên xe chồng chồng, chất chất.
Ôi nói ra những toát mồ hôi
Mà nghĩ lại thêm tràn nước mắt!”.
“Dây thân ái cũng nghiến răng dứt đứt”
Tiếng là chết 1/10 trong tổng số 20 triệu người dân Việt Nam bấy giờ, nhưng chết đói không diễn ra ở khu vực từ Quảng Trị hắt vào phía Nam (tức là khoảng 1 nửa số tỉnh thành bấy giờ). Thế nên, từ chết mang tên đói khát lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm Bắc Bộ, với mật độ người chết dày gấp đôi tỷ lệ 10% kể trên. Đói đến mức bà con phải chế biến đất mà ăn để đánh lừa dạ dày, phải nhặt phân ngựa của lính Nhật về đãi lấy những hạt ngô chưa kịp tiêu hóa mà ăn. Ăn hết rau cỏ, cây có chất rau kể cả củ ráy ở ngoài đường, ngoài đồng; bà con ăn nốt mùn cưa, rơm rạ và bắt cả gián cả chuột mà ăn. Thậm chí có văn bản đã công bố rộng rãi, nói rõ về đoàn người chạy đói kéo dài bất tận lên Hà Nội, chợt có người thành phố ghê tởm nôn ọe trước các tử thi, một hình nhân đói rạc xông ra bốc bãi nôn mà ăn…
Tài liệu của Viện Sử học Việt Nam chép rõ: ở xã Tây Lương (huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình), có xóm Bối Xuyên chỉ 51 hộ thì 40 hộ có người chết đói, 18 gia đình chết không còn một ai. Dòng họ Tô và họ Lại ở Bối Xuyên hết sạch người. Có xóm như xóm Trại cùng xã bị xóa sổ, vì 82 nhân khẩu chết không còn một ai. Cùng ở Thái Bình, nhiều nơi người lớn chết hết, trẻ con sống sót bị chó đói kéo vào ăn thịt hết sạch. Ở Thanh Hóa, nhiều khu vực chết đói lắm quá, cả gia đình cùng chết, bà con chỉ biết kéo sập các khu nhà để vùi lấp luôn. Sau này khai quật, nhiều bộ xương vẫn có dây thép buộc quanh cổ, bởi năm 1945, không còn chiếu để mà bó thây, tuần đinh cứ buộc dây thép vào kéo xác quẳng đi cho gọn. Nhiều hào phú đầy nhà của nả, nhưng có tiền mà không có gì ăn, lương thực rau cỏ cạn kiệt khắp nơi, ông ta mặc áo the khăn xếp ra gốc cây phi lao nằm chết cùng đông đảo người làng. Lịch sử Đảng bộ tỉnh Thái Bình ghi rõ: năm 1945, địa phương bị chết đói mất 25% dân số (!), riêng xã Tây Ninh ở Tiền Hải, 171 gia đình chết không còn một ai.
Đói, đôi khi người ta không còn là con người nữa. Đã có chuyện được đăng báo, được Viện Sử học sưu tầm với tên tuổi hẳn hoi: bố ném con trai 4 tuổi xuống sông vì đói. Con bóp cổ bố đến chết để dành ăn nồi cơm một mình. Thảm cảnh máu mủ tình thâm bị cái đói nuốt chửng này, cũng được GS Vũ Khiêu tế trong áng văn bi thảm bất hủ đã dẫn:
“Ngẫm thủa trước, cảnh nghèo cũng lắm,
chữ cương thường còn giữ dạ đinh ninh.
Mà ngày nay nỗi khổ không cùng,
dây thân ái cũng nghiến răng dứt đứt.
Mẫu tử tình thâm,
ôi một mái tơ xanh nào đã tội,
bỏ u ơ cuối chợ đầu đường.
Phu thê nghĩa nặng,
hẹn trăm năm đầu bạc cũng sai lời”.
Đói sinh ra cướp bóc, giết chóc nhau. Nhiều người tìm cái ăn bị Phát xít Nhật mổ bụng, chém chết mà chúng chán không cần…ngoái nhìn. Vì sợ cướp, nhiều cửa hiệu ở Hà Nội bấy giờ phải trưng bày bánh bằng…đất, ai chắc mua, đưa tiền rõ ràng thì mới mang bánh thật ra trao. Nhiều nhân chứng kể rõ: có khi sáng ra, mở cửa nhà, họ thấy vài xác chết đổ ập về phía mình. Các sử gia có sưu tầm và lưu giữ được một bức thư của Vespy (người nước ngoài) viết tháng 4 - 1945, diễn tả lại những gì mắt thấy tai nghe xung quanh dòng người kéo về Hà Nội hy vọng kiếm cái ăn độ đói ấy: “Họ đi thành rặng dài bất tuyệt, người nào người ấy rúm người dưới sự nghèo khổ, toàn thân lõa lồ, gầy guộc giơ xương, ngay cả những thiếu nữ đến tuổi dậy thì đáng lẽ hết sức e thẹn cũng thế. Thỉnh thoảng họ dừng lại vuốt mắt cho một người trong bọn đã ngã và không bao giờ dậy được nữa, hay để lột một miếng giẻ rách không biết gọi là gì cho đúng để che thân người đó. Nhìn những hình người xấu hơn con vật xấu nhất, nhìn thấy những xác chết nằm co quắp cạnh đường chỉ có vài nhành rơm vừa làm quần áo vừa làm vải liệm, người ta thật lấy làm xấu hổ cho cái kiếp con người”.
Cũng cần phải viết “văn tế” sự vô tình của chúng ta!
Tính đến xuân con Rồng 2012 này là đã 67 năm trôi qua kể từ khi nạn đói khủng khiếp năm Ất Dậu 1945 hành hoành khiến 2 triệu đồng bào ta thiệt mạng. Thời gian đủ dài để đứa bé sơ sinh sống sót năm ấy đã bạc phơ mái đầu, đã lên ông lên bà được gần hai chục năm. Đi dọc miền Bắc Việt Nam trù phú, san sát phố sá nhà cửa, rồi nhà cao tầng và siêu thị hôm nay, không dễ gì các sử gia (chứ đừng nói người dân, người trẻ) hình dung được mức độ thảm họa tiêu diệt 10% dân số nước nhà năm xưa. Đúng như ước nguyện của chàng trai trẻ Vũ Khiêu đầy khí phách đã viết năm 1945: “Hận kia rồi trả phân minh/ Oan thác nọ sẽ đền chu tất/ Cho ai chín suối ngậm cười/ Để khách năm châu tỏ mặt”. Cách mạng Tháng Tám đã nổ ra, lật thốc bỏ mọi đau thương đói khát. Nếu nhìn thấy sự sung túc về vật chất thế hệ tiếp nối hôm nay, chắc 2 triệu đồng bào xấu số kia cũng ngậm cười nơi chín suối.
Vui thì vui vậy, ngẫm mới thấy xót xa cho việc người sống ứng xử sao cho nhân văn và tử tế với câu chuyện không thể nào quên của lịch sử. Những khu mộ tập thể, những kho xương bạt ngàn đau đớn của các nạn nhân dường như rải kín một góc khổng lồ của Hà Nội (và nhiều tỉnh thành). Năm 1951, tức là 6 năm sau sự kiện động trời hồi Ất Dậu, người Hà Nội đã bước đầu quy tập các kho xương, núi xương cốt vào, dựng tấm bia với dòng chữ đắp nổi: “Nơi an giấc ngàn năm của đồng bào chết vì oanh tạc và nạn đói 1944-1945” ở địa chỉ ngách 86, ngõ 559, đường Kim Ngưu (Quận Hoàng Mai, Hà Nội) hiện nay.
Nhưng rồi ruộng vườn và những cam khó của người sống cứ tràn lấn dần. Họ có khi bới mấy chục bộ hài cốt quẳng đi để đào một móng nhà. Nhiều nhà đào được tới 50 cái tiểu và bia mộ mang vứt đi để lấy không gian sống. Hầu hết họ xuất thân khốn khó, nếu không đuổi “ma” đi mà liều sống trên kho hài cốt, núi tiểu sành thì cũng chẳng còn biết làm sao nữa. Nhà sử học Dương Trung Quốc dường như đã gạt nước mắt, khi thống thiết kêu gọi: “Không lẽ chúng ta chấp nhận cơn sốt đất đai, công cuộc đô thị hóa Hà Nội và sự thờ ơ của chính chúng ta hủy hoại chứng tích cuối cùng của một sự kiện trọng đại trong lịch sử Việt Nam thế kỷ 20. Kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám, chúng ta hãy dành một nơi xứng đáng hơn tưởng nhớ đồng bào chết đói năm Ất Dậu để không ai bị lãng quên (…). Đó cũng là cách chúng ta đối xử công bằng với một quá khứ đau thương và những thế hệ sau không trách chúng ta là vô ơn, bạc nghĩa”.
Đúng là chúng ta đã quá bạc bẽo và chậm chạp. Bởi, dù rất nặng lòng với sự kiện, nhưng mãi 45 năm sau ngày bấm những tấm hình cực kỳ ám ảnh cho lịch sử dân tộc, nhà nhiếp anh Võ An Ninh mới có dịp cùng chuyên gia Nhật Bản và cộng sự trở lại nấm mồ tập thể lớn nhất Việt Nam ngay giữa lòng Hà Nội để làm một cái gì đó cho xứng tầm tưởng niệm. Viện Sử học cũng phải nửa thế kỷ sau mới kết thúc điều tra, chính thức hóa, số liệu hóa phần nào các ký ức kinh hoàng về nạn đói năm 1945. Khu tưởng niệm nhỏ bé được dựng vào tít mãi năm 2003, tức là gần 60 năm sau khi 2 triệu đồng bào ta nằm xuống vĩnh viễn. Bây giờ vào thăm, khu vực tưởng niệm nó bé đến thê thảm. Đường vào hun hút, một cái xe đạp và một cái xe máy tránh nhau còn chật vật. Người Hà Nội gốc tìm đến thắp nhang cho 2 triệu đồng bào xấu số của mình còn khó, chứ nói gì đến người ngoại tỉnh hay khách nước ngoài. Với chiếc máy ảnh đời (tương đối) mới, chúng tôi loay hoay mãi mà vẫn không thể bấm được kiểu ảnh toàn bộ phần bia và chút không gian của khu tưởng niệm. Rộng chừng trăm mét vuông với di vật và kiến trúc quá sơ sài, gồm: một tấm bia khắc bài văn tế người chết đói của GS Vũ Khiêu, một cái toen hoẻn gọi là bể xương, một vài bệ đặt bát nhang, một người trông coi tự nguyện vốn là cư dân có tâm nhà gần đó. Tất cả san sát, bé xíu. Thậm chí xấu xí. Khu tưởng niệm eo xèo này bị khuất lấp, băm vụn kiến trúc và tầm nhìn bởi các ngồi nhà to lớn lộn xộn xung quanh.
“Một cơn gió bụi vừa tan/ Hai triệu sinh linh đã mất/ Khí oan tối cả mây trời/ Thây lạnh phơi đầy cỏ đất”. Mỗi lần đọc những câu văn tế ngút trời sầu thảm này, tôi lại có mấy so sánh (nhắc lại): 32 tỉnh thành, chủ yếu từ Quảng Trị trở ra Bắc của nước ta hồi đó bị nạn đói gây chết người hàng loạt, xóa sổ nhiều gia đình, dòng họ, xóm làng. Tức là một nửa số tỉnh thành của ta bị “nạn”. Nạn này làm chết 10% dân số cả nước, thì tính ra, nội trong trong 32 tỉnh thành từ Quảng Trị đổ ra kia sẽ có những 20% dân số bị xóa sổ. Cho dễ hiểu hơn: cứ 5 người ở các tỉnh đó thì có 1 người phải chết vì đói năm Ất Dậu 1945.
Khi khu tưởng niệm các nạn nhân bom nguyên tử ở Hirosima được công nhận Di sản thế giới
So sánh tiếp: các “cảm tử quân tử” của Thánh Ala lao máy bay vào Tòa tháp đôi bên Mỹ giết chết khoảng 3.000 người. Đó là một hành động không thể chấp nhận được. Cả thế giới phải chấn động, thậm chí nhân sinh quan, thế giới quan của nhiều người phải vì thế mà…thay đổi. Và, với hoạt động tưởng niệm và tiêu diệt bọn khủng bố nhân thế mới rầm rộ chưa từng thấy. Người ta dâng hoa, đốt nến, viết sách, làm phim, tái dựng tòa nhà chọc trời, nhiều thước phim và bức ảnh hầu như cả địa cầu ai cũng biết. Ba nghìn người chết, ở góc độ nhân văn thì con người ai cũng như ai và không được phép đưa ra bất cứ so sánh nào; nhưng về số lượng thì 3.000 người tử nạn ở Tòa Tháp Đôi hồi 11/9 so với 2.000.000 người xấu số ở Nạn Chết Đói năm 1945 nó… quá ít ỏi.
Hay như thảm họa hạt nhân mà thế giới vĩnh viễn nhớ, vĩnh viễn tưởng niệm từng ly từng tý, từng chi tiết nhỏ nhất, từng hình thức công phu và nhân ái nhất tại Nhật Bản năm 1945. Số lượng người chết ở cả hai thành phố Nagasaki và Hirosima là khoảng 214.000 người. Vụ việc cũng xảy ra vào năm 1945, cùng thời điểm với nạn đói Ất Dậu ở nước ta, nhưng số người chết bằng khoảng 1/10. Vậy mà nước Nhật đã cho bao nhiêu thế hệ dân chúng của mình, rồi cả thế giới tưởng niệm xúc động ra sao. Người ta thành lập cả “Khu tưởng niệm Hòa Bình Hirosima” (còn gọi là “Vòm bom nguyên tử”) tại đúng nơi chịu hậu quả nặng nề nhất của quả bom tàn độc khiến cả thế giới lên án kia. Công trình thậm chí còn được vinh danh là Di sản thế giới. Nó được xem như là lời lên án đanh thép nhất với quả bom nguyên tử đầu tiên chống lại loài người. Nó là lời kêu gọi loài người tiến bộ hãy đuổi bom nguyên tử ra khỏi cuộc sống của mình. Tiếng chuông nguyện cầu cho sự siêu thoát của những người xấu số, cho hòa bình của thế giới vẫn hàng năm vẫn vang lên, triệu triệu con hạc giấy đã được gấp và trưng bày nơi đây, như cái cách để người đã chết tham gia “mở mắt” cho người đang sống hiểu thế nào là giá trị của hòa bình và sự sống, của lòng nhân ái và lương tri.
Trong no đủ hôm nay, bất giác nhớ đến nạn đói tiêu diệt 2 triệu đồng bào mình năm ấy, ngắm khu tưởng niệm nhỏ bé và đơn điệu nằm tủi hổ trong góc buồn của con ngõ ngoắt ngoéo kia, không ai có thể thoát khỏi cảm giác se thắt, bẽ bàng. Thấy xấu hổ, thấy có lỗi với sự thiệt thòi quá lớn của cha ông mình năm ấy. Chúng ta có thiếu đất nền, có thiếu bê tông cốt thép hay tri thức đến mức không xây được một khu tưởng niệm xứng tầm cho 2 triệu đồng bào đã chết vì đói khát kia không? Tôi nghĩ ai cũng biết rõ câu trả lời. Hãy để lịch sử lên tiếng. Khu tưởng niệm, các hình thức tưởng niệm, nó không chỉ là tâm linh, mà còn là văn hóa - lịch sử; không chỉ vì người đã khuất, mà nó còn vì cả người đang sống và người sẽ sống không chỉ trên mảnh đất này. Khu tưởng niệm ra đời, nó không chỉ thay thế cho khu tưởng niệm èo uột tạm bợ đã có, mà hơn thế nó còn mở lối cho chúng ta hiểu rằng: không một ai là vô danh cả, hãy công bằng với lịch sử; và những người nằm xuống vẫn tham dự một cách duy vật vào cuộc sống có tri thức có văn hóa của tất cả chúng ta. Khu tưởng niệm bao giờ chúng cũng có sức mạnh riêng của mình.
Het.
Sunday, December 18, 2011 12:50:10 PM
Chương trình “Vinh quang Việt Nam lần thứ 9”
“Tôi yêu bản anh hùng ca không tắt…”
Ghi chép của Phạm Thị Thảo Giang
http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Toi-yeu-ban-anh-hung-ca-khong-tat/70117Hai mươi mốt tập thể và cá nhân xuất sắc trên nhiều lĩnh vực được vinh danh trong Chương trình “Vinh quang Việt Nam lần thứ 9” đã có một lịch trình làm việc, giao lưu, thăm hỏi đầy ý nghĩa ở Thủ đô Hà Nội. Nhớ mãi ngày 17/12/2011, vào Phủ Chủ tịch tiếp kiến Phó Chủ tịch nước Nguyễn Thị Doan, ai đều nấy rưng rưng xúc động. Những con người dũng mãnh nhất, như Nguyễn Thanh Hải (đội trưởng Đội săn bắt cướp ở Bình Dương, từng bắt gần 1000 tên tội phạm hung hiểm), rồi “Sói biển” ăn sóng nói gió Mai Phụng Lưu, Thiếu tá Nguyễn Đức Cường, cảnh sát chống ma túy từng bị “bố già” bắn xuyên cơ thể mà vẫn hiên ngang lên tuyến đầu phá án… - những con người “rắn rỏi” ấy, hôm nay ai cũng thổn thức kể chuyện đời mình.
Chợt Phó Chủ tịch nước trân trọng đứng lên đọc một đoạn thơ của Lưu Trùng Dương. “Tôi yêu bản anh hùng ca không tắt/ Mà lời ca sang sảng những tên người/ Bế Văn Đàn hiến trọn tuổi hai mươi/ Thân trai tráng vì dân làm giá súng/ Phan Đình Giót như một hòn núi lớn/ Ngực yêu đời đè bẹp lỗ châu mai”…(“Vinh quang thay thế hệ Hồ Chí Minh”)Bà nói: Tôi rất xúc động khi có buổi gặp gỡ từng gương mặt của “Vinh quang Việt Nam” như thế này. Nhìn vào thành tích, chiến công, sự cống hiến hy sinh của các vị, tôi lại nhớ đến câu thơ trên. Những gương mặt này sẽ tiếp nối những bản anh hùng ca không tắt kia. Để những tên người còn vang mãi, là niềm tự hào cho đất nước Việt Nam, nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Các tổ chức cá nhân hôm nay đã xứng đáng được lựa chọn để tôn vinh, nhưng sau đây các vị còn làm gì nữa để “bài ca” kia sẽ mãi “sang sảng những tên người”?
Phó Chủ tịch nước cũng rất vui mừng nhận ra nhiều “gương mặt quen” đã xuất hiện nhiều trên các phương tiện truyền thông, nhờ thành tích nổi bật của họ. Nhiều người trong số đó, Phó Chủ tịch nước đã và đang đọc hồ sơ phong tặng danh hiệu Anh hùng thời kỳ đổi mới. Những người được lựa chọn vinh danh trong “Vinh quang Việt Nam lần thứ 9” đến từ nhiều lĩnh vực. Có ngư dân bám biển, có vận động viên nổi tiếng, có các chiến sỹ công an, quân đội, có người đi sâu vào lòng đất tìm vàng đen cho Tổ quốc (tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam), có cán bộ ngành dầu khí đi “thắp sáng quê hương”. Có em Trần Văn Truyền mới 14 tuổi, là học sinh lớp 7 ở Đà Nẵng đã xả thân lao ra giữa sóng nước cứu 11 người, vớt thi thể của 8 người trong một vụ đắm thuyền tại Bãi Hoẳm dưới chân đèo Hải Vân. Có ông Mai Phụng Lưu là ngư dân ở đảo Lý Sơn, quanh năm đánh bắt cá ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa; dù bị “tàu nước ngoài” bắn phá, bắt giữ, cướp của, tra tấn dã man, ông vẫn dũng cảm bám biển. Hành động của ông Lưu đã thêm một tiếng nói đanh thép khẳng định chủ quyền biển đảo của Việt Nam trong toàn khu vực. Nhiều người không ngại hiểm nguy, bất chấp cái chết có thể đến trong gang tấc khi đối mặt với những tên cướp, những đối tượng buôn bán ma túy xuyên quốc gia. Có người là “bảo mẫu” chăm sóc các cháu nhỏ cô đơn, bệnh tật, nhiễm HIV cũng được tôn vinh lần này, như chị Hồ Thị Kim Thoa ở TP Hồ Chí Minh...
Đồng chí Nguyễn Thị Doan nhấn mạnh: Thành tích trên, ngoài tài năng, nỗ lực cá nhân và niềm say mê nghề nghiệp của họ; còn thể hiện một điều nữa - đó là tinh thần phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân và lòng yêu quê hương đất nước.
Quả thật, với thành tích xuất sắc, nỗ lực và sự hy sinh quên mình, tinh thần xả thân vì cộng đồng của các tập thể cá nhân được tôn vinh hôm nay, họ đã khá nổi tiếng trước truyền thông; nhiều người quen mặt với toàn dân thông qua báo chí, truyền hình. Thế nhưng, có gặp họ, mới thấy hết thế nào là một “bản anh hùng ca sang sảng những tên người”. Họ bình dị lắm, đôi khi còn run rẩy, lóng ngóng trong cả lời nói.
Như anh Nguyễn Thanh Hải, người dường như suốt bao năm chỉ nghĩ mỗi việc là đi…vồ bọn cướp, bảo vệ bình yên cho đồng bào. Anh Hải vừa bước vào hội trường là mọi ánh mắt đã đổ dồn về ngắm nghía cái dáng đi võ biền, vẻ mặt hồn nhiên, cởi mở của anh. Dù ở nơi mọi người đều mặc “lễ phục”, đội trưởng săn bắt cướp với thành tích khét tiếng từng bị đạo tặc đâm thủng bụng vẫn rất xuề xòa với áo khoác mở phanh. Cái rét Hà Nội dường như ít khiến người đàn ông phương Nam vạm vỡ và can trường thấy ái ngại. Nguyễn Thanh Hải biết mình chỉ ham làm việc, mải làm thật nhiều cho cộng đồng mà ít biết…tuyên ngôn, anh là người duy nhất trong buổi giao lưu, gặp gỡ ở Phủ Chủ tịch rút trong túi áo ra một bản giấy viết tay. Anh…cúi xuống đọc, kết thúc là: “Xin cảm ơn mọi người đã lắng nghe”. Cảm ơn Phó Chủ tịch nước “dù bận trăm công nghìn việc cũng vẫn đến đây giao lưu và…trao quà”; rồi để đội trưởng SBC (săn bắt cướp), từ hiệp sỹ đường phố lang thang, đã được vinh dự chụp ảnh chung với bà. Anh Hải hồn nhiên xin chụp riêng một pô với đồng chí Nguyễn Thị Doan, anh ghi rõ email và số điện thoại của mình, rồi nhờ tôi (nhà báo) gửi ảnh để anh in ra, treo lên làm kỷ niệm.
10 năm làm đội trưởng đội săn bắt cướp ở phường Phú Hòa, thị xã Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, anh Hải đã trở thành biểu tượng, thần tượng trong nhiều người. Có khi bị cướp giật, có khi tai nạn xe, có khi cãi cọ hay…đánh ghen, họ đều gọi cho dũng sỹ yêu công lý của mình là anh Hải. Anh tâm sự: “10 năm liên tục đeo bám đối tượng. Phá trên 1.000 vụ cướp giật, cả những vụ nhiều công ty làm ăn bạc ác xả thải bao thứ độc hại thẳng ra môi trường. Biết bọn cướp có hung khí sẵn sàng chống trả, bản thân tôi cũng từng bị cướp đâm cho trọng thương. Nhưng tôi vẫn rất hạnh phúc khi được làm những công việc đem lại sự bình yên cho bà con mình. Giờ lại được tham gia chương trình “Vinh quang Việt Nam”, được gặp và chụp ảnh với Phó Chủ tịch nước. Tôi xin hứa sẽ trở về, nỗ lực hơn nữa, nhân rộng mô hình để phục vụ cuộc sống, xứng đáng với tình cảm của quý vị hôm nay”. Nói xong, mặt anh Hải đỏ dừ vì xúc động. Nhiều người có mặt nói vui: Nguyễn Thanh Hải bắt cướp “tư nhân”, tự thân xông pha vì sự bình yên cuộc sống.
Còn thiếu tá Nguyễn Đức Cường, Phó trưởng Phòng cảnh sát phòng chống tội phạm ma túy, Công an Nghệ An thì lại là người đeo quân hàm quân hiệu, được tổ chức phân công đi đánh án. Song, cả hai anh đều “nhiệt tình Cách mạng” như nhau, đều đã bị trọng thương mà vẫn chưa bao giờ nao núng. Sự quả cảm, can trường đó nó ngấm vào máu trượng phu trong mỗi người. Anh Cường nói một câu khiến ai cũng ám ảnh: “Chúng tôi đi làm nhiệm vụ, đối tượng cực kỳ nguy hiểm và hung tợn, bao giờ chúng tôi cũng mang 3 - 5 khẩu AK, thường là giờ bắn…hết đạn thì mới về.” Nhiều đối tượng người nước ngoài bị bị tiêu diệt gọn, chặn đứng các đường dây thẩm lậu ma túy, các chuyên án bị phá với hàng trăm bánh heroin và nhiều ma túy tổng hợp khác.
Anh Cường có lần bị đạn bắn xuyên qua cơ thể, “Tôi không mê tín, nhưng đúng là nhờ rất nhiều yếu tố may mắn thì tôi mới sống sót đến bây giờ. Mỗi lần đi làm nhiệm vụ, điều tôi lo lắng nhất là…làm sao giấu người thân chuyện hiểm nguy, kẻo vợ con, gia đình mà biết thì họ lo sợ lắm!’, Thiếu tá Cường nói. Bản thân anh thì thấy “rất hạnh phúc” khi cùng với vợ con ở trong căn nhà…tập thể của công an tỉnh Nghệ An. Cái điều anh kiến nghị lại là: Chúng ta cần tăng cường vũ khí hiện đại cho lực lượng chống ma túy cả nước. Bởi mặt trận này cực kỳ nóng bỏng, các đối tượng hung hãn, manh động, tinh vi và được trang bị tối tân. Anh ước ao về cái áo chống đạn hạng nhẹ có thể giảm thiểu đau thương cho đồng đội. Anh băn khoăn về đời sống còn nhiều thiếu thốn khó khăn của những người đồng đội chống ma túy của mình trên cả nước. Và “tôi vẫn thường bảo, có nhiều người còn xứng đáng được tôn vinh trong “Vinh quang Việt Nam” hơn mình, bản thân mình phải cố gắng phấn đấu hơn nữa”. Thiếu tá Cường xúc động nói. Nhiều người trầm lòng im lặng, rồi tiếng vỗ tay ào lên. Vẻ đẹp của người chiến sỹ xông pha tuyến đầu, bao giờ cũng là nghĩ thật, làm thật, không “màu mè”, cao giọng. Đó là vẻ đẹp của sự giản dị.
GS Bùi Đức Phú, Phó Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Bệnh viện Trung ương Huế cũng xuất hiện rất giản dị, với tư cách là một trong 21 tập thể cá nhân được tôn vinh trong “Vinh quang Việt Nam lần thứ 9”. “Ba mươi năm làm việc của tôi, là ba mươi năm kết nối và thực hiện những ước mơ, biến các giấc mơ thành hiện thực”. Ông trở thành một trong những biểu tượng của ngành ghép tạng Việt Nam, với sự kiện lần đầu tiên ông và cộng sự thực hiện thành công ca ghép tim ở Việt Nam mà hoàn toàn không dựa vào “nhân sự” của nước ngoài. Sự kiện diễn ra vào ngày 1/3/2011. Từ chỗ không có máy thở, không có thuốc thang, phải đi xin máy móc cũ về sửa sang dùng tạm, sau bao ngày “ăn cũng nghĩ đến ghép tim, ngủ cũng nghĩ đến ghép tim”, ông Phú và hơn 60 cộng sự đã xuất sắc thực hiện được ước mơ nhân ái của mình và của cả cộng đồng. “Tôi đau lắm, trong khi nhiều bệnh nhân phải mang đi xa để điều trị, phải chờ đợi rất lâu để được mổ tim…thì họ đã chết. Đó là động lực để chúng tôi phấn đấu và thành công. Người đàn ông được chúng tôi “thay” cho một quả tim mới từ người chết não kia, hiện nay vẫn sống khỏe. Vừa rồi ông ấy có đến và nhờ tôi xin cho một công việc phù hợp. Thế là trọn vẹn, giúp được họ mình thấy cũng rất thanh thản”, GS Phú tâm sự.
Cuộc gặp gỡ nào rồi cũng chia tay. Hội ngộ ở “Vinh quang Việt Nam” rồi, mỗi thành viên lại sớm quay về với công việc của mình, khi trong họ vẫn vẹn nguyên niềm xúc động và những ký ức tuyệt vời về lòng nhân ái và sự thương mến. Để rồi, sự tôn vinh xứng đáng của Đảng và Nhà nước, của cả cộng đồng hôm nay sẽ là động lực để họ viết tiếp bản anh hùng ca “sang sảng những tên người”.
P.T.T.G
Làm ơn dùng chùm ảnh do Giang Huy chụp hôm đó. Em sẽ bảo Huy gửi. thanks.
http://laodong.com.vn/Tin-Tuc/Toi-yeu-ban-anh-hung-ca-khong-tat/70117
Tuesday, December 13, 2011 4:50:01 PM
Tản mạn từ những cuộc “vượt ngục” chua xót và khó tin nhất…
Bài và ảnh: Đỗ Doãn Hoàng
Suốt bao năm đeo đẳng theo sự ly kỳ và chua xót của những cuộc vượt ngục kinh hoàng bậc nhất trong lịch sử trại giam Việt Nam, tôi luôn bị ám ảnh bởi khát vọng vừa dễ hiểu lại vừa khó hiểu của những kẻ đào tẩu. Trốn khỏi nơi giam giữ, nó đã đốt cháy nhân phẩm, sức lực, trí tưởng tượng, dây thần kinh xấu hổ và cả khả năng sáng tạo đến choáng ngợp của con người ta đến vậy ư? Người tù, họ cũng là con người. Có người còn bảo, năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn, người tù như ngón tay ngắn trong xã hội nhiều ngón tay dài. Người tù, ở góc độ nào đó, họ gánh thiệt thòi thân phận và khổ đau số kiếp của tất cả chúng ta trên bờ vai họ. Họ gánh “tội” cho ta (theo quan niệm hơi dân gian, hơi mê tín một chút). Vì thế ta phải thương lấy họ, cố mà nâng họ lên khỏi vũng bùn tội lỗi. Ngẫm vậy, hiểu vậy. Nhưng…
Phá cũi xổ lồng để được…chết
Làm sao ta hiểu được cảnh người tù có thể lặn ủng oẳng dưới hố nước thải của phân trại, thậm chí ngâm cả thân mình nửa ngày dưới hố phân người nhung nhúc dòi bọ, thò mỗi cái mũi lên để thở. Mũi người ấy cũng phải dùng một tờ giấy vệ sinh đã dùng rồi đậy ngụy trang lên trên. Có người tù giấu lưỡi cưa sắt to và sắc lẻm vào trong hậu môn. Có người tù dụ bạn giang hồ đem cả ngực giả, tóc giả, quần áo cảnh sát bảo vệ vào để anh ta giả làm bà Phó Giám thị đang quản lý 1000 phạm nhân nữ, rồi ung dung đi ra khỏi trại. Khi bị phát hiện, anh ta cướp súng, cướp dao của lực lượng bảo vệ, chiếm - cố thủ trong bốt canh gác- bắt, kề dao vào cổ con tin lớn tiếng yêu cầu mang xe ô tô và vũ khí đến để tẩu thoát…
Toàn những chuyện khó tin nhưng có thật. Càng ngẫm mới thấy câu này là đúng: Hầu hết tất cả những gì ngoài đời có thì trong tù cũng có, nhưng có rất nhiều thứ chỉ có thể gặp được ở trong nhà tù. Ví dụ chuyện kinh dị trốn tù.
Vừa rồi tôi có viết một thứ gọi là “Thư gửi một người nghiện đã chết”. Dĩ nhiên là viết để nhằm gửi những người đang sống thôi. Anh chàng Đỗ Lê Chiến người ở phường Đồng Tâm, Thành phố Yên Bái chết vào tuổi 40, sau nhiều lần bị bố đẻ nhốt trong cũi sắt, nhiều lần bị cưỡng chế vào Trung tâm cai nghiện Hồ Thác Bà để cai ma túy. Có lần, Đỗ Lê Chiến bảo tôi: “Anh thử nghĩ xem, 3 năm trời nằm trong cũi sắt, ăn, ngủ, rồi phóng uế tại đó. Trong khi vợ đi với thằng khác, con gái về ở với ông bà nội. Tôi từng điên cuồng đánh mẹ, chửi bố, chém em trai, do ma túy nói xui thôi. Tôi nằm trong cũi, thỉnh thoảng chửi những người đi đường cho đỡ buồn. Rồi họ bảo tôi phát rồ họ cũng chẳng thèm chửi lại. Thế là càng buồn. Có đứa nghiện ngứa tay ném hòn sỏi vào cũi, thế là tôi dùng sỏi đó, lại ăn cắp của con gái cái thìa ăn cơm khi nó lê la lại gần cũi chơi với bố. Tôi dùng sỏi đập vỡ bồn cầu, dùng cái thìa nhỏ đào đất từ toa-lét, đào mãi xuống âm ty, đào địa đạo suốt 6 tháng ròng, rồi tôi chui sang nhà nghỉ Hoa Lâm cách nhà tôi 7m”. Chiến độn thổ thoát khỏi gông cùm của gia đình bằng một công trình “khoét núi ngủ hầm” kỳ vĩ khiến không ít người ở cả tỉnh Yên Bái phải choáng váng.
Anh ta bươn ra với ma túy. Và ngày đầu tiên tự do, trong cơn no nê thỏa mãn tột cùng, Chiến đã chết vì sốc heroin. Chiến nói với tôi rất nhiều về tự do, và anh ta khóc. Dẫu người ta bảo, đừng nghe ca ve kể chuyện, chớ tin con nghiện trình bày. Nhưng lần này thì tôi tin người nghiện Đỗ Lê Chiến. Tôi càng tin hơn, khi tôi ứa nước mắt nghe tin anh ta đã chết. Rằng chỉ có cái chết mới giúp anh chia tay được với ma túy, phải không Đỗ Lê Chiến?
Những kẻ đào tẩu ngâm mình dưới hố xí
Còn nhớ 14 năm trước, khi tôi có mặt ở trại giam Tân Lập của Bộ Công an, chứng kiến sự ngơ ngác của cán bộ quản giáo sau khi 11 phạm nhân đồng loạt bỏ trốn bằng thủ đoạn cực kỳ tinh vi. Hình như đến tận bây giờ, người ta vẫn xếp vụ 11 gã “Giăng Văn Giăng thời hiện đại” đào thoát ngoạn mục kia là một “kỷ lục” của toàn bộ lịch sử ngành trại giam Việt Nam. Nhớ mãi những gã thụ án chung thân cầm đầu vụ ấy, gồm Long “con”, Tuấn “lỳ”, Tiến “phổ”, Châu Hùng Thắng, Đặng Quang Hoay… Bọn chúng đã trốn trại thành công nhờ những sợi dây chăn chiên tưởng như không trói nổi một con ruồi mà trại giam phát cho để đắp khi sương giá phủ trắng chín suối mười đèo vùng thượng du Phú Thọ. Sợi vải nhỏ ấy được thấm nước bọt, lăn xuống sàn đất cát. Cát bám vào tạo ma sát. Rồi chúng ngày rộng tháng dài khọt khẹt mài cùm sắt. Có công mài sắt có ngày nên…kim. Cưa đứt một mảy may sắt thép của mỗi cái cùm lạnh toát, bọn chúng lại dùng “ghét” (bụi bẩn và da chết) trên cơ thể mình chít (nhét) vào kẽ ấy để ngụy trang. Cứ thế mà cùm đứt. Rồi chúng đào xuyên lòng đất, khoét thủng tường trại giam chỉ bằng…một đồng xu. Chúng dùng giấy vàng dán kín các bờ tường sơn vàng vừa bị phá lại, đến cả khi 11 tên đã biến mất khỏi núi đồi trung du đất Tổ rồi, tường trại vẫn như y nguyên. Cán bộ tuần tra ban đêm vẫn cảm giác như các bức tường vàng chưa bao giờ suy chuyển. Sau hơn chục năm, nhiều đối tượng vẫn bặt tăm. Nhưng cũng có kẻ bị bắt sau cả chục năm thay tên đổi họ, lấy cả tên của anh trai, em trai mình, lấy cả tên của người đã chết để ngụy trang, cưới được cả vợ trẻ, xây cả nhà lầu, rồi anh ta vẫn bị tóm. Có người trốn ra biển Đông Bắc làm người đánh cá không một dòng lý lịch giữa khơi xa, rồi cũng…sa lưới pháp luật.
Nhưng đáng sợ và ám ảnh nhất, có lẽ vẫn là những vụ “khổ nhục kế” không tưởng tượng được của một số người tù. Tôi nhớ mãi câu chuyện của Nguyễn Văn H. (còn gọi là H “bưởi”, bởi anh ta sinh ra lớn lên tại vùng Bưởi, Hà Nội) ở trại giam Tân Lập. Vào tù đến 18 lần, lần nào H “bưởi” cũng ngạc nhiên, “ơ, cán bộ vẫn ở đây à, em đi tù đã khổ, nhưng em thì có án, tù mãi cũng ra, cán bộ thì đúng là…chung thân. Lần nào em “nhập khám” cũng gặp cán bộ, rõ khổ!”. Rồi anh ta xanh rờn tuyên bố: “Giam giữ, rồi đi bắt em trốn chạy. Đó là việc của các thầy (quản giáo). Còn trốn tù là việc của em”. H “bưởi” trốn đến mức, khi anh ta bị liệt một bên chân, có lệnh chuyển trại, nghe tên anh ta trại nào cũng ngán. Lúc Đội trưởng Trinh sát trại Tân Lập bấy giờ là anh Cao Mạnh Cảnh di lý H “bưởi” về trại nọ, anh Cảnh đã dặn kỹ, đây là “vua” trốn trại, chân anh ta đau thì anh ta lành hiền, lúc chân chớm khỏi thì anh ta vẫn lành hiền thôi nhưng chắc chắn sẽ trốn. Cán bộ tiếp nhận dạ vâng rồi hai bên vui vẻ chia tay. Chỉ vài ngày sau, tin dữ báo về, H. “bưởi” đúng là đã lại trốn.
Ở Tân Lập, vụ trốn khủng khiếp nhất, ám ảnh nhất là của N.X. Hôm ấy, anh ta đang lao động sản xuất, bỗng dưng như có phép thần thông, X. vù biến khỏi mặt đất. Hàng trăm người đi tìm, vòng vây khép chặt. Anh ta không thể mọc cánh bay lên trời được. Chắc chắn vẫn ở đâu đây. Người ta đào cả đất lên xem hắn có dùng kế “độn thổ chôn sống” không. Khoắng cả hố rác, hố phân, hố xí. Vẫn không thấy. Hố xí được đào dưới lòng đất, khá rộng, có cầu gỗ bắc qua. Người ta dùng cây sào nứa dài chọc, chọc mãi không thấy gì. Chợt có người hay đọc tiểu thuyết bảo: Người đi săn cá sấu, họ phải bơi đứng dưới sông, để khỏi bị cá sấu đớp. Bởi hàm cá sấu chỉ có thể nghiến vào nhau kiểu “hàm dưới tớp lên, hàm trên bổ xuống” theo chiều rơi của trọng lực. Nó không thể đớp ngang, nên nhìn thấy người bơi đứng “khó nhằn” là chúng bỏ qua. Thế là người ta tiến hành chọc xiên, chọc chéo vào hố phân lớn. Nghe tiếng kêu oai oái, rồi có người đội đám giấy bẩn thỉu nhô lên. X. “bơi đứng” trong hố xí suốt cả một ngày. Toàn thân anh ta đen kịt, thối inh, mỗi bước đi dòi bọ rơi ra nhung nhúc. Đến nỗi những người đi bắt tù trốn trại phải đứng như trời trồng, không ai bắt, không ai trách. Có người khóc. “Về đi, về tắm đi, sao mà phải khổ sở hết cỡ thế. Ở tù thì đã làm sao mà phải trốn kiểu giời đánh này!”.
Tương tự, vừa rồi vào trại giam Thanh Lâm của Bộ Công an đóng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, tôi đã gặp Nguyễn Văn Th., phạm nhân sinh năm 1982, người Yên Mật, Kim Sơn, tỉnh Ninh Bình, đang thụ án vì các tội cố ý gây thương tích và giao cấu với trẻ em. Thanh bỏ trốn nhiều ngày, cuối cùng người ta chọc hố phân kinh tởm ở vườn mía của nhà dân ở Thanh Hóa, phát hiện Thanh kêu ú ớ trong xú uế. Gặp tôi, Thanh gãi đầu gãi tai: em nằm dưới hố phân người, rồi bị bắt. Chỉ nói có vậy, Thanh im bặt cho đến cuối buổi gặp. Ngẫm lại mới thấy chua xót, rằng: lý do để Thanh trốn trại có vẻ nó rất tiểu thuyết, có cái gì đó ít nhiều lãng mạn. Thanh đi tù vì sớm “dê” với người yêu, trong khi cô này vẫn còn ở tuổi vị thành niên, lại mâu thuẫn với bố người yêu nên bị tố ra tòa. Thanh ở tù vì “quan hệ” với bạn gái rồi, nhưng Thanh và cô bé vẫn yêu nhau như ngày nào. Hôm đó, đang lao động cải tạo thì hay tin nàng trong mộng của mình đột ngột lên xe hoa, thế là Thanh nghĩ đời chẳng còn gì để mất. Anh ta lú lẫn bỏ trốn quyết liệt…lút mình dưới uế tạp trong hố xí.
Thịt da ai chả là người
Chuyện Nguyễn Văn Duệ (trại số 5 của Bộ Công an, đóng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa) kiếm được ngực giả, tóc giả, quần áo cảnh sát để đóng giả bà Nguyễn Thị Can, Phó Giám thị đang quản lý 1.000 phạm nhân nữ để trốn đã là sửng sốt. Chuyện hai tên Trung và Thành ở trại Tân Lập (Phú Thọ) bị bắt với sơ đồ chi tiết, kế hoạch công phu (bắt cóc, cắt cổ, cướp xe của nhân viên y tế trại giam Lê Thị Minh Phượng; giả vờ xin lửa, ném cát vào mặt cảnh sát bảo vệ, cướp súng, bắn chết anh này; rồi trốn lên rừng để tránh công an Yên Bái đón lõng, đâm chết con tin bằng một nhát dao để diệt khẩu…) càng là chuyện khó tin nhưng có thật. Lại nữa, thật khó quên cái khát vọng đào tẩu hãi hùng của tên Nguyễn Công Hùng ở Trại giam Gia Trung (tỉnh Gia Lai), hắn đã 7 lần trốn trại, lần này Hùng bọc lưỡi cưa trong găng tay cao su, nhét vào hậu môn mình. Khi vào xà lim biệt giam, Hùng vận công lực, “đùn” lưỡi cưa ra và cưa đứt cùm. Bị thu mất cưa sắt, Hùng tiếp tục đái ra sàn nhà, dùng gót chân mình dậm vỡ nền xi măng, lấy vải vụn lăn cát cưa đứt cùm sắt phi 16.
Chưa hết, ở Khám Chí Hòa, vào ngày 26/3/1995, tên Phước Tám Ngón còn cưa đứt cùm, công phu dựng đống gạch, trùm áo lên làm hình nộm lừa lực lượng công an rồi tẩu thoát qua thiên la địa võng chấn song sắt, tường rào dây thép gai. Phước ra khu cán bộ trại giam, ăn trộm bộ quần áo, đạp xe thong rong trốn khỏi mọi trạm gác. Năm 2001, chấn động cả nước với việc hai tử tù Nguyễn Văn Thân và Nguyễn Hải Nam trốn khỏi khu biệt giam Hỏa Lò, Hà Nội, với dụng cụ cưa cùm, cưa song sắt là 10 cái bánh xe bật lửa. Nam và Thân đã làm được cái việc mà ngay cả khi 500 cán bộ chiến sỹ kiệt sức đi lùng mấy chục ngày bắt được chúng về rồi, lúc thực nghiệm điều tra, nhiều người vẫn không tin là làm sao chúng nó “tài” thế. Còn nhớ, bấy giờ, Giám đốc Công an Hà Nội, ông Phạm Chuyên phải thốt lên: việc truy bắt Thân và Nam là việc phải làm vì danh dự của Công an Hà Nội. Đó là cuộc truy lùng với quy mô chưa từng có. Nhưng cái chưa từng có nữa cũng đáng nhớ không kém, đó là “biệt tài” đào tẩu của những tử tù khét tiếng với bao nhiêu tội ác man rợ kia (mà Thân và Nam chỉ là những ví dụ).
Càng ngẫm, càng thấy cái câu mà ông Vực, Giám thị trại giam Phú Sơn 4 nói với tôi hồi nọ nó thật chí tình. Năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn. Tội ác nào cũng đáng lên án. Nhưng, nghĩ cho cùng thì số phận người tù bỏ trốn thường là ít khi thoát được lưới trời lồng lộng. Cái lưới đó giăng một lần chưa bắt được chim cá, thì giăng một nghìn lần sẽ có ngày tóm được (trăm bó đuốc cũng bắt được con ếch). Ngẫm nữa, cuộc đời họ, kiếp phận họ cũng quá khổ sở, khổ như những người đồng bào của chúng ta phải nằm dưới hố phân người thò cái mũi phủ miếng giấy bẩn thỉu lên trên. Dù lên án, cũng có lúc ta thấy chua cay, thương cảm. Thịt da ai chẳng là người, lòng nào lòng chẳng xót xa. Đúng là người ta đã kiệt sức truy lùng, đã nghiến răng muốn tống kẻ cứng đầu cả gan trốn trại vào 9 lần xà lim ngục tối. Bởi một hoặc một nhóm người tù trốn, là cả trăm, cả nghìn người phải khổ sở lùng bắt suốt ngày đêm, trên một vùng rộng lớn thường là hiểm trở khắc nghiệt, không ít người vì thế mà “rơi sao rụng chức”. Nhưng, cũng đúng là người ta đã phải bật khóc khi thấy những con người trai tráng thế kia mà rũ mình đứng dậy từ hố phân phủ kín toàn thân, uốn mình bước đi loạng choạng khi trong hậu môn có cái cưa sắt bọc trong găng tay cao su. Trăm cái lý, phải có tý cái tình là như thế.
Đ.D.H
Kèm chùm ảnh:
- Nguyễn Văn Duệ, người đã đeo ngực giả, tóc giả, quần áo cảnh sát giả, “diễn” làm nữ Phó Giám thị trại giam Số 5 hòng tẩu thoát.
- Nguyễn Văn Th., người rúc dưới hố xí ngập toàn cơ thể hòng thoát khỏi trại Thanh Lâm.
- Một số đối tượng trùm sò trong trốn trại ở Tân Lập.
Tuesday, December 13, 2011 2:41:43 PM
Giật mình với những hình xăm cổ xưa còn sót lại trên cơ thể người các dân tộc Mảng, Brâu…
Ghi chép của Lãng Quân
Bây giờ, dịch vụ xăm trên cơ thể người nở rộ khắp nơi, họ thỏa sức vẽ trăm thứ bà rằn Tây Tàu lẫn lộn trên xác thân mình và đồng loại. Thậm chí người ta còn xăm những hình thù quái dị và hư đốn nhất ở những nơi tưởng như tuyệt mật của da thịt người. Còn những hình xăm đến từ cổ xưa, đầy bí ẩn, với ý nghĩa nguyên thủy nhất của nó thì ít lắm. Chỉ vài người, hoặc già cả ở biên thùy xa ngái, hoặc các nhóm người ở nơi thượng nguồn heo hút, chưa có điều kiện “bắt nhịp” với áo phông quần bò, xe máy điện thoại…là còn sót lại mấy hình xăm lạ lùng.
Trong các chuyến khám phá Việt Nam mê mải và kỳ khu của mình, thảng hoặc, chúng tôi gặp những gương mặt chi chít vẽ đủ thứ hoa văn, khi hình quả trám, lúc hình chim chóc, lúc lại là cả các vòng tròn bí ẩn kéo ngang trán, trườn dọc xuống hai má, bao quanh cằm…khiến cho gương mặt như chít khăn, như bó buộc bằng dây vải đen tuyền! Nhiều khoang miệng còn đen sậm với những ô vuông ô chéo kỳ dị đến mức ai đó đã gọi nôm na đây là thủ tục “xăm cằm”, “rọ mồm” người phụ nữ. Thời mới, dù xăm trổ xanh lè như rắn, như gấu mèo gấu biển, như trai chơi gái đú, thì cũng chẳng ai xăm mặt mình như những người tôi đã gặp, đó là một số phụ nữ dân tộc Mảng ở Lai Châu, là đàn bà con gái dân tộc Brâu ở ngã ba Đông Dương.
Cà răng, căng tai, “vẽ nhọ bôi hề”
Một điều bất ngờ là: ở bản Đắc Mế, xã Bờ Y, huyện Ngọc Hồi, tỉnh Kon Tum - nơi tôi đã sửng sốt gặp những người đàn bà Brâu xăm mặt chi chít chằng chịt nhom nhem đen nhoáy đó - bà con rất tự hào vì những hình xăm như “vẽ nhọ bôi hề” đó. Các hình họa ngộ nghĩnh kia mãi mãi còn là dấu hỏi thách thức sự khám phá của giới khoa học. Với người Brâu, đó là biểu hiện của sự quý tộc, quyến rũ, quyền lực và giàu có.
Dân tộc Brâu còn nặng chế độ mẫu hệ, thì người nào có đủ năng lực ưu việt đến mức lấy được…nhiều chồng, thì người đó sẽ có nhiều hình xăm hơn. Cái tục lệ từ nghìn đời kia đã mở ra một trường liên tưởng và hiểu biết mênh mông cho những khát vọng kiếm tìm: tại sao người ta lại xăm vẽ lên mặt mình như vậy? Thứ thuốc lá lẩu cùng rất nhiều bí kíp chế tạo “mực” xăm vĩnh cửu và kim châm “nghệ thuật trên da thịt” kia nó là gai nhọn hay đá và sắt thép? Làm sao để không bị nhiễm trùng khi mà mỗi lần xăm là gương mặt đẹp như trăng rằm của cô gái bị chọc đến tận xương, loang đỏ toàn máu? Bà Nang Grâu - một người Brâu ở Đắc Mế đã rất già, hiện còn lưu giữ hình xăm viền quanh gương mặt - tự hào khoe: “Phụ nữ người Brâu ai cũng họ Nang, và đàn ông thì ai cũng họ Thao. Xưa kia, đàn bà Đắc Mế, cũng như đàn bà Brâu ở cả bên Lào, bên Campuchia láng giềng, ai cũng xăm mặt. Cái mặt đẹp thì phải có hình xăm chứ. Bà Grâu lấy hai chồng mà!”. Nghe đến cái giọng kiêu hãnh này, ông chồng hiền lành cam phận sống trong “mẫu hệ” của bà Nang Grâu không nói gì. Ông lặng lẽ cúi đầu gạt bụi tro trong bếp, rồi âm thầm đi ra chuồng cho lợn ăn. Dường như ông hơi mặc cảm?
Trong bảng “tổng sắp” các dân tộc Việt Nam, tính từ dân tộc có đông người nhất trở xuống, thì người Brâu “đội sổ” với chỉ hơn 300 người trên toàn lãnh thổ của chúng ta. Ở Việt Nam, người Brâu sinh sống duy nhất ở bản Đắc Mế, tỉnh Kon Tum, thuộc vào vùng ngã ba Đông Dương.. Vì thế, anh cán bộ xã hồn nhiên bảo: cả dân tộc có hơn 300 người, mà riêng bà cụ Grâu lấy đến hai ông chồng một lúc, so về tỷ lệ, thế là “tốn kém” quá đấy. Bà cụ cười hiền khô, cái tai bà bị căng suốt từ lúc mới 5 tuổi đầu (lễ xâu tai) rồi đeo đủ thứ vòng vèo trang sức nặng trĩu, đến nay đã ngoại tám chục tuổi giời, căng mãi đôi vành tai thõng chảy đó đã rộng đến mức đút cả cái cốc uống bia hơi cũng lọt thỏm rồi. Theo thói quen, vành tai người phụ nữ giàu thì được nong vào đó một miếng ngà voi tròn, to làm vật trang trí. Bà Grâu cũng từng đeo miếng ngà voi, nhưng vì nghèo, bà đã bán nốt cả cái miếng ngà từng gắn bó với mình hơn 70 năm ròng để lấy tiền đong gạo. Giờ bà nhét một ống nứa thật to vào đó. Bà cài cả nắm thuốc lào vào lỗ ống nứa trên tai, để thi thoảng vón một cục nhồi vào điếu ụp rít mịt mù cho nó…tiện.
Trong làng Đắc Mế, nhiều người lỗ căng tai bé hơn bà Grâu cũng bán mất miếng ngà voi đã gắn bó như da thịt mình bao năm kia, họ nhét cái nút chai Lavie trăng trắng vào cho đỡ trống trải. Căng tai, căng đến độ vành tai chảy thõng thượt xuống tận bả vai, vắt chéo thì có thể chạm vào… hàm răng mình, như thế người đàn bà Brâu mới coi là đẹp đẽ, quyền quý, giàu sang. Như thế là ai trông cũng ngầm hiểu nhà người đàn bà “chịu chơi” kia có nhiều chiêng tha (chiêng quý của người Brâu), nhiều chum chóe, trâu bò, ruộng rẫy; có khi người ấy lại lấy được nhiều ông chồng cùng lúc. Sách cũ mô tả rất rõ, khi các nhà nghiên cứu có mặt, thậm chí vài người phụ nữ Brâu còn bộc tuệch khoe mình tài giỏi: cùng lúc lấy được cả hai cậu cháu nhà người ta về làm chồng. Lại nói cái răng vừa chạm vào vòng tròn căng tai rộng lớn.
“Cà răng căng tai” là tục lệ mà người Brâu và không ít dân tộc khác ở Tây Nguyên luôn tự hào. Họ tuân thủ một cách đắm đuối. Họ lấy đá mài răng mình, mài mòn vẹt đi, có người răng chỉ cao hơn chân lợi một tí thôi, rồi phải liên tục lấy nhựa “cây nhuộm răng vẽ mặt” ngậm suốt mấy tháng ròng, ngậm bao giờ răng đen bóng “vĩnh cửu” thì thôi. Như thế được coi là đẹp, là đáng để lúc làm duyên thì phô đôi hàm ngọc đen nhoáy. Có nhà khoa học giải thích: bà con theo nghi lễ nông nghiệp, thờ thần lúa và con trâu cày ruộng gọi mùa màng về, nên họ phải cà răng để cho răng mình giống răng con trâu mòn và bằng phẳng. Họ làm lễ đâm trâu cũng trong suy nghĩ ấy.
Niềm tin tâm linh hay là sự hành hạ thân xác?
Nhìn hàm răng mòn sát chân lợi, lại nhìn vòng lỗ tai bị dùi thủng và nong rộng khiến đứa cháu tinh nghịch có thể đút cả bàn tay vào trêu ghẹo của họ, tôi luôn có cảm giác xót xa. Nó giống như một điều gì hơi phản nhân văn, hơi nhẫn tâm với tấm thân ngà ngọc của người đàn bà Brâu côi cút trong rừng già Ngã ba Đông Dương chăng? Tôi và nhiều người nghĩ vậy, nhưng người phụ nữ Brâu thì không. Họ luôn có cảm hứng khoe các “thành quả” tín ngưỡng, các quan niệm rất hồn nhiên và nguyên thủy ấy.
Trước khi có lễ xăm mặt diễn ra, người phụ nữ của buôn làng phải vào rừng sâu lấy gai to và nhọn, họ chọn những loại lá bí hiểm về ngâm tẩm. Họ bóc vỏ, giã nhỏ, ngâm lá và vỏ cây với nước, gạn chắt chưng cất để thành mực xăm. Họ . Sau nghi thức cúng thần linh cẩn trọng và rườm rà, người ta trói cô gái bị “hành lễ” vào một sàn mới dựng gồm nhiều cây gỗ tươi buộc lại, bên trên trải đệm bông lau hoặc chăn chiên truyền thống. Giàn gỗ dựng cao ngang ngực người lớn, thường là ở đầu bản làng. Bốn người lực lưỡng đứng dưới đất, thò tay giữ đủ hai tay hai chân cô gái lại (dù lúc đó tứ chi của nàng đã bị trói) để đề phòng khi đau đớn quá thiếu nữ có thể vùng vẫy ra được. Lúc đó các nhát đâm gai chệch sẽ cực kỳ nguy hiểm. Có thể nàng bị chọc mù mắt. Chắc chắn sẽ bị chư thần quở trách. Và, người đàn bà “phù thủy” có tài xăm trổ được bản làng bầu chọn ra bắt đầu tự tin quỳ trên giàn gỗ, ngay kề hai đầu gối bà là gương mặt non tơ của cô gái mới lớn. Bà đâm và chọc rất rất bạo tay. Máu chảy đầm đìa, tiếng gào thét rợn óc. Nỗi đau nó làm người ta thấm thía và lớn dậy vì nhiều lẽ? Hay là những hình xăm từ hôm nay bắt đầu theo cô gái cả cuộc đời kia là một tiếng răn dạy đeo đẳng và quyết liệt nhất?
Xăm xong, suốt thời gian dài, ngồi bên bếp lửa, người phụ nữ lại kỳ công chọn cây gỗ nào đó mà khi đốt bọt và nước chảy xèo xèo, sùi ra đen nhánh, rồi quệt lấy nước ấy bôi lên hình xăm trên mặt mình, quệt vào các chân răng đã bị đá suối mài cho mòn vẹt. Cả răng và hình xăm đều cần phải đen hơn nữa thì mới đẹp. Suốt mấy tháng không được rửa mặt! Làm như vậy thì màu đen như vành khăn, như diềm đăng ten giăng mắc bí ẩn trên mặt cô gái ấy nó mới bền màu. Nhiều người không biết ý nghĩa của các hình xăm, chỉ biết rằng, phụ nữ quyền quý và ngoan đạo thì phải xăm như thế. Thậm chí họ hồn nhiên chịu cảm giác “giời đày” khi bị ông bà, cha mẹ, xóm giềng trói lại và máu chảy lêu lao, chảy ướt cả tấm chăn, cả thảm lá rừng mà không cần suy tính hay hoài nghi gì cả.
Khác với xăm thẩm mỹ chỉ khơi khơi bới bới trên biểu bì da mà vẫn phải gây mê cục bộ bây giờ, người vùng sâu vùng xa, họ xăm mặt theo phong tục cổ xưa. Họ xăm thật, chọc thật, chà xát lá rừng vào cơ thể mình thật sự. Không có thuốc gây mê, không có hóa chất hay công nghệ hiện đại nào hỗ trợ. Nó là một sự hành xác, bên cạnh các ý nghĩa tâm linh khác. Gương mặt người đàn bà như hoa như phấn trở nên sưng tấy, có khi hai ba tuần vẫn còn đau đớn, có khi mưng mủ tưởng như chết đi sống lại. Họ thực hiện lời truyền dạy của hóa công, của tiên tổ, phải như thế thì mới thành người trưởng thành của bản làng, của dòng tộc, lúc chết, hồn mới được về nơi mát mẻ vui vầy. Và, người ta tin rằng, phải như thế thì mới được là gái ngoan gái đảm, đắt chồng và quyền quý. Nó cũng như người đàn bà Trung Hoa xưa phải bó chân cho thật nhỏ thon, như một cực hình, một hành xác. Nhiều người muốn cà răng căng tai, muốn xăm mặt đen nhẻm chằng chịt cũng không được phép. Bởi xăm là một đẳng cấp của buôn làng, ai muốn xăm phải được hội đồng già làng đồng ý.
Khoác chiếc cối giã ngô đi qua cầu mà dây đeo làm bằng con rắn hổ mang
Một dân tộc khác cũng có tục xăm mặt là dân tộc Mảng. Nhận thấy “nét văn hóa” xăm cằm (xăm mặt) của người dân tộc Mảng có nguy cơ thất truyền, vừa qua, Sở Văn hóa Thể thao và du lịch tỉnh Lai Châu đã tổ chức phục dựng lễ xăm mặt độc đáo theo nghi thức truyền thống tại xã Bum Nưa, huyện Mường Tè. Buổi lễ trang nghiêm, với quan niệm vạn vật hữu linh, bà con thành kính xin phép trời đất, thần linh, tổ tiên để được…dựng sàn gỗ, trói một cô gái lại, bốn người giữ hai tay và hai chân, rồi người đàn bà có kinh nghiệm xăm mặt nhất bản tiến hành công việc khá rùng rợn. Cô gái trẻ trung, hiền thục nhất cứ run lên vì đau đớn…
Câu chuyện về xăm mặt cổ xưa được người già dân tộc Mảng kể lại: họ phải lấy lá cây la hủy trong rừng sâu, bóc vỏ ngâm vào nước để lấy thứ mực xăm đen kịt. Họ dùng 8 cái gai rừng to lớn, chọc vào tận…xương cằm, xương má, chọc qua má chạm vào tận…răng của cô gái. Lỗ chọc càng to, càng sâu, thì khi phết nước cây la hủy vào, hình càng rõ, màu càng bền chặt. Các hình vẽ sẽ theo cô gái đi hết cuộc đời. Chị Sọn, dân tộc Mảng mơ màng nhớ lại: “Bấy giờ tôi còn thiếu nữ, xăm mặt xong tôi đã ngất xỉu. Mặt sưng vù và sốt li bì hai tuần liền ”.
Cả Việt Nam chỉ có 3.700 người dân tộc Mảng (còn gọi là Xá lá vàng) sinh sống. Bà con vốn biệt lập trong rừng già, chỉ duy nhất phân bố trên địa bàn tỉnh Lai Châu. Người Mảng tin rằng, với hình xăm trên mặt, họ sẽ không bị thú dữ ăn thịt. Theo truyện cổ dân tộc Mảng, có người vợ hư hỏng, Đấng thần linh bày kế cho chồng phải khâu mồm vợ lại thì sẽ thuận hòa, anh chồng nghĩ đi nghĩ lại vừa trách lại vừa thương vợ lắm. Anh chỉ còn cách dùng gai chấm những nốt giống như kim châm, vạch những đường như chỉ nối màu đen quanh miệng, quanh mặt vợ thì Thần linh sẽ nghĩ rằng người vợ đã được khâu mồm. Mà bùa phép ấy làm cho thêm vợ ngoan vẫn ứng nghiệm. Từ đó họ tin, khi người vợ có hình xăm, vợ chồng họ sẽ thương yêu nhau hơn (cũng từ tích đó, có thể hiểu hình xăm vốn là sự trừng phạt, sự hành xác!). Họ sẽ được trời đất chở che.
Họ lại sợ rằng, nếu phụ nữ không xăm mặt sẽ không được về với tổ tiên khi hết tuổi trần. Họ sẽ bị trừng trị đeo một chiếc cối đá dùng để giã ngô, mà quai đeo cối là con rắn hổ mang khổng lồ cuồn cuộn, họ phải đi qua cây cầu lắt lẻo làm bằng một cây luồng mà không hề có tay vịn. Dường như, với bà con, xăm là một tục lệ nguyên thủy, là một tín ngưỡngcủa người Mảng. Chị Chơn ở bản Pá On là người cuối cùng đánh dấu sự cáo chung của tục xăm mặt nguyên bản từ ngàn năm truyền lại. Năm 1990, người ta trói chị lại khi chị vừa về nhà chồng được vài ngày, những chiếc gai rừng sắc nhọn và to lớn được từ từ găm khắp khoang miệng và gò má chị, máu chảy lêu lao. Chị vùng vẫy đến kiệt sức, cho dù trước đó vài phút, chị tự nguyện vẽ mặt để giống tổ tiên mình, để khẳng định đẳng cấp của mình.
Trên thế giới, hầu hết mọi châu lục đều có tục lệ xăm mình. Nhiều xác ướp cổ nổi tiếng toàn thế giới được tìm thấy từ thế kỷ thứ 2 Trước Công nguyên ở Ai Cập và Siberia cũng đã có hình xăm. Các bức tượng đất nung có niên đại từ 5.000 năm trước ở Nhật Bản, cũng đã thấy xuất hiện các hình xăm. Lịch sử nhân loại ghi rõ: vào năm 1769 các thủy thủ lừng danh của Pháp đã bị mê hoặc bởi nghệ thuật Tatau vẽ trên cơ thể người của các thổ dân quần đảo xa xôi ở phía nam Thái Bình Dương. Và, vì sự ngỡ ngàng này mà sau đó, từ xăm nghệ thuật (trên cơ thể người) của tiếng Anh đã được viết tương tự cái từ mà các thủy thủ thế kỷ 18 đã trông thấy (tatau): tattoo. Tiếng Pháp cũng na ná: tattouage.
Với người Việt cổ, trong cuốn sách nổi tiếng “Lĩnh Nam Chích Quái”, ở phần “Hồng Bàng thị truyện” cũng nói rõ lý do vì sao người Việt xưa kia đã xăm mình. Rằng bấy giờ người dân Bách Việt từ trên núi xuống sông đánh bắt cá, thường bị giao long thuồng luồng gây hại tang thương. Họ tâu lên Vua, Vua bảo: bọn thuồng luồng thường gét những gì khác mình, yêu chiều những gì giống mình. Các người hãy về xăm hình thuồng luồng vào cơ thể, thì nó sẽ không tấn công nữa. Và, hình xăm có từ đó. Đến triều Trần, chính sử vẫn ghi rõ: người đi bảo vệ xa giá của vua được xăm ba chữ “Thiên Thử Quân” (quân đội của Thiên tử); thời đánh Nguyên Mông, người ta xăm chữ “Sát Thát” (giết giặc Tarta) lên cơ thể để thể hiện quyết tâm dẹp giặc bảo vệ non sông gấm vóc. Bấy giờ, không chỉ các nghĩa binh can trường diệt giặc xăm chữ “Sát Thát” lên tay, mà người dân thường cũng xăm trồ lời nguyện thề “Nghĩa dĩ quyên khu, hình vu báo quốc” để thể hiện tinh thần thượng võ xả thân của mình vì đất nước ông bà!
Vượt lên trên cái bát nháo loạn xị ngậu của những hình xăm phố thị thời mới, các vết mực gai rừng, lá núi ỏn sót, mờ mịt và chứa nhiều bí ẩn trên gương mặt người đàn bà các dân tộc Mảng, Brâu ở nơi xa thăm thẳm biên thùy nước Việt kia luôn gợi cho chúng ta thật nhiều suy ngẫm và trải nghiệm thấm thía. Dường như, tục lệ nguyên thủy ấy, vẻ đẹp cổ sơ ấy vẫn còn thách thức kho tàng hiểu biết và cả những xúc cảm thương mến của mỗi chúng ta.
Lãng Quân
(Bài và chùm ảnh)
Monday, December 12, 2011 1:27:42 AM
“Nhân vật” của Chương trình Vinh quang Việt Nam:
Động lực từ những giọt nước mắt…
Ghi chép của Phạm Thị Thảo Giang
http://laodong.com.vn/Tin-tuc/Dong-luc-tu-nhung-giot-nuoc-mat/69512Là nhân vật sáng giá của Chương trình Vinh quang Việt Nam, TS Phạm Huy Hùng, Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Ngân hàng Thương mại cổ phần công thương Việt Nam (Vietinbank) - đơn vị đứng đầu hệ thống các ngân hàng thương mại ở Việt Nam, với khối tài sản khổng lồ ở mọi phương diện… dễ khiến người gặp lần đầu không khỏi bất ngờ. Vietinbank, theo báo cáo chính thức, năm 2010 có tổng tài sản lên tới 366 nghìn tỷ đồng, chi nhánh ở khắp 63 tỉnh thành và nhiều quốc gia. Nhưng khi gặp Chủ tịch Hội đồng Quản trị, tôi rất bất ngờ thấy ông nói chuyện giản dị, có cái gì còn hơi… thật thà quá. Khi nhắc đến thời cam khó và những lận đận thương trường, TS Hùng đã bật khóc, nghẹn lời. Ông bảo, trải nghiệm trường đời làm ông thấm thía, rằng cần phải trong sạch, minh bạch; làm việc, cống hiến tâm huyết để trả nợ cuộc đời. Trong rất nhiều thành tích của doanh nghiệp, tôi ấn tượng bởi con số 1.500 tỷ mà họ đóng góp cho công tác xã hội, cứu giúp đồng bào nghèo khó và gặp rủi ro, sang sửa và nâng cấp các địa chỉ đỏ Cáchmạng Việt Nam.
Dành 1.500 tỷ đồng làm việc nghĩa!
Ông Hùng bảo: Ông và nhiều cộng sự luôn thấm nhuần lợi dạy của Đức Phật, làm ơn đừng đem khoe, cũng đừng cầu vào cái việc người ta trả ơn cho mình. Doanh nghiệp khổng lồ và biết bao cương vị đáng ngưỡng mộ của TS Hùng, cán bộ nhân viên thường bảo nhau: làm công tác xã hội, từ thiện là trách nhiệm của mình, ngoài việc phát triển kinh tế, cần chung tay với Chính phủ và mỗi người dân giải quyết các vấn đề an sinh xã hội. Trong đó, đói nghèo là vấn đề rất đáng nói. Họ xây nhà cho người nghèo, xây cả những xóm làng hồi sinh từ vùng đất chết sau thảm họa thiên nhiên như siêu bão Chan Chu ở Đà Nẵng, bỏ tiền tài trợ cho các cháu bị tim bẩm sinh có một “cuộc đời mới”. Họ cũng đi vùng sâu vùng xa, đem ánh sáng và niềm vui đến cho đồng bào. Họ làm những việc đó như một phần lý tưởng sống và đức kinh doanh của mình- một ngân hàng dẫn đầu trong hệ thống ngân hàng thương mại của cả Việt Nam.
Họ làm việc đó- từ năm 2002, ngay cả khi còn chồng chất khó khăn, đang tái cơ cấu vươn lên xác lập vị thế. Phạm Huy Hùng xót xa nói: “Nhiều cháu bị bệnh tim bẩm sinh, nó cứ lắc lư lay lắt sống đến 5-7 tuổi, cứ nằm chờ chết mà không có tiền để mổ tim. Chỉ một tuần nữa là các cháu có thể chết. Trong khi bố mẹ cháu không tìm đâu ra lấy một triệu đồng ở trong ruộng vườn và căn nhà rách nát. Với trách nhiệm xã hội của mình, chúng tôi bỏ ra 50 - 70 triệu đồng để mỗi cháu được phẫu thuật tim. 50 triệu cứu được sinh mạng con người, để cho họ sống bình thường như những người khác, như thế là quá rẻ. Chúng tôi vẫn bảo nhau, phải làm sao giúp được cho nhiều người, càng nhiều càng tốt. Muốn thế thì phải cố gắng lên, kinh doanh tốt, an toàn, hiệu quả, bền vững rồi mới có điều kiện để mà đi làm từ thiện. Đó là tâm nguyện của tất cả chúng tôi. Như Phật dạy, chúng tôi làm những điều đó, không mong đợi gì cả, chỉ làm sao đem được hạnh phúc và niềm vui cho nhiều người. Con số 1.500 tỷ làm công tác xã hội của chúng tôi trong thời gian vừa qua, trước hết nó là con số của tấm lòng tử tế. Riêng năm 2011, chúng tôi dành 700 tỷ đồng để “giúp đời”.
Những chuyến đi khắp hơn 60 tỉnh, thành phố để dựng nhà cửa, sửa sang các nghĩa trang, đúc chuông nguyện hồn các liệt sỹ, thăm hỏi tặng quà giúp ổn định cuộc sống cho đồng bào vùng xa xôi, biên giới hải đảo luôn là động lực để anh chị em trong hệ thống ngân hàng Vietinbank phấn đấu. Họ cảm thấy thanh thản sau những đóng góp ấy. Đặc biệt là những chuyến về nguồn như trùng tu cột cờ Lũng Cú nơi tột Bắc tổ quốc (tỉnh Hà Giang) trị giá 15 tỷ đồng (năm 2010); xây dựng nhà văn hóa trị giá 60 tỷ đồng ở đảo Nam Yết, Quần đảo Trường Sa thiêng liêng (năm 2011); 20 tỷ tu sửa chỉnh trang nghĩa trang ở Quảng Nam; 50 tỷ đầu tư cho nghĩa trang quốc gia ở Gia Lai.
Nhiều người xem truyền hình đã rất ấn tượng với tấm bảng hiệu ghi số tiền khổng lồ mà Vietinbank giơ lên đầu tiên, xúc động ủng hộ thảm cảnh của bà con ngư dân ở Đà Nẵng sau khi bị siêu bão Chan Chu tàn phá. 96 căn nhà khang trang đã được xây dựng để tái thiết làng chài và giúp đỡ những phận người trắng tay ngẩng mặt lên sau trận bão khủng khiếp tàn phá khắp nhiều quốc gia châu Á đó. Ký ức của ông Hùng về sự kiện này vẫn sống động như mới hôm qua: “Bão Chan Chu ập vào Đà Nẵng, cả làng ven biển làm nghề cá mà tôi xuống tận nơi đó, họ quá nghèo và thiệt hại về người cùng tài sản quá lớn. Họ sống chen chúc nhau, nhà không ra nhà, không có gì gọi là tài sản trên cái trên sàn nhà cả. Phía trên là mái tôn mỏng mảnh, chỉ có 7 - 8m2… cũng gọi là nhà. Con cháu nằm la liệt dưới đất, chồng đi đánh cá vướng phải bão Chan Chu đã vĩnh viễn không trở về. Làng góa bụa là từ mà báo chí đã gọi rất đúng. Tôi bàn vơi địa phương, bố trí một khu đất và quy hoạch lại nhà cửa, cuộc sống cho bà con sau thảm họa. Chúng tôi bỏ tiền xây mới bốn dãy nhà rất khang trang cho 96 căn hộ. Tôi nhớ là tôi trực tiếp vào, trao chìa khóa cho ngư dân trước Tết Nguyên đán. Rồi mua tặng mỗi nhà 30kg gạo kèm theo chăn màn đồ dùng trong gia đình, bà con hết sức cảm động”.
Ký ức về sự nghèo khó là sức mạnh để vươn lên
Sinh năm 1954 tại Hà Nội, 26 năm tuổi Đảng, 34 năm công tác; chặng đường để có được những thành công danh tiếng ngày hôm nay của TS Phạm Huy Hùng đúng là chứa chất không ít gian lao. Sinh ra khi cuộc kháng Pháp vừa thành công, cuộc trường chinh diệt đế quốc Mỹ còn nhiều lao khổ, cũng như nhiều người khác: “nhà chỉ có 40m2, gia đình cả bố mẹ và 9 anh chị em sống chung, chật chội đến không tưởng tượng nổi. Thời kỳ bao cấp từ năm còn ăn bo bo, cầm sổ đi xếp hàng cả ngày mua được ít bột mỳ, bột khoai. Lúc nào “sang trọng” lắm thì ra chợ Cửa Nam xếp hàng mua đậu phụ theo tiêu chuẩn tem phiếu về cải thiện. Đậu phụ cứng quèo. Cá biển bé bằng ngón tay. Tiền thì chỉ đủ mua thịt mỡ về rán, lấy mỡ xào nấu, có tóp mỡ mà ăn là sướng lắm. Bột mỳ đem về, lau cái bàn qua quýt, ngả bột ra ngào rồi lấy cái chai đựng nước loại một lít cứ thế cán cho cục bột -dẹt đi. Dùng dao cắt thành sợi, đem phơi nắng ăn dần. Trước khi ăn, cứ đun nước sôi mà chần cho mềm ra, độ nào rủng rỉnh kiếm được ít cua về giã làm nước riêu để chan mỳ mậu dịch là lịch sự lắm. Cơm chia nhau từng bát”, anh Hùng kể.
“…Thiếu ăn, ăn khổ ăn sở. Ngày nào cũng cặm cụi gia công đồ hộp kiếm thêm, làm cả đêm. Cứ 6h sáng ra đường, ra chợ búa buôn bán nhì nhằng, đúng là mua đầu chợ bán cuối chợ đấy. Có khi kéo xe bò đầu phố cuối phố. Có khi mua củi trên nhà máy xay, từ xí nghiệp gỗ đầu cầu Đuống về bán. Chiều, đun bếp bằng mùn cưa, cứ gõ gõ tải trấu cho nó tuôn dần vào bếp mà nấu cơm. Đến khi làm sinh viên, nhà nước nuôi 18 đồng một tháng; chả đủ tiền ăn, lại mất hai đồng mua kem đánh răng. Thế là cứ nhảy tàu đi lậu. Nhân viên đường sắt kiểm soát cuối tàu và đầu tàu rất chặt nên có khi vọt lên ở khúc giữa tàu, nhảy từ cửa sổ mà lên. . Nhiều ngày chúng tôi nằm trên nóc tàu “thừa sống thiếu chết”, trời rét căm căm đi từ Hà Nội lên Phúc Yên. Đầu những năm 1970, Hà Nội rét lắm chứ không ấm kiểu “biến đổi khí hậu” như bây giờ. Tôi học ĐH Tài chính trên Phúc Yên, có hôm, thứ 7 về đến Hà Nội, ra xếp hàng dài thượt ngoài chỗ Rạp Tháng Tám mua được bát mỳ không người lái giá một hào rưỡi, đói quá, , húp roạt một hơi hết sạch”.
“… Năm 1982 tôi cưới vợ, vẫn mua giường phân phối đầu trên đầu dưới đan bằng nan, cứ thế dùng hàng chục năm sau, vừa chúng tôi mới thay giường khác. Khi ấy anh em ở riêng, tôi là út nên ở với các cụ. Nhưng, cưới hôm trước hôm sau các cụ cho ra ở riêng ngay, tức là ngăn riêng cho một góc nhà. Cứ ngăn cái phòng ở chung vốn bé tẹo ra, chia cho chúng tôi 10m2, giữa kê một cái tủ cũ mọt làm “bờ tường”, thế là xong. Tất nhiên, chúng tôi phải thu xếp để các cụ ở phần lớn hơn, bởi còn ban thờ ông bà tổ tiên, anh chị con cháu đi về thăm hỏi chăm sóc các cụ nữa chứ. Chúng tôi ở trên sàn xi măng tróc lở. Vợ chồng bắt đầu đi sắm từ những cái mâm nhôm cũ, cái bát sứ méo mó của Bát Tràng. Bấy giờ làm gì có bát tròn. Liễn thực phẩm dự trữ thì chỉ mua mấy lạng mỡ đổ vào -là xong. Nồi nhôm cũng méo mó”.
Dường như muốn kết thúc câu chuyện với cả núi công việc đang chờ mình, TS Hùng cố ngắt mình khỏi dòng hồi tưởng: “Vì thế, tôi quá hiểu cái đói và cái khổ. Lúc thiếu thốn, cứ ních hai ba cái quần vào cho ấm thì thôi. Tôi cao 1,75m nhưng bấy giờ thiếu ăn chỉ nặng có 50kg. Tôi biết ơn sự vất vả đó, bởi kinh qua những điều ấy, mình rèn luyện để có kinh nghiệm cuộc sống và trưởng thành. Tôi không phải “con ông cháu cha” để dựa dẫm”. Ai ngờ, nói xong, ông Hùng khóc thật sự, lúc đầu còn cố giấu diếm, sau rồi ông cứ tự nhiên lau nước mắt. Sự gian khó đó trở thành động lực để anh cán bộ ngân hàng sau này xắn quần, lội qua bì bõm nước cống bẩn thỉu ngập đến đầu gối, vượt những góc phố tối tăm của Hà Nội để đi gặp gỡ khách hàng. Thấy người ta vui sử dụng dịch vụ của ngân hàng mình, dù chi nhánh mình ở xa công ty họ hơn nhiều so với ngân hàng khác, thế là ông Hùng vui như mở cờ trong bụng. Được điều về làm giám đốc những chi nhánh “xương” nhất với nợ nần và đơn kiện chồng chất, ông vẫn vui vẻ, vẫn chỉ có một tâm tư: say mê công việc, không tư túi, nói là làm, hết lòng với nhân viên và khách hàng.
“Năm 1996, mấy nhà vệ sinh của ngân hàng chúng tôi đã được trang bị hiện đại, lắp điều hòa nhiệt độ mát rượi, 5 phút lại lau sàn sảnh tiếp khách một một lần, chúng tôi muốn phục vụ khách hàng một cách chi tiết, chân thành nhất”, ông Hùng kết thúc câu chuyện, với những chi tiết giản dị và chân thành đến sững sờ. Dường như sự chân thành ấy, luôn là bí quyết của những người chiến thắng.
TS Phạm Huy Hùng, SN 1954, Đại biểu Quốc hội khóa XIII, Ủy viên Ban chấp hành Đảng ủy khối doanh nghiệp TW; Bí thư Đảng uỷ, Chủ tịch Hội đồng quản trị Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam; Chủ tịch Hiệp hội ngân hàng Việt Nam, Chủ tịch Hiệp hội Ngân hàng Asian.
P.T.T.G
Monday, December 12, 2011 1:26:24 AM
Thảm cảnh và niềm an ủi còn sót lại ở gia đình có 9 người nhiễm HIV
Phóng sự của Trần Diệu Diệu
Chuyện xảy ra ở xã Tiên Lương, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Nhà ông Trần Văn Sâm ở xóm 3, có tới 9 người bị nhiễm HIV/AIDS, 6 người đã chết, 3 người còn lại là hai phụ nữ và một đứa trẻ tội nghiệp. Bé trai ấy vẫn hằng năm đạt học sinh giỏi cầm giấy khen về treo bên vách ngôi nhà nện đất lợp lá cọ hổng hoác rách bươm. Con gái ông Sâm, một trong hai người phụ nữ mỏi mòn tận khổ kia thì về Hà Nội nói là làm osin nhưng hầu như ai cũng biết nàng đi làm cái nghề “nhạy cảm” có đàn ông đưa đón, chu cấp tiền nong, điện thoại di động và son phấn lòe loẹt mỗi khi về thăm nhà. Chút niềm an ủi còn sót lại với ông là cô con dâu Nguyễn Thị Thành . Sau khi chồng và cậu con trai vĩnh viễn 4 tuổi của em rủ nhau về nơi chín suối vì HIV, em đã dũng cảm đứng lên, như nóivới bàn dân thiên hạ: tôi bị HIV, tôi muốn cứu tất cả những người có “H” tại làng này, trên khắp đất nước này.
Thành học truyền thông về HIV/AIDS, viết báo, thậm chí đứng ra thành lập CLB Hoa Sim Tím mà em là Chủ nhiệm. Thành trở thành nhân vật chính trong những bộ phim về “Căn bệnh thế kỷ” được trao giải quốc gia, em còn được Bộ trưởng Bộ Y tế tặng bằng khen. Đặc biệt, sau 8 năm gắn bó như anh em, lần này gặp lại cô gái 10 năm chung sống với HIV Nguyễn Thị Thành, tôi đã thấy em và gia đình cùng nói về cái gọi là tương lai của Thành. Bởi em đã táo bạo mang thai bằng phương pháp mới, bà mẹ nhiều nghìn ngày chung sống với HIV này đang chờ đợi một đứa con không bệnh tật.
Người đàn ông không thể thảm sầu và cùng quẫn hơn
Lần đầu tiên tôi nghe chuyện về Tiên Lươnglà năm 2003, khi đi công tác Yên Bái. Tôi dừng ở ven con đê đất đỏ quan sát một phiên chợ quê lành lẽ. Một bà thở dài: rau này bẩn, cá này độc hại lắm. Vì nó được “món” người xã Tiên Lương đem ra bán. Đấy là làng “ết”, toàn bọn “ếch vồ” (AIDS) thôi. Tôi buột miệng, “cái bà này chua ngoa, HIV lây qua đường truyền máu, tiêm chích và quan hệ tình dục không an toàn. Chứ con cá mớ rau có tội gì”. Bà ta nguýt dài khinh bỉ rồi bỏ đi, “già này thương thì già này bảo cho mà tránh. Muốn thì vào đó mà gặp mấy con son phấn lẫy lừng đi trả thù đời. Gớm, nó bảo nó đem… ấy của nó đi, nhây HIV cho chết hết cái món đàn ông”.
Tôi rùng mình, từ bấy, ý tưởng về một bộ phim thảm cảnh HIV và những trò kỳ thị ngớ ngẩn nhất đã ra đời. Sau này, với phim “Khát sống” đó, đạo diễn Lê Hồng Chương (Giám đốc Hãng phim Tài liệu KH Trung ương lúc đó) đã đoạt quán quân của Hội điện ảnh. Chúng tôi cũng xin được 68 triệu (thời giá năm 2003) tiền từ các nhà tài trợ để cho Nguyễn Thị Thành xây một ngôi nhà “lánh nạn” và ổn định cuộc sống, chăm sóc chuỗi ngày cuối cùng của con trai, trước sự hắt hủi kỳ thị nhẫn tâm của gia đình nhà anh chồng quá cố. Lúc làm phim, chúng tôi cũng bị nhiều người đánh đuổi, phải chạy ra UBND huyện Cẩm Khê cầu cứu.
Sau nhiều năm gắn bó với đề tài HIV/AIDS, thậm chí, nói thật là tôi từng giảng dạy cho người có “H” về các vấn đề thông tin và truyền thông HIV, ở những cái lớp năm sáu chục học viên mà duy nhất tôi (thầy giáo) là người không có virut HIV trong người; nhưng đúng là chuyện nhà ông Trần Văn Sâm đã ám ảnh tôi vì rất rất nhiều lẽ. Nó thảm sầu thì đã đành, nhưng với việc gặp 9 người nhiễm HIV thì nó chưa thể khủng khiếp bằng vào những trung tâm “nuôi nhốt” nhiều trăm bệnh nhân ở giai đoạn tàn lụi nhất, khủng khiếp nhất, họ đang chờ chết, lở loét, nhầy nhụa tuyệt vọng đợi… khiêng ra nghĩa địa. Ngược lại, cái ám ảnh ở nhà ông Sâm, đôi khi là nỗi đau ngoài HIV. Ví như chuyện “đủ hệ thống” từ con gái, con dâu, dâu và rể, cháu nội và cháu ngoại ông Sâm cùng nhiễm HIV/AIDS. Như chuyện cậu con trai duy nhất được “quả cầu gai” không rờ đến của ông Sâm, những tưởng niềm an ủi cuối cùng đó sẽ giúp ông còn chút nối dõi sau này, thì oái oăm thay cậu ấy lại bị sét đánh chết nốt. Mà còn sợ hơn, lúc chúng tôi gửi tiền về cho mẹ con Thành, thì ông Sâm lại đòi đi lĩnh. Ông dùng cái dép tông đánh Thành, mắng Thành là “các con tao bị HIV, các cháu tao bị AIDS, nhờ chúng nó bị “ếch vồ” mà nhà này mới được người ta cho tiền, tiền đó phải chia cho tao chứ”. Ông Sâm xông vào đánh. Thành sợ quá bỏ chạy, ông Sâm đánh tới tấp, cháu bé Lương 4 tuổi (con trai Thành) bị HIV gầy như bộ xương đang ở trên tay mẹ… rơi xuống. Cháu đã chết ngay trên đường ẵm ra trạm xá. Công an vào điều tra, gọi hỏi thẩm vấn ông Sâm, cái dép tông “gián tiếp giết người” đã bị tịch thu làm tang vật. Gia đình ông Sâm, có thể vì quá đau khổ mà quẫn chí, liên tục đánh chửi Thành, họ đuổi em phải ra chái nhà gió thốc bốn bề giữa mùa đông tái buốt miền thượng du ấy mà sống. Thành kê cái giường bé xíu, đặt bát cơm quả trứng thờ con trai ở đầu giường suốt 49 ngày. Ông Sâm cấm con dâu bị “ếch” được vào nhà mình.
Lần đầu tiên tôi xâm nhập vào thế giới HIV ở Tiên Lương, đúng là ông Sâm đã miễn cưỡng tiếp tôi, một người lạ. Ông nghi ngờ, ông tuyệt vọng, ông mặc cảm và xấu hổ nữa. Ông bảo, “nhà tôi toàn AIDS, thiên hạ nó sợ, tôi có rót nước mời cũng chả ai thèm uống bao giờ. Chú thông cảm. Ngồi tí rồi ta chia tay”. Nhiều người trách ông Sâm, lực lượng công an đã rất nghiêm khắc với tội tày trời làm bé Lương chết thảm của ông Sâm. Song nghĩ cho cùng, cũng hiếm có ông bố nào khổ đến như ông ấy, ông cùng quẫn và bi phẫn như thế (dù đáng trách) cũng có cái lý nào đó của ông.
Ông Sâm là cán bộ lâm nghiệp ở huyện Yên Lập đã nghỉ hưu. Cả đời rừng xanh núi đỏ ở chốn xa xôi chín suối mười đèo, đời bầm dập lắm rồi. Ông về Tiên Lương, đúng lúc làng có đứa chết dẫm nó đốn mạt kéo đông đảo thanh niên về Quảng Ninh làm nghề đội than, đào than thuê. Mấy chục đứa, có học và thất học, từ cái xã thượng huyện nghèo mãn kiếp ấy, cứ rùng rùng kéo đi. Đứa cai thầu nó chỉ tính đến lợi nhuận. Nó cho bọn vai u thịt bắp rượu chè, gái gẩm, rồi dùng ma túy để tăng sức lao động, hùng hục đội than như nô lệ. Tất cả dùng chung một mũi kim tiêm hoặc dày vò một cô gái điếm. Rồi thản nhiên về lây sang vợ, sang con. Đến lúc chết sắp mới đi xét nghiệm.
Sơn, chồng Thành phát hiện bệnh được đúng 1 tháng thì chết. Oan gia thay! Vợ chồng ông Sâm có 3 con trai, 2 cô con gái. Thì hai con trai lớn là Trần Văn Hồng và Trần Văn Sơn đều dính HIV, đều xuất phát từ các lò than thổ phỉ ở Quảng Ninh. Đều về nhà lây sang hai bà vợ là cô Lâm và cô Thành, lây sang hai đứa con (cháu nội ông Sâm). Còn một mụn con trai, SN 1979, bị sét đánh chết nốt. Trần Văn Sơn tưng bừng tử tế, là người học một học viện về quân sự danh tiếng rồi bỏ ngang, đi đội than, nhiễm HIV rồi chết thảm vì chứng suy giảm miễn dịch, gây lở loét kinh hoàng. Trần Văn Hồng, anh trai Sơn thì đầu gấu hơn, sau khi biết mình nhiễm HIV, Hồng tuyên bố “không còn gì để mất”. Cả làng nhìn thấy anh ta là bỏ chạy, có khi uống rượu say, thấy bà con nhổ lạc ngoài đồng, Hồng ra cướp rồi nhồm nhoàm ăn lạc sống. Có khi người ta tổ chức đám cưới, Hồng xông vào bê chõ xôi nóng rẫy ra bốc ăn rồi đổ xuống ao. Vì gây sự đủ trò, Hồng bị công an bắt giam ở trại Phủ Đức, đến lúc chuyển sang giai đoạn AIDS trầm trọng, sự sống chỉ còn lắt lay, công an gọi ông Sâm lên nhận mặt con và…
Hết con trai, ông bà Sâm còn một cô con gái tên là Ng., cũng lấy dính anh trai làng đi đội than thổ phỉ. Cũng bị chồng lây HIV, chồng chết, Ng. sống sót đến tận bây giờ. Hai đứa con trai, phúc đức thay một cháu thoát “căn bệnh thế kỷ”, một cháu khổ sở vừa đói rách vừa uống thuốc ngăn chặn suy giảm miễn dịch đâm ra người ngợm cũng phần nào ngơ ngẩn, dù lực học của cháu vốn rất khá. Cô Ng. chán nản bỏ đi làm đủ thứ nghề “nguy hiểm” cho xã hội, mà dĩ nhiên là chả bao giờ cô cho thiên hạ biết cô có HIV.
Vì HIV, đem thân gái nõn nường đi “giết cho hết cái món đàn ông”
Hai cô con dâu ngoan ngoãn nhà ông Sâm đều bị lây HIV từ chồng, hai đứa trẻ tội nghiệp cũng chẳng thoát vòng oan nghiệt. Cô Trần Thị Lâm, SN 1975, vợ của Trần Văn Hồng, sau khi phát hiện mình có “H”, quá sợ hãi và chán nản, chị đã treo cổ tự tử. Cháu Trần Thị Linh, con gái Hồng và Lâm cũng chết sau đó, cháu vĩnh viễn ra đi ở tuổi… lên 5. Con trai Thành và Sơn thì cũng thảm sầu không kém, cháu chết khi mới 4 tuổi đầu, lại chết vì ông nội mình tranh tiền tài trợ từ nhà hảo tâm chúng tôi gửi cho chính cháu và mẹ Thành của cháu.
Trong khi ông Sâm cùng quẫn, phẫn uất bị thói đời đen bạc đẩy đến chỗ bị hắt hủi, bị HIV làm cho không còn một “mầm mống” nối dõi nào trên đời, thì khắp trong xóm ngoài làng, tai họa AIDS cũng tung hoành với những nanh vuốt quái đản nhất. Trước khi Ng., con dâu ông Sâm ngang dọc ở Hà Nội với căn bệnh thế kỷ ủ trong người đã gần chục năm làm tôi choáng váng, thì Tiên Lương đã làm nhiều người kinh sợ với không ít mỹ nhân “hành tẩu giang hồ” trả thù đời khác.
Ví dụ cô Sơn sinh năm 1978. Sơn đẹp tưng bừng, son phấn lẫy lừng ngay cả khi anh chồng Nguyễn Văn X. đã chết còng queo vì đi đội than, tiêm chích, gái gẩm rồi nhiễm HIV từ lâu. Cả làng xót xa để ý từng bước tha hóa của Sơn. Chồng chết, đứa con hai tuổi đầu cũng dính “căn bệnh thế kỷ”, Sơn quẳng lại đứa con cho ông bà nội, quyết tâm ra đi. Sơn nói thẳng là đi làm cave, sống thêm được ngày nào hay ngày ấy. Sơn sang nhà cô gái đẹp non tơ Nguyễn Thị Thành rủ rê. “Đi chơi cho chết hết cái món đàn ông đi. Chúng nó chơi bời trác táng về, đổ bệnh cho chị em mình và bao nhiêu gái quê ngoan ngoãn và trẻ em vô tội ở cái làng này. Rồi chúng nó chết hết. Bọn đểu nó chết hết. HIV/AIDS bây giờ toàn người tử tế, toàn đàn bà và trẻ con. Tội gì mà không chơi?”, Sơn nói.
Vẫn biết là Sơn nghĩ thế là độc ác và sai lầm, Sơn chưa hiểu về HIV, Sơn sống gấp nốt những ngày tàn trong thác loạn. Nhưng Sơn nhận định “HIV mang gương mặt tử tế của đàn bà và trẻ em” thì rất chua xót, rất đúng. Trẻ em vô tội, trắng trong. Đàn bà làng Tiên Lương thì toàn những chị Hoa, Thành, Nga, Sơn, Tình…, đó là những người phụ nữ chân chỉ hạt bột, chịu thương chịu khó, nhiều người đẹp thơ ngây, chưa bao giờ ra khỏi làng, chưa bao giờ trông thấy ma túy, không biết khái niệm cave là gì.
Sơn đi làm gái điếm, bây giờ cô ấy đã chết. Trước khi chết, cô vẫn son phấn lẫy lừng, cả làng, cả các cán bộ truyền thông về HIV/AIDS vẫn ngơ ngác sao mà Sơn đẹp bền bỉ thế. Em đi làm gái ở Việt Trì, ở Hà Nội. Đến mức khi tôi vào làm việc với cán bộ UBND xã, bấy giờ Chủ tịch Đỗ Văn Chính (kiêm Trưởng ban phòng chống HIV/AIDS của xã) quên mất cả nhiệm vụ báo cáo công việc, mà một mực xót xa kiến nghị về cái cô Sơn đi trả thù đời. Những lời ông Chủ tịch vẫn ám ảnh tôi đến tận bây giờ: “Sơn nó bảo đi làm gái để lây truyền bệnh giết cho hết cái món đàn ông đi! Tôi đã có ý kiến với bên công an, đề nghị các vị tìm ra tung tích của cô Sơn và gọi về, chứ để cô đẹp rờ rỡ như thế, đi làm cave trả thù đời như thế thì quá nguy hại cho xã hội”. Sơn không uống thuốc, Sơn xả láng cuộc đời để trả thù… đàn ông, vi rút HIV được dịp hành hoành dữ tợn, Sơn chết rất nhanh. Sơn chết, có cô gái ngoan tên là Ng., vốn là thành viên tích cực vận động bà con phòng và ngừa HIV, cũng lại không chịu được đói nghèo và tuyệt vọng, cô bỏ lại con đường sáng theo lối tối tăm. Lại đi làm “nghề nhạy cảm”, lại son phấn và giàu sang, thi thoảng vênh vang ghé qua vùng quê nghèo đã sinh ra mình…
Nữ “anh hùng” mắc HIV/AIDS chuẩn bị… sinh con
Bao cám dỗ, bao lầm lạc và tăm tối đã dụ dỗ cô gái thơ ngây bị chồng đổ bệnh HIV/AIDS tên là Nguyễn Thị Thành. Nhưng cô bé đã dũng cảm vượt qua bằng… nước mắt. Em khóc đến đục cả đôi mắt sáng trong của nàng sơn nữ năm xưa. Khi Thành bế con từ trạm xá về, bé Lương lạnh cóng trên tay, em đi trên bờ cỏ, ngửa cổ lên trời mà gào, cỏ vướng chân em, làm mẹ con liên tục ngã dụi. “Con ơi, sao con không ở lại ăn nốt cái kem mẹ đã mua, hả Lương?”. Tôi chụp bức ảnh cháu lúc đang ho sù sụ trên tay mẹ, đó cũng là bức ảnh cuối cùng của cuộc đời mãi mãi 4 tuổi của Lương. Bố chết vì HIV từ lúc nó còn trong bụng mẹ, có lẽ Lương bị chứng suy giảm miễn dịch từ khi còn là giọt máu. Ra đời, Lương bé xíu, gầy giơ xương, nó ngồi còng còng như con cóc, cứ thế ho, ho khe khẽ, vì lả sức. Ho đều đặn như người ta ngồi đếm từ một đến một nghìn và mãi mãi. Cứ ho, cứ đếm. AIDS làm cháu không có sức đề kháng trước gió lạnh nữa. Nó ho rã phổi. Rồi ruột nóng ran ran, cháu chỉ đòi uống nước và ăn kem cho có cảm giác mát. “Em đang chuẩn bị nấu cơm, thì có hàng kem đi qua, cháu đòi ăn kem bác ạ. Nó nóng ruột. Em mua hai cái. Nó ngồi ăn một cái để em nấu nốt nồi cơm. Rồi bố chồng đánh em, em bế cháu chạy, ông vác dép tông đuổi đánh. Cháu rơi ra. Cái kem vẫn chảy mềm ở vỉa hè. Em bế con ra trạm xá, nó gẫy cột sống, rịa sọ và chết”, Thành kể. Xóm làng quá bất bình trước việc làm tàn độc của ông Sâm, đám đô tùy không đi đào huyệt, không khênh quan tài. Bên phần mộ bé xíu của cháu Lương cũng không có lấy một vòng hoa.
Không còn gì để mất. Khi tôi chụp những bức ảnh đầu tiên về HIV ở Tiên Lương trong sự sợ hãi bởi phản ứng dữ dằn của những người bị sự bất hạnh dồn vào chân tường kia, có người đã đuổi đánh. Riêng Thành thì thản nhiên: “Nhà bác tốt với em, dám uống nước và ở chơi nhà em cả ngày. Bác cứ chụp ảnh và cứ đăng báo, không việc gì phải che mặt cả. Chúng em và các cháu nhỏ có tội gì nào? HIV mang gương mặt đàn bà ngoan và trẻ em vô tội, sao lại kỳ thị họ? Bác cứ đăng báo, cái làng này ai chả biết em là con dâu ông Trần Văn Sâm, chồng chết, con sắp chết, em thì bị HIV chả biết sống thêm được bao nhiêu ngày nữa. Còn ngoài cái làng này ra, em có ra khỏi bờ đê bao giờ đâu mà xấu hổ, mà người ta biết mặt em?”. Tôi rùng mình khi nghe một lý luận quá giản dị, quá chân thành. Tôi đã ví Thành là một “nữ anh hùng”, anh hùng quá giản dị với cái lập luận hồn nhiên lạ lùng, mà cũng chí lý lạ lùng. Chẳng cần phải tổ chức nào trả lương hay tôn vinh, tập huấn, Thành được nước mắt và mất mát kinh thiên của 21 năm làm người kia đẩy đến chỗ phải thấm thía lẽ đời, phải biết chia sẻ nhiều hơn với nỗi đau của đồng loại.
Thành tự nguyện đến nhà anh Nguyễn Văn D. bị HIV, có 3 đứa con và cô vợ ở vào “ghế nóng”, rất nhiều khả năng đã lây nhiễm. Thế nhưng bác sỹ vào xét nghiệm thì con anh ta đạp bay xi lanh, kim tiêm đang lấy máu bật vào tay bác sỹ, cắm phập. Vị bác sỹ này tên là Sự, nhà ở ngoài thị trấn Cẩm Khê phải khóc tu tu “tôi chết mất”, chạy khỏi xóm 3 Tiên Lương rồi đi điều trị phơi nhiễm khẩn cấp. Anh D. tuyên bố, đứa nào còn nghi vợ con tao có HIV, đến xét nghiệm là tao chém chết thẳng tưng. Không ai dám bén mảng đến, kể cả người tưởng như “cánh cửa nào cũng mở được” như nhóm nhà báo làm phim về Tiên Lương chúng tôi. Nhưng Thành thì dám đến. Thành cắp nón vào, chó cắn Thành cũng lừ lừ đi, chào anh D. hàng xóm, bạn của người chồng đã ở nơi chín suối của Thành. Thành bảo, em cũng dính “ết”, chả ai bị HIV tới hai lần trong một đời, anh thích thì đánh em đi, cắn em đi. Vài lời phân tích kiểu hàng xóm láng giềng, kiều “đồng khổ tương lân”, anh D. đã quy hàng kim tiêm rồi tích cực sinh hoạt trong nhóm đồng đẳng. Vợ anh ta có “H” cũng đang tính kế sinh nở để tìm tiếng trẻ thơ không bị “đại dịch”.
Anh Nguyễn Văn Thắng thì đầu gấu có tiếng, vợ chồng anh, cả đứa con của anh cũng bị HIV/AIDS rồi, nhưng họ vẫn cứ… sòn sòn đẻ. Họ đẻ vì lỡ mang thai, sang thị xã Phú Thọ định nạo hút thì thai quá to. Bác sỹ nhẫn tâm bảo, có 60 nghìn thì nạo thai kiểu “cô vắc” cho. Anh Thắng làm nghề nuôi cá, nuôi già, bấy giờ trời rét đàn trắm cỏ chết sạch. Anh tặc lưỡi, lấy đâu ra tiền, đem về để đẻ. Tôi đến thăm khi chị Hoa (vợ anh Thắng) héo hắt chuẩn bị dứt cái ruột HIV của mình ra một đứa con giời hành. Ít ngày sau thì gương mặt gầy giơ, xương xẩu và phủ đầy bóng tối tử thần của chị… bất động vĩnh viễn. Chị chết trong oán thán.
Bẵng đi một thời gian. Tổ chức COHED (Trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và phát triển), nơi đặc biệt quan tâm đến những người có HIV mời tôi giảng dạy một khóa về truyền thông cho những “chủ soái” của các câu lạc bộ đồng đẳng ở nhiều tỉnh thành. Một lớp học xúc động. Nguyễn Thị Thành dõng dạc cầm máy ảnh lên chào tôi. Em nói được chút tiếng Anh, em tích cực với các hội thảo bổ ích cho những người cùng cảnh ngộ. Căn nhà phủ đầy hoa bìm bìm tím của Thành đã trở thành trụ sở của Câu lạc bộ Hoa Sim Tím mà Thành là Chủ nhiệm. Hai mươi tám thành viên được Thành tập huấn, chỉ dạy tận tình. Thành cũng mở hiệu cắt tóc, thẩm mỹ, trang điểm và cho thuê váy áo cô dâu, tuyển cả người có HIV và người không có “bệnh thế kỷ” vào làm việc. Bộ trưởng Bộ Y tế vì thế đã có bằng khen đặc biệt dành cho những đóng góp quý báu của người có HIV Nguyễn Thị Thành. Em đã “xin” tiền của các tổ chức để dặm lại mái nhà, mua gà lợn hay cá giống cho các thành viên phát triển kinh tế. Xã Tiên Lương đã phát hiện ít nhất 37 người nhiễm HIV. Hằng tháng, Thành đi xe máy sang tận thị xã Phú Thọ, cách sông cách đò, cách mấy chục cây số để lấy thuốc chống lại chứng suy giảm miễn dịch, kéo dài sự sống cho các thành viên. Thậm chí em cũng đưa những “thây người” tuyệt vọng kia xuống Hà Nội xét nghiệm định kỳ để điều chỉnh chế độ sinh hoạt, thuốc thang. Em lấy chính em ra để noi gương. Em, một trong những người đầu tiên phát hiện có HIV ở Tiên Lương, nhờ điều trị đúng cách và lối sống lành mạnh, nay vẫn khỏe và được xã hội tôn trọng. “Cái việc em bị đày đọa, em định tự tử, việc nhà chồng em nhẫn tâm, em chôn con và chôn chồng em ra sao, mọi người đều đã biết. Có ai khổ hơn em không? Nhưng vẫn phải sống, phải tử tế. Chứ đừng buông xuôi”, Thành nói, rồi khóc, rồi lặng lẽ thắp nhang trước ban thờ cậu bé Lương 4 tuổi với cái nhìn thơ ngây từ trong nhang khói. Tôi và các thành viên Hoa Sim Tím lặng người.
Bao năm sống cô độc trong căn nhà giữa mông quạnh ấy, Thành chỉ đau đáu nhìn vào ảnh bé Lương. Thành ước ao có một đứa con. Rồi trong khóa tập huấn, thấy báo chí, thấy thông tin có nhiều người phụ nữ có HIV, có cả cặp vợ chồng cùng nhiễm HIV người ta vẫn sinh con dưới sự can thiệp của y học hiện đại mà cháu bé không hề bị lây nhiễm. Thành mừng lắm. Em xin con từ anh chàng bao năm vẫn thầm yêu trộm nhớ mình. Họ “đơm hoa kết trái” bằng con đường máy móc, ống nghiệm, “tinh cha huyết mẹ” đều qua sàng, lọc, giám sát, tách bóc sao cho an toàn. Bây giờ, cái bụng lùm lùm, Thành chợt nhận ra chưa bao giờ mình khát thèm tiếng trẻ con trong nhà đến thế. “Ông bố giấu mặt” là một người tử tế, làm truyền thông, anh này vì cảm cái nghĩa, cái sự xả thân vì cộng đồng của Thành mà bao năm vẫn yêu em. Đến bây giờ, Thành bảo, việc sinh con không nhiễm bệnh của nhiều bà mẹ có HIV trong giới đồng đẳng của em là khá phổ biến. Con em, qua xét nghiệm cẩn trọng, vẫn an toàn trong bụng mẹ. Không “quan hệ” trực tiếp, không cho con bú, không được phép đẻ thường (mà đẻ mổ), Thành tin, em sẽ lại được bế đứa con mình dứt ruột đẻ ra.
Nói đến đây, đôi mắt em long lanh. Thành khóc.
Sunday, December 11, 2011 4:11:20 AM
Khóc, nói lời cảm ơn cánh đồng…
Bài và chùm ảnh: Đỗ Doãn Hoàng
Năm nào cũng vậy, từ thượng cổ và mãi nghìn năm sau có lẽ người làng tôi vẫn cứ giữ đúng lệ như vậy. Dịp giáp Tết nguyên đán, nhất định mỗi gia đình phải có vàng nhang, voi giấy, ngựa giấy, bánh chưng và khẩu thịt (miếng thịt khoảng 5 lạng cắt hình vuông) đem bày ra trước các phần mộ người thân, bày ra ngoài ruộng, ngoài gò để làm Lễ tạ ơn cánh đồng. Cánh đồng bao dung cho mùa màng. Cánh đồng ôm chứa bao nhiêu mồ mả ông bà, để cho tất cả được bình yên. Cánh đồng cũng là nơi để con cháu được những nén tâm nhang mở ra thế giới, hòa trộn ùa ập để mà gặp ông bà ông vải, gặp cha mẹ, gặp tất cả những người quá cố, gặp cả ông Lý trưởng cai quản mùa màng và sự bình yên cho mỗi “mái nhà ở cõi xa xanh”. Và, người làng tôi tin rằng, mỗi con dân xứ mình, dù làm ông to bà lớn, hay kẻ mõ sãi, ăn mày, hát xẩm thì cũng đều bình đẳng trước cánh đồng làng. Hạnh phúc suốt đời của họ là đi hết cõi dương gian của kiếp phận mình rồi quy tụ lại ở cánh đồng làng. Họ ở lại vĩnh viễn với tổ tiên mình, với đất lề quê thói của mình. Ở đó, với lúa ngô, khoai đỗ, với mộ mới và mộ cũ, cũng rặt chỉ những người làng mình.
Khi tôi đã đủ tuổi trời cho để không chú ý thì cũng phải thấy những sợi tóc bạc trên đầu mình. Đó cũng là lúc bố nói với tôi về cái đích thực của cánh đồng làng. Ông bảo, “đất trăm người ở, ruộng trăm người cày”. Thời gian như vặt lông vịt, chuyện đời lớp sau đè lớp trước. Mỗi tấc đất, mỗi luống cày ở châu thổ xứ Bắc bốn nghìn năm lịch sử này, đã có biết bao kiếp người đến canh tác, sinh sống rồi nằm lại vĩnh quyết? Bố mua đất sinh phần, tính chuyện ông và mẹ tôi sẽ nằm ở góc nào trên cánh đồng làng. Bố đưa tôi đi, đây là mộ tổ, đây là cụ Tổng lãnh binh tỉnh Sơn Tây, đây là ông quan Đốc học được ghi trên bia đá bảng vàng, đây là cụ nhà mình đi lính cho Pháp từ cái thuở còn hoang mang chưa biết đâu là bến bờ giải phóng dân tộc. Tất cả các cụ đều là ông bà tổ tiên, là ngọn nguồn của mạch máu đã sinh ra các con.
Bấy giờ tôi len lén khóc, có lẽ tôi đã và sẽ dễ dàng bật khóc bất cứ khi nào, kể từ điểm mốc cuộc đời ngộ ra thế nào là một cánh đồng làng đích thực hôm ấy. Rằng tôi đã phải nghĩ đến cái việc: một ngày nào đó tôi sẽ vĩnh viễn không còn nhìn thấy cha mẹ mình trên cuộc đời nữa. Chỉ có thể ra cánh đồng trò chuyện với bố mẹ mà thôi. Và tôi cũng sẽ phải ra cánh đồng làng để nằm nghìn nghìn triệu triệu năm với cha mẹ tổ tiên mình, trong một ngày đẹp trời hoặc không đẹp trời nào đó. Và tôi sẽ phải nói với những đứa con của mình câu chuyện về cánh đồng làng là điểm hẹn vĩnh cửu cho muôn năm đất lề quê thói xứ mình. Tôi đã chia tay, đã hò hẹn những người bạn chí thân, rằng dòng đời đẩy ta ra xa nhau, ra nhiều hướng mà càng đi ta lại càng xa nhau, đành hẹn nhau ở cánh đồng làng ở cái độ sau này nằm xuống.
Hình như đến cái tuổi nào đó thì ai cũng thấm thía điều không hẹn mà đến kia, nên người làng cổ chúng tôi đã kỳ công lắm. Đầu làng, các cụ có xây một cái quán rêu phong, lợp ngói âm dương nâu trầm nhiều năm tuổi. Đó là nơi mà bất kỳ ai, dù tạ thế ở phương trời nào, bằng cái cách u buồn nhất hay vui sướng nhất, họ cũng đều được đưa về làng. “Ma” không đi qua cổng làng, không diễu qua cửa thánh, đình làng. Mà quán đó chính là hồn làng. Từ quán đó, phần xác của người con làng cổ sẽ được đưa thẳng ra cánh đồng. Cánh đồng bao dung đẻ ra ngô lúa sắn khoai, đẻ ra cả cội nguồn của năng lượng sự sống, đẻ ra lao động và cống hiến để mỗi người trở thành chính mình; cánh đồng lại giang tay ôm tất cả chúng tôi khi lá rụng về cội, khi cóc chết ba năm quay đầu về núi.
Và ngày 20 tháng Chạp hàng năm, bất kỳ người dân nào còn có thể lên xe xuống ngựa, hoặc lê lết xe lăn cáng thương về làng được, thì họ đều phải về. Tết Nguyên Đán có thể không về, nhưng 20 Tháng Chạp thì họ phải về làng. Đó là ngày họp mặt các dòng họ, ngày Tảo mộ. Cánh đồng làng hôm đó nô nức, xe cộ láng coóng, áo quần sặc sỡ, “vàng thoi bạc nén” bằng giấy gieo tưng bừng các bờ cỏ lối đê. Mỗi dòng họ, người ta xếp hàng, cầm cuốc xẻng, dao phát, lễ vật đi thành một hàng dài. Dòng họ đa đinh, có khi người cuối hàng chưa chui qua cổng làng thì nhóm đầu đoàn “hành quân” đã ra đến ngôi mộ đầu tiên. Họ đi chân đất, lội ruộng và dọn dẹp các phần mộ. Đó là ngày mà người sống và người đã khuất hội ngộ trong nhang khói. Có thể không ai khóc cả, nhưng người biết nghĩ thì bao giờ cũng thổn thức không thôi trong lòng.
Tôi luôn thấy những người đã mất hiện về, họ mỉm cười tất thảy. Dù người khổ như bà ngoại tôi, cả đời không có tí ti chuyện cổ tích, toàn tật bệnh và đói khát với những thở thản “đời như bụi rậm”, những bữa cơm “ăn cho qua ngày đoạn tháng”. Nhưng sau 81 năm làm người và 14 năm nằm dưới mộ, bây giờ bà cũng mỉm cười mãn nguyện. Cánh đồng làng tưới tắm cho bà, cho bà hiểu cái giá trị đích thực của cõi sống và cõi chết chăng? Từng ngôi mộ được dọn dẹp, quét vôi hoặc đắp điếm, hoặc nhổ cổ, hoặc chỉ là thắp thêm một nén tâm nhang. Người ta đứng vòng quanh mộ, để già kể với trẻ về người đã nằm xuống. Người ta chăm sóc ngôi mộ như chăm sóc khu giường bệnh của một người đang sống. Cụ là ai, cụ đã sống, đã theo phe nào và làm những gì, dù xã hội nhìn thế nào, thì cụ vẫn là cụ của các con, các cháu. Ông cụ này làm đến phẩm hàm tứ trụ trong triều đình. Nhưng cụ về làng vẫn hạ mã (xuống ngựa) từ tít bìa đê sông Hồng, cụ đi guốc mộc bước qua cổng đình, gặp người làng cụ luôn khiêm cung kính cẩn. Và cụ bất tử trong lòng dân. Cụ được đối xử bình đẳng như những ông già cô đơn cô quả suốt đời sống ở “xó đình góc điếm” khác. Cánh đồng làng làm cho tất cả được bình đẳng, như trước Chúa, trước Phật, trước tình yêu và cái chết, trước hạnh phúc và khổ đau kiếp người.
Sau lễ Tảo mộ, chiều 30 Tết là lễ Tạ ơn cánh đồng. Người làng tôi tin rằng, mỗi xứ (vùng) đồng đều có một ông Lý trưởng riêng, các ông này hầu hết đều thích cưỡi voi, cưỡi ngựa, uống rượu và ăn thịt theo từng khẩu. Ông công tâm và lành lẽ. Cánh đồng và bản thân ông Lý trưởng cùng cai quản những ngôi mộ trên xứ đồng ấy. Mỗi năm, mỗi gia đình có ruộng, có mộ trên xứ đồng nào thì làm lễ tạ ơn xứ đồng đó, với ông Lý trưởng đó. Ông ấy tên là gì, tính tình ra sao, từ thượng cổ, cha mẹ ông bà truyền rồi con cháu nối, người làng ai cũng biết. Đây là xứ đồng Lăng, rồi đồng Gậy, đồng Ón, đồng Áng, đồng Cang…, tùy từng xứ mà biện theo từng lễ. Nhưng lễ nào thì cũng nhất thiết phải có voi giấy, ngựa giấy, khẩu thịt, đĩa xôi hoặc chiếc bánh chưng, vài thếp vàng mã, rồi nhang khói. Nhà nào thấy có gì bất ổn, thì tùy theo gia cảnh hoặc hỏi các cụ đồ nho “bấm quẻ thiên can địa chi” để sắm ngựa giấy voi giấy màu gì. Ngựa màu đỏ là phổ biến, nhưng khi có “vấn đề mồ mả”, có khi phải sắm ngựa đen, voi đen với cặp ngà nhọn hoắt, thậm chí cả những hình nhân thế mạng.
Lời cảm ơn cánh đồng rì rầm, dài lê thê và có cái gì siêu nhiên kỳ lạ. Cánh đồng là bà mẹ vĩ đại, cánh đồng gọi mưa xuống, đuổi gió bão thất thiệt mùa màng đi, cánh đồng ngăn tai họa và gieo gặt điều may mắn. Mồ yên mả đẹp, tổ tiên được chăm sóc, được bao dung với cháu con, cũng là nhờ cánh đồng. Cụ thể là nhờ cả ông Lý trưởng thích cưỡi ngựa cưỡi voi nữa. Mẹ bảo, “trần sao âm vậy”, cả năm ông ấy coi sóc mùa màng, coi sóc phần mộ tổ tiên để mẹ ra đây gặp bố gặp mẹ của mẹ, gặp ông bà tổ tiên, gặp cả những đứa cháu tội nghiệp vĩnh viễn chưa đầy chục tuổi đầu ở trong họ hàng nhà ta…thì Tết đến mình cũng phải có lời cảm ơn ông ấy chứ. Nó cũng như lời cảm ơn với đồng chí trưởng thôn tử tế ở trong làng mình vậy, con ạ.
Tôi không so sánh như mẹ. Tôi chỉ thấy lành lẽ và cổ sơ. Hồn nhiên và tử tế. Cánh đồng làng và sự trở về của mỗi phận người ở dưới đất ấm quê mình là cái gì thật thổn thức. Nó làm người ta sống tử tế, dám kiêu hùng và dám khoáng đạt hơn. Người ta thấy cuộc đời vừa dài vừa ngắn, vừa có cái gì sương khói lại vừa giản dị như túm mạ cắm xuống và cho mùa vàng mẩy hạt. Nó khiến người ta nói về lời hẹn dưới đất đen giữa đồng làng có ông Lý trưởng thích ngồi voi phi ngựa và ăn cả khẩu thịt kia…cũng thật thật lạc quan!
Đ. D.H
Chú thích ảnh:
10: Bày voi ngựa giấy, khẩu thịt, rượu và bánh chưng ra trước các ngôi mộ, giữa đất đai phì nhiêu trong lễ Tạ ơn cánh đồng.
9: Người ta luôn mang theo trẻ em, đủ những người trong họ tộc ra trước cánh đồng để truyền đạt các kiến thức truyền thống, cũng như nói rõ người nằm dưới mộ là ai, cuộc đời sự nghiệp ra sao.
7 và 8: Mẹ tôi năm nào cũng bày voi ngựa rồi khóc trước mộ bà ngoại rất lâu.
3 và 6: Nhang khói cho ngôi mộ người thân của mình, bà con cũng nhất thiết phải thắp nhang cho các phần mộ bên cạnh nữa.
Ta on canh dong.jpg: Có nhà giàu có còn sắm cả voi ngựa và hình nhân… khổng lồ, tốn kém đến mức có người nghĩ là hơi “dị đoan”; nhưng niềm tin và quan niệm về cánh đồng của họ thì cũng vẫn rất hồn nhiên, lành lẽ.
Sunday, December 11, 2011 4:09:06 AM
Xứ sở của lòng mộ đạo vô biên…
Ký của Đỗ Doãn Hoàng
Trong những chuyến đi dài ấy, những người bạn ở nơi xa xôi bao giờ cũng khiến tôi nhanh chóng cởi lòng cởi dạ. Tôi luôn nghĩ, có thể chỉ được gặp họ một lần duy nhất trong một kiếp người. Đó là chàng trai ở Luang Prabang ngày nào cũng dậy từ 3 giờ sáng để nấu cơm nếp và đủ loại thức ăn đem ra một góc phố dâng lên cho đoàn sư áo vàng cam đi chân đất khất thực. Đó là một người đàn ông Thái Lan, một chị phụ nữ Myanmar, một cô bé Tây Tạng diễm lệ; (có lẽ) từ lúc biết nghĩ về niềm tin tâm linh cho đến khi nhắm mắt rời dương gian; ngày nào cũng vậy, từ sáng đến đêm, họ luôn đăm đắm một lòng với đức Phật, với Đấng Thiêng Liêng mà họ tôn thờ. Như bố mẹ ông bà họ đã dâng hết nhựa sống của mình lên để tôn thờ, không cần tìm một lý do.
Tôi đã điếng đi, lặng đi, hình như còn cả rùng mình lạnh ngắt nữa, khi chứng kiến người Tây Tạng dành cả đời mình để đi được đến thánh địa Ngân Sơn, lên các hồ thiêng như Namsto, chùa Đại Chiêu, tu viện Potala. Họ thực hiện thứ nghi lễ khổ ải nhất hành tinh, ấy là cứ “tam bộ nhất bái” để “ngũ thể nhập địa” (đi ba bước chân thì vái trời, Phật một lần; một lần vái là năm phần thân thể - trán, ngực, bụng, chân, tay…- cùng chạm xuống đất đá, bùn nước, tuyết trắng). Họ cứ lết như thế, có người lết cả một đời, có người hết phận số trần gian của mình rồi mà chưa bao giờ đến được đất thiêng, bởi đói, rét, thậm chí cả tai nạn, cướp bóc dọc đường đã lấy đi mạng sống của họ. Lịch sử Tây Tạng đã ghi lại, có vị thánh sư đã vừa đi vừa nằm sấp xuống vái liên tục như con sâu đo như vậy, vượt qua 2.500km đường đèo dốc lởm chởm, những đỉnh tuyết sơn vĩnh cửu trên nóc nhà thế giới… để đến được “thánh địa”.
Có người bạn Tây Tạng đã ý tứ hỏi tôi rằng, ở Việt Nam, anh theo tôn giáo nào. Dẫu trong bản khai lý lịch tôi vẫn nhiều lần viết: “Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Trình độ: Cử nhân”, nhưng nhìn tấm da cừu còn nguyên lông lá đã mòn vẹt mà anh bạn đang đeo trước ngực để liên tục mài thân mình xuống các đỉnh đèo tuyết phủ trắng xóa dọc đường hành hương, tôi buộc phải “nói giảm nói tránh”: tôi theo tín ngưỡng thờ tổ tiên. Mỗi tháng, vào ngày mùng một và rằm âm lịch, tôi đều thắp nhang trước ban thờ ông bà ông vải, rồi vái cả chư vị thần linh cai quản khu đất, khu nhà, cũng như sự bình an của gia đình tôi. Tôi có niềm tin vào các vị thánh thần, bất kể đó là chúa Giê Su, Thánh Ala hay Đức Phật... Song đó là niềm tin của một người biết “kính nhi viễn chi”, tôi trân trọng, nghiêm cẩn, thành kính trước tất cả những gì thuộc về các tôn giáo ở các miền đất mình đã đi qua. Nhưng tôi đã không làm được như những người bạn xa xôi tôi từng gặp kia. Lòng mộ đạo của họ tôi đã hơn một lần chứng thực rồi xúc động bái phục! Khi tôi bảo người bạn xứ Tạng, rằng: tôi theo tín ngưỡng thờ tổ tiên, anh ta bảo: chúng tôi cũng thờ những đấng sinh thành ra mình. Thảng hoặc có vài cộng đồng người ta quan niệm không cần nhớ phần mồ mả cha mẹ ông bà mình, cũng không lập bàn thờ và trưng bày di ảnh. Có tộc người thì đem xác phàm của người quá cố phanh nhỏ, thả xuống sông (thủy táng); hoặc băm thành muôn mảnh nhờ chim kền kền nuốt chửng bay lên bầu trời (gọi là thiên táng). Song, chẳng có ai là không thờ phụng trong lòng và không tưởng nhớ những đấng đã trực tiếp (bố mẹ đẻ) hoặc gián tiếp (ông bà hoặc bề trên nữa) đem mình từ cát bụi trở thành một Con người.
Nhân thế, đôi khi, tôi đã nghĩ mình có quá ít niềm tin tôn giáo, để chư vị ấy đứng ở tít cao xanh, xa thẳm giám sát, thúc giục, răn dạy mình trong mỗi đường đi nước bước giữa cuộc đời đầy cám dỗ và cạm bẫy. Tôi không nói mình nhất thiết phải theo một tôn giáo nào đó, bởi mỗi người có quyền lựa chọn và (như đã biết) chẳng ai có quyền cấm người khác theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Cũng chẳng khó khăn gì để trở thành một tín đồ mộ đạo. Cái mà những người bạn khiến tôi trăn trở hơn, ấy là: phải chăng, khi có một niềm tin đắm say, mãnh liệt vào một đấng tối cao chi phối tất cả, thì con người sẽ sống với nhau nhân ái hơn? Tất nhiên, hế giới đã chứng kiến không ít kẻ “tử vì đạo” mê muội, lầm lạc, đôi khi tàn độc khủng khiếp. Những vụ khủng bố đẫm máu nhất của lịch sử nhân loại, hình như đều có nguyên nhân từ cái gì đó giống như sự quá khích trong các kẻ cuồng tín. Biết vậy, tôi vẫn nghĩ, nếu có niềm tin thực sự vào Đức Phật kiểu như những người bạn xứ Lào, xứ Thái và xứ Tạng tôi sắp kể ra đây, thì thế giới sẽ tràn ngập tình yêu và lòng thương mến. Chuyện này tôi thấy đúng, thấy thấm thía, ít ra là qua những gì tôi đã tận tai, tận mắt, tận tâm can mà chứng thực.
Nhớ có một lần lang thang ở cố đô Luang Prabang (Lào). Bên dòng Mê Kông thơ mộng, những cây cổ thụ lá xanh non, thân cành đều phủ kín mượt các loại cây kí sinh quyến rũ. Dòng sông và những cái cây khổng lồ cứ êm đềm như bước ra từ trăm miền cổ tích. Mấy chục ngôi cổ tự đổ bóng thâm nghiêm bên thành phố cổ kính được vinh danh là “nơi bảo tồn tốt nhất Đông Nam Á”. Thành phố phát triển dọc hai bờ sông Mê Kông và Nậm U. Cả nước Lào, thanh niên cứ đến tuổi là được đưa vào chùa sống, học và tu tập. Họ tự nguyện gửi mình nơi cửa Phật với lòng thành kính vô biên. Giống như ở ta, thanh niên đến tuổi đi nghĩa vụ quân sự, thì ở bạn, dăm bảy tuổi đầu, các cậu bé nhất tề làm “chú tiểu” một thời gian. Ai ưa cảnh Phật thì ăn đời ở kiếp với chùa. Còn lại, các cháu cứ về nhà, đi học, lấy vợ đẻ con như thường. Người ta bảo, cả nước Lào mỗi người dân là một tín đồ của Phật, nơi này ít tội phạm, nơi này nề nếp dịu dàng được như thế là nhờ Phật. Nhưng, phải chứng kiến một lễ khất thực ở Luang Prabang - kinh đô nghìn tuổi của đất nước Triệu Voi, thì bạn mới hiểu thế nào là lòng mộ đạo của người dân nơi này.
Sáng sớm, khi màn sương còn ùa ập từ bờ Nậm U, vượt qua 40 ngôi cổ tự thâm u sang với bờ hữu sông Mê Kông rộng lớn, ông chủ khách sạn già nua có bộ ria bạc rất tay chơi đã gõ cửa phòng thúc tôi trở dậy. “Biết bao giờ con mới trở lại Luang Prabang, ra mà xem người Lào khất thực. Người Lào mộ đạo nhất thế giới!”. Ông chăm sóc chúng tôi đến tận nửa đêm, không chỉ vì dịch vụ du lịch, mà tôi đã hiểu, trước khi ông vỗ vai tôi gọi tôi là “con trai”, rồi ông nói say sưa về lẽ sống tử tế ở cuộc đời vừa dài vừa ngắn này. Tử tế bao giờ cũng cho con rất nhiều. Đường phố lặng ngắt, trời hửng đến đâu, tôi thấy người mộ đạo lặng lẽ đến các gốc cây, hè phố, các ngã ba đường ngồi ne nép đến đó. Dường như họ âm thầm dàn trận thế cho một kế hoạch tuyệt mật nào đó. Họ đi chân trần, có người mặc áo vàng cam như nhà sư. Có cô gái quàng khăn trắng như lọn mây bông trước cổ, áo trắng chẽn ngang hông, cô khép hai đùi, quặt chân trần sang một bên, cô ngồi lên chính hai bàn chân đang úp xuống mặt đất đẫm sương sớm của mình. Tay cô cầm giỏ xôi và thức ăn. Họ chỉ mỉm cười, rồi gật đầu chào chúng tôi. Họ không biết nói tiếng Anh, tôi không biết nói tiếng Lào. Ngôn ngữ chúng tôi nói với nhau ngọt lịm. Nhà họ ở cái cù lao nằm ở ngã ba sông Nậm U và sông Mê Kông. Từ trên bờ Mê Kông nhìn xuống chỉ thấy những ngôi nhà tranh, làng mạc xanh um, bóng dừa phủ kín mít. Hằng chiều đám trẻ tập tu mặc áo cà sa vàng rời các ngôi chùa cổ, xuống bến sông, cởi dây chạc buộc thuyền, chúng khua mái chèo lặng lẽ trở về làng. Bóng cà sa vàng vàng rực một sông Mê Kông, nơi vẫn được văn sách xưa nay gọi là “Dòng sông Phật giáo”.
Chợt có tiếng lật phật, như tiếng hân hoan dè dặt của những con chim non đập cánh mới ra giàng. Lật phật nhè nhẹ. Xa xa, loạt xoạt những bước chân trần của các nhà sư mặc áo vàng cam. Có đến mấy trăm nhà sư đi vàng các góc phố. Lúc này mặt trời đã nhè nhẹ nhô lên. Họ đi qua các gốc cổ thụ, các cổng chùa quét vôi hoặc vàng nhạt hoặc trắng toát, tạo nên một cuộc phối màu sặc sỡ. Họ đeo những cái giỏ đi khất thực, quai đeo vòng qua vai, giỏ để trước ngực. Chân trần đi lón nhón. Suốt năm, dù mưa dù nắng, ngày nào nghi lễ khất thực cũng diễn ra. Các nhà sư áo rộng buông chùng cứ lật phật theo mỗi bước chân. Tôi đã chứng kiến nhiều nhà sư dùng điện thoại di động, lái xe hơi sang trọng. Họ không coi việc tu tập, thiền định là việc làm giàu. Nhưng họ cũng chưa bao giờ thiếu ăn. Có lẽ, việc sáng nào họ cũng đi vòng quanh thành phố để khất thực là một nghi lễ, là một cách để họ và bà con cùng thể hiện lòng sùng kính Đức Phật, hơn là việc họ đi xin xôi, xin thức ăn về dùng bữa. Một bà lão dẫn theo cả chồng và đàn con ra vỉa hè ngồi dâng xôi và thức ăn cho nhà chùa bảo: Ngày bà đi làm, đi chợ mua đồ về, nửa đêm đã nấu nướng, sáng ra dâng “thức ăn” cho các vị sư. Không phút giây nào bà không nghĩ và làm việc vì các nhà sư, các ngôi chùa và đức Phật. Nhiều bức tượng mình vàng ở Myanmar và Tây Tạng, hàng trăm và cả nghìn năm qua, tượng cứ liên tục to ra, óng ánh hơn theo đúng nghĩa đen. Bởi Phật tử vẫn hằng mua vàng lá trực tiếp dát lên tượng. Với các Phật tử, làm như thế là lẽ sống, đó là hạnh phúc của họ và cả gia đình họ. Bà cụ dâng thức ăn ở Luang Prabang có cô con gái trẻ măng, cậu con trai cũng trẻ măng. Ở quê tôi, tuổi đó, các em thường vẫn tí toáy điện thoại di động, có khi chát chít trên mạng thâu đêm, đầu xanh đầu đỏ ai trông thấy cũng ngại. Ở Luang Prabang, các em theo mẹ đi dâng thức ăn cho người nhà Phật. Hết coóng (giỏ đựng xôi đan bằng tre) này, họ phóng xe máy về nhà lấy nồi xôi khác. Cả gia đình họ, cả thành phố của họ sống trong nghi lễ linh thiêng diễn ra hằng ngày! Họ thành tâm nghĩ và làm điều đó tự đáy lòng, không cần ai tán thưởng hay trả công, họ không khoe với ai, cũng chẳng giấu giếm ai. Đường về, họ tiếp tục “dâng” cơm, xôi, thức ăn cho những người ăn xin đang quỳ xuống, giơ dụng cụ chứa thức ăn ra, mắt nhìn chăm chắm xuống lòng bát hay lòng khay đang hy vọng có ai đó bố thí. Không xin xỏ hay kêu gào, níu kéo, họ quỳ một chỗ, im lặng tuyệt đối, thậm chí nép mình ở các gốc cây dọc phố. Dường như không khí khất thực linh thiêng, thành kính cũng khiến những “cái bang” xứ này nền nã hơn. Đặc biệt, người Lào có thói quen dâng cơm cho các cái cây. Họ coi cây trong vườn nhà, trong thành phố cũng có linh hồn, cũng là thành viên trong cộng đồng người. Và họ buộc dây vải đỏ rồi đặt những nắm cơm nhỏ lên các cành, hốc cây. Nhiều du khách đã ngộ nhận người Lào “bôi” cơm xôi lên cây để… nuôi chim là vì thế.
Đi xe ở Lào, ở miền Bắc Thái Lan, suốt cả tháng trời tôi không gặp một người lấn đường, lạng lách, hay bấm còi toe toe. Trong khi ở Hà Nội, hiếm có khi nào đi tới 300m mà tôi không phải đinh tai nhức óc kéo còi một lần, điều này khiến tôi rất xấu hổ. Nhưng suốt bao năm vẫn không biết làm cách nào để không phải “khủng bố màng nhĩ” người khác như vậy nữa. Bởi vì người Việt đã không làm được cái việc mà người Lào, người Thái ở miền Bắc đã làm. Ấy là cẩn trọng, tuân thủ để không bao giờ đi quá, đi trái phần đường mình được đi. Những ngày tự lái chiếc xe biển số Việt Nam, chạy với tốc độ 160km/h, xuyên các quốc gia để đến Tam Giác Vàng, giữa rừng hoang núi thẳm, đi nửa ngày không gặp xe đi ngược chiều, chúng tôi liên tục trắc nghiệm: thử xem chiếc xe mình sẽ gặp đầu tiên, rồi thứ hai trong ngày, nó có thấy đường quá vắng mà lấn vạch lấn làn hay vượt tốc độ không. Tôi không có lý do gì để bịa ra điều này. Xin thưa, câu trả lời là: Không. Không bấm còi bừa bãi, không bao giờ lấn làn, vượt tốc độ. Không bao giờ thấy xe sau nháy đèn hoặc xi nhan mà không nép vào rệ đường nhường nhịn. Có lần ở thủ đô Viêng Chăn, tôi theo thói quen mấy chục năm tham gia giao thông Việt Nam, trót bấm còi một tiếng. Thấy tất cả đoàn người xung quanh chĩa mắt về phía mình. Có người khó chịu, có người thương mến mỉa mai, có người cười cảm thông. Và tôi xấu hổ đến tận bây giờ. Còn cái hôm tìm tiệm cơm ở bờ sông Mê Kông giữa cố đô Luang Prabang nghìn tuổi. Sau khi đỗ xe, chiếm gần hết mặt tiền quán ăn. Gọi món không quá nhiều ớt cay (no spicy). Ăn thử, một chút, chúng tôi không sao nuốt nổi cái phần ớt bà con bỏ sẵn từ khi chế biến món ăn. Vả lại có mấy món đặc sản muốn thưởng thức của Lào thì quán đó lại không bán. Thế là chúng tôi ăn nếm, xin phép trả tiền và đi quán khác. Bà chủ, ông chủ vui vẻ tiếp chuyện, không lấy tiền. Họ đưa đến tận quán khác có món đặc sản mà bạn phương xa muốn ăn. Cái xe ô tô cứ đỗ ở đó, quán chúng tôi sẽ trông coi cẩn thận. Từ hôm đó, đến tận khi viết những dòng này, tôi vẫn chưa hiểu tại sao có người tử tế thế. Tôi bèn gọi họ là người của lòng mộ đạo, Đức Phật đã cho họ niềm tin để tử tế cả một đời, tử tế từ trong trứng đến khi lìa đời. Tôi nói ngay lúc đó và đến giờ tôi vẫn muốn nói: ở Việt Nam, các chủ quán cơm hầu hết đều chua ngoa. Tôi chưa gặp một người nào ở thành phố nào trên đất Việt, để khi tôi đỗ xe ở quán của họ, thậm chí trước nhà của họ mà họ lại không đuổi như đuổi tà. Dẫu có người, nhà họ chẳng kinh doanh mặt tiền gì cả. Dường như họ cho mình cái quyền được đuổi, đuổi trong hoàn cảnh đó là người được tiếng hiểu biết, oai oách hoặc yêu công lý (?). Càng ngẫm nỗi chua xót càng dậy lên.
Lại nhớ chuyện Tây Tạng. Tôi đã thẫn thờ nhìn anh bạn mới quen, khi anh tách khỏi đoàn người kìn kìn đi bộ suốt ngày đêm quanh tu viện cao nhất thế giới để cầu nguyện liên tục. Tu viện Potala, di sản văn hóa của nhân loại, nơi có tới 1.000 phòng và cao tới 137 tầng, nơi được xem là linh thiêng nhất nóc nhà thế giới. Họ cứ đi xuyên ngày xuyên đêm, cứ ngưỡng vọng lên các vị thần linh, bất chấp mình ăn mặc thế nào, đói khát thế nào, bất chấp ống kính soi mói của những du khách như tôi. Niềm tin mãnh liệt khiến họ thấy cái gì ngoài niềm tin kia cũng nhỏ bé và… nực cười. Anh bạn người Tạng mới quen của tôi dừng lại. Anh đến từ Segatse, cách Potala gần 300km, qua những đỉnh đèo cao nhất thế giới, nơi triệu triệu năm qua và đến tận bây giờ lúc nào cũng trắng xóa tuyết. Vì chặng dài và nhiều năm ngũ thể nhập địa nên trán anh vồng lên, u bướu và xám xịt với các vệt sẹo, vệt chai sần đen thẫm, quần áo anh rách bươm tơ tướp. Như những người khác, bụng anh chàng ấp một tấm da cừu, da ngựa còn cả lông lá đã sờn rách vì mài xuống núi, xuống gạch đá dọc đường đi không biết bao nhiêu lần. Hai tay họ có khi được “đơn giản hóa thủ tục” ngũ thể nhập địa một chút bằng cách đeo hai cái guốc mộc có quai da để khi “nhập” đánh cộp một cái đủ “ngũ thể” xuống đất thì hai bàn tay là nơi chịu lực chính nó sẽ không chảy máu. Cả xứ sở Tây Tạng, từ bờ hồ, ven đường quốc lộ, dọc các đỉnh đèo cao nhất quả đất, nơi nào cũng tràn ngập đồ tín ngưỡng, có khi là cờ phướn xanh đỏ bạt ngàn, ở đó chứa triệu triệu câu mật chú người ta muốn nhờ gió kiêu hãnh mang lên trời xanh. Có khi đó là da lừa, da ngựa, lông thú, đầu xương sọ súc vật được trưng bày để cầu nguyện. Có khi là các gò đá xếp cao chất ngất (gọi là manidoi) (Ấy là chưa kể tới 1.600 tu viện và chùa chiền) Nơi nào cũng có tượng Phật, có các chuyển luân chung quay đều, quay từ tu viện, chùa chiền, đến mỗi người hành hương đều liên tục quay một chuông chuyển kinh vù vù trên tay.
Khó có ai đến đây mà không phải sửng sốt trước lòng mộ đạo vô biên của người Tạng. Nhiều người còn giật mình tỉnh ngộ khi thấy mình quá vô đạo và bao năm tuổi đời đã qua, mình đã hành xử quá xôi thịt. Sử sách còn chép rõ, vị Thánh tăng Hư Vân (1840-1959) đã thực hiện chuyến hành hương về thánh địa theo quy cách Tam bộ nhất bái rồi ngũ thể nhập địa từ Phổ Đà Sơn về Ngũ Hành Sơn, với chiều dài 2.500km, kéo suốt nhiều năm trời. Xin hãy đọc lại những gì mà cuốn “Con đường mây trắng” (của tác giả Anagarika Govinda, người Đức, một người đã bỏ nhiều năm nghiên cứu và tập tu với các đạo sư nổi tiếng ở Tây Tạng) đã diễn tả lại. Bản dịch của Nguyễn Tường Bách (NXB Trẻ năm 2009) viết: Người hành hương đến núi Ngân Sơn, giữa đỉnh trời mây và tuyết trắng linh thiêng bậc nhất Tây Tạng. Và, “(…) họ lên đường mà không có gì bảo vệ chống lại mưa gió và không ngại cả chết đói hay chết cóng, những người đó đáng cho ta khâm phục. Họ không ngại sống chết, cướp bóc hay đói khát vì họ biết cách tự thể nhập mình thống nhất với sức mạnh thần thánh của vũ trụ. Nhiều người hành hương như thế đã không bao giờ trở lại quê hương mình; thế nhưng ai trở về, người đó đã là sự minh chứng lòng nhiệt thành cao nhất và niềm tin kiên định nhất. Họ trở về với ánh mắt long lanh, tâm hồn được làm giàu bằng một sự chứng thực mà suốt đời họ sẽ là nguồn năng lực và cảm khái, vì họ đã đối diện với cái vô cùng và đã tận mắt nhìn xứ sở của thánh thần”. “Giờ đây khách không cần ai bảo vệ, vì mình vừa là rồng, vừa là kẻ cưỡi rồng, là kẻ cúng tế vừa là vật tế lễ, là ma quái vừa là thượng đế. Và khi người hành hương cúi đầu cho trán đụng đất thiêng và ném vài viên đá vào nơi mà những người đi trước đã ném vào thành đống để nói lên lòng biết ơn và niềm vui mừng thì niềm mơ ước của mình nay đã thành sự thực. Khách nhắc lại trong tâm như lời cầu nguyện: “Mong sao tôi đừng quên phút giây này. Mong sao nó hiện diện mãi trong tôi”.
Trước niềm tin cháy bỏng, lòng mộ đạo vô biên đó, đúng là mắt người hành hương đã long lanh, họ đã có nguồn năng lực và cảm khái vĩ đại vì được tận mắt nhìn thấy cái vô vùng, đã đến được xứ sở của thánh thần. Cái chết với họ cũng không còn đáng sợ nữa. Giữa cái vô cùng, giữa không gian linh thiêng và niềm tin thần thánh đó, họ sống bằng niềm tin vào một đấng quyền năng nhiệm màu chi phối toàn bộ cõi sống, cả quá khứ hiện tại và tương lai của họ. Ở họ, không có lời nói dối, không có việc làm vô đạo. Và, họ nói với tôi, rằng: cái việc niềm tin thánh thiện vào quyền lực vô song của Đấng Tối Cao kia đã là cái lý do để người ta luôn luôn sống đẹp. Dù chết vẫn sống đẹp. Tôi nghĩ, với họ và với nhiều người, sống đẹp cũng đã là một tôn giáo. Nói khác đi, từ niềm tin tôn giáo đến một lối sống đẹp và nhân ái như đã viết ở trên, là một con đường đáng để suy ngẫm và cảm khái nhất. Giá mà ai cũng có một Đức Phật trong tâm. Giá mà lòng mộ đạo kia cứu rỗi được nhiều phận người khỏi tham sân si hơn.
(Viết đến đây, tự dưng tôi nhớ đến một số người sống vô vị dẵm lên người khác đế sống mà tôi có quen biết, vì công việc nên đôi lúc có giao du. Ví dụ như một anh cán bộ phòng quản lý nhà đất cấp quận. Từ ngày làm viên chức đến khi gần về hưu, “sáng cắp ô đi, tối cắp về”, anh ta chỉ làm một việc và nghĩ hầu như chỉ một điều. Đó là xét duyệt hồ sơ nhà đất, rồi nghĩ xem phải “ăn” bao nhiêu tiền vụ này, ăn bằng cách nào cho kín kẽ, nói bóng gió hay dùng quy định “hành là chính” thế nào để họ hiểu và “nôn” tiền, quà ra. Có lần tôi bảo, đất và nhà của người ta, người ta làm hồ sơ để nhà nước cấp giấy chứng nhận nhằm phục vụ việc nhà nước quản lý cái đất đó. Anh là công bộc của dân, nhà nước giao cho anh thực thi công việc này. Lẽ ra anh phải cảm ơn, tưởng thưởng cho người có ý thức giúp cơ quan công quyền làm “chứng chỉ” để quản lý họ được quy củ và dễ dàng hơn chứ. Anh ta cười nhạt: việc dễ mà không làm cho nó khó, thì làm gì có thị chó mà ăn! Anh ta liên tục nghĩ đến tiền, từ tiền đút lót, đến tiền bôi trơn, dù cả anh ta và người đem tiền đến chẳng ai nói thẳng ra điều đó. Mà họ nói những cái khá cao siêu, vòng vo tam quốc. Khi có nhiều tiền rồi, anh ta mở quán kinh doanh karoke, nghĩ cách ăn chơi và lo lót hoặc nịnh người hoặc hại người để thăng tiến… Tự dưng, khi ở nóc nhà thế giới Tây Tạng, khi đằm mình trong không gian đầy những cái chắp tay và lời cảm ơn dịu dàng của những người suốt đời sống mộ đạo và tràn ngập lòng vị tha ở Thái, ở Lào, tôi hay nhớ đến anh bạn làm cán bộ nhà đất và nhiều người tương tự khác. Tôi không dám chắc ở nơi mệnh danh là “miền đất của những nụ cười” kia không còn tồn tại những gã như chàng quản lý nhà đất bạn tôi. Nhưng, tôi vẫn hằng ao ước, giá mà có chút Đạo trong người anh chị ta (và không ít người tương tự), giá mà có một ngày họ giác ngộ để thoát khỏi cơn mê đắm vật chất bằng con đường bỉ ổi để có thể đến với những xúc cảm, lý lẽ và niềm tin đáng ngưỡng vọng nhất của nhân gian này…).
Đ.D.H
Kèm chùm ảnh về lòng mộ đạo ở Luang Pra Băng, Thái Lan, Myanmar và Tây Tạng.
Saturday, December 10, 2011 2:00:53 PM
“Thế giới niềm tin” khó lý giải ở danh thắng Hồ Ba Bể:
Chụp được ảnh “rồng trắng rắn đỏ” và những chuyện kỳ bí khác
Tác giả: Trần Diệu Diệu
Bức ảnh được xem là "long xà hội ngộ" mà GĐ VQG Ba Bể đang nâng niu gìn giữ với niềm tin tâm linh đắm đuối. Ảnh do tác giả ATĐ chụp. Tình cờ, ATĐ chính là anh bạn tử tế đang đi cái xe oto mà tôi từng sử dụng trong nhiều năm, với biết bao kỷ niệm thăng trầm.
“… Xem các bức ảnh, đúng là rất lạ. Hình màu trắng có gân, có vảy, có râu, có sống lưng và các phần cơ thể vừa nhô lên trên mặt nước vừa mờ ảo trong làn nước xanh, rất giống những gì mà loài người vẫn thường biết về con “rồng trắng” (bạch long) đang vờn với một con rắn lạ. Con rắn thì rõ ràng. Nó được chụp nét căng, ở tư thế thò lưỡi đầy hứng chí. Con rắn khổng lồ, qua kiểm tra, không có trong danh mục các loài vật phân bố ở Vườn Quốc gia Ba Bể, chưa một ai từng nhìn thấy cá thể rắn đỏ tía bơi dưới mặt hồ mênh mông tương tự. Giám đốc Diễn thì tin rằng “long xà hội ngộ”, rồng thiêng và rắn thần cùng về với miền đất lành lẽ, quyến rũ, miền tâm linh sâu thẳm Ba Bể”.
BOX: Hồ Ba Bể rộng rộng 3km, dài 8km, nằm trên ở huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Cạn. Tuy diện tích không phải là quá rộng, nhưng là hệ thống liên thông hồ hoàn toàn tự nhiên, lại treo trên miền đá vôi khổng lồ với niên đại hơn 450 triệu năm mà không bao giờ cạn nước, vì thế Hồ Ba Bể được coi là “viên ngọc xanh treo trên núi đá”, là thắng cảnh nổi tiếng khắp Việt Nam nói riêng và ra cả thế giới. Năm 1995, tại Mỹ, Ba Bể được các nhà khoa học tôn vinh là một trong 100 hồ nước ngọt tự nhiên lớn nhất thế giới, một trong 20 hồ nước ngọt cần được bảo vệ đặc biệt trên toàn cầu. Không chỉ là vườn quốc gia của Việt Nam, được vinh danh là Vườn di sản ASEAN năm 2004, từ năm 2010, được nằm trong danh sách “Các vùng đất ngập nước có tầm quan trọng toàn cầu” (theo công ước Ramsar), hồ Ba Bể còn là một miền đất tâm linh bí ẩn.
Những câu chuyện thực thực hư hư hoặc có thực mà cứ ngỡ hư ảo sau đây sẽ cho chúng ta thêm cảm xúc về một Ba Bể kỳ bí, quyến rũ, với nhiều lớp lang văn hóa lịch sử đáng để cùng trải nghiệm, suy ngẫm; đồng thời đó cũng cũng là lời nhắc nhở: xin đừng xâm phạm chút gì, dù là mảy may đến kho báu thiên nhiên, văn hóa, lịch sử quý báu núi và hồ Ba Bể.
Trò chuyện với người cắt nhũ đá bị “thần linh nhắc nhở”
Ba Bể từng được nhiều người biết dến với bao chuyện người thật việc thật, ngay cả khi nó đã diễn ra và kết thúc trong sự chứng kiến của nhiều người thì vẫn không ai lý giải được sao mà lại “mơ hồ huyền hoặc” đến vậy. Ví dụ một cán bộ vũ trang làm việc ở khu vực hồ chưa bao giờ biết bơi, tự dưng hôm ấy chàng như kẻ mộng du cứ thế bơi xuyên qua hồ, ngoi lên mặt bờ đá phía bên kia, lúc “tỉnh dậy”, anh ta lại hiện nguyên hình là chàng trai chưa bao giờ biết bơi. Bơi qua cái hồ rộng, sâu 40m và tĩnh lặng tuyệt đối như Ba Bể là điều cực khó với cả dân thuyền chài, chứ nói gì gã công tử bột chưa bao giờ tắm sông kia - ai nghe chuyện cũng sửng sốt. Có khi một cán bộ cơ sở vào hang Hua Mạ linh thiêng thấy lâm tặc cắt một một khúc nhũ đá cực đẹp đang khênh về, lập tức anh này bắt giữ. Rồi khi xử lý, tiếc của, chàng bèn đem công trình tạo tác tuyệt mỹ của thiên nhiên ấy về trưng bày khu tập thể mình đang ở. Ai dè, ít ngày sau cậu ta phát “điên”, nói cười khóc lóc mất kiểm soát vô hạn độ, khi thầy tào (thầy cúng) “đọc vị” được vấn đề, yêu cầu anh ta đem trả thần núi vật thiêng kia. Rất bất ngờ: anh chàng “ngơ ngẩn” sau khi chữa chạy đủ các bệnh viện cấp tỉnh và trung ương không ai tìm ra bệnh gì, chữa mãi không khỏi; song anh ta vừa khiêng đá vào hang, hôm sau khỏi tiệt bệnh. Còn gã trai 22 tuổi trực tiếp cắt nhũ đá thì bị tai nạn xe máy sau đó ít ngày.
Sau đây là câu chuyện Giám đốc Vườn Quốc gia Ba Bể, anh Nông Thế Diễn trò chuyện với anh chàng D., nhân viên của anh, người cả gan khênh nhũ đá ở hang Hua Mạ về nhà rồi “phát bệnh” đó. Cuộc trao đổi này có PV TTĐS trực tiếp nghe và ghi nhận:
- Giám đốc Nông Thế Diễn: D. à, vụ em lấy nhũ đá trong hang Hua Mạ, sau đó suốt một tháng bị bệnh không còn nhận ra mình là ai nữa, bây giờ anh nghĩ vẫn không hiểu làm sao.
-Vâng. Nhũ đá rất đẹp bọn khác nó cắt từ hang Hua Mạ rồi khiêng mang xuống. Khi phát hiện, em bắt nó kê lại trả vào hang, nó không khênh trả vào hang lại còn dọa đánh em. Nên em đã khênh về, dọn để trong góc phòng, sau này em cho vào cái hộp bọc giấy cất ở đằng sau cái giàn mướp của khu làm việc. Sau này em phát bệnh, chữa mãi không khỏi, đi xem bói, thầy người ta bảo cái này của hang đá, không nên mang về nhà. Mang về là bị “điên” thì chớ trách ai. Và, em đã đem nhũ đá đó lên trả vào tận trong hang ấy để trả lại... Em nhớ em mang vào đặt lại vào chỗ bãi bằng ở trong hang Hua Mạ ấy. Chỗ ấy giờ ta cắm điện vào để lấy ánh sáng phục vụ du khách thăm hang nữa mà. Đem cả hộp giấy có chứa nhũ đá nguyên xi vào hang mà. Để trong góc sau đó đi về. Và khỏi bệnh.
-Giám đốc Nông Thế Diễn: Có thật là lúc bị bệnh, em không còn nhớ gì nữa, không biết mình là ai không?
- Lúc bị rồi thì là em chẳng nhớ gì đâu mà. Đúng là trả lại nhũ đá vào hang xong là em đã trở lại bình thường. Em sợ quá, đem nguyên đai nguyên kiện cả cái vỏ hộp đựng nước khoáng Lavie bọc bên ngoài ngọn nhũ đá lên Hua Mạ trả cơ mà. Đi xem bói xong người ta bảo là vì cái hộp này nên em mới bị “ngơ ngẩn” chứ. Cậu trực tiếp cắt nhũ đá đã đã bị tai nạn xe máy chết rồi, chết ngay từ gần tết năm ấy. Cậu ta tông xe máy đâm vào một hòn đá. Cậu ấy nhà ở Lẻo Keo. Nhớ mãi, hôm em bắt và tịch thu nhũ đá của nó, nó còn định đánh em mà. Cả tối hôm ấy nó còn quây và dọa dẫm em mà. Cậu ấy chết lúc 22 tuổi gì đó.
Đem kiếm báu trả lại cho cho hang núi thì cảnh nhà hết lao đao
Lại có người vào núi lấy ra một thanh kiếm cổ, về nhà suốt mấy tháng gia đình lục đục, làm gì cũng đổ, vỡ hỏng hóc, thậm chí súc vật còn chết chóc hàng loạt không tài nào lý giải nổi nguyên nhân, ông ta phải kính cẩn đem trả kiếm báu cho “sơn thần”. Ông Điền, nhà ở bản Nàn, ngay gần đường vào trụ sở Vườn, năm nay đã ngoài 70 tuổi, người cao tới hơn 1,7m - là một thợ săn lão luyện, ông từng đi lính cho Pháp nên cũng hơi “vô thần”. Cậy mình có sức khỏe, lại tinh thông đường rừng núi, ông toàn đi săn một mình. Một hôm, đi sâu vào các khe núi hẹp, ông Điền bắt gặp những bệ đá đẹp và nhẵn, trên đó có một thanh kiếm cũ ghỉ. Trông thấy cổ kính, lạ lẫm, ông Điền nhặt thanh kiếm về giấu trong nhà.
Song, quả thực từ khi nhà có thêm thanh kiếm, vợ chồng ông liên tục cãi nhau. Cãi nhau chí chết rồi vẫn không biết vì sao lại nổi nóng rồi nói năng văng mạng với người mình “đầu ấp tay kề” hơn nửa thế kỷ như vậy đẻ với nhau cả một đàn con cái. Rồi làm ăn liên tục thất bát, bao nhiêu dự định, cứ triển khai là thất bại. Đến con vật nuôi rất cẩn thận cũng thi nhau bị bệnh dịch. Toàn chuyện chẳng đâu vào đâu và chưa bao giờ diễn ra. Đi hỏi thầy tào (như thầy cúng dưới xuôi) thì thầy bảo: muốn sống hãy đem kiếm trả lại cho sơn thần. Ông Điền mới tái mặt, sao “thằng” này nó biết mình lấy trộm kiếm? Chuyện ấy đến ông Điền cũng chẳng còn nhớ nữa. À, hình như trước đây mình có lấy một thanh kiếm ghỉ ném dưới gậm giường. Ông đem kiếm vào núi, tìm bằng được khu vực xa xôi giữa đại ngàn đó mà trả. Từ bấy, bao nhiêu hiềm khích, vỡ đổ, thất bát, cãi vã cùng tiêu tán.
Đấy là chưa kể, nhiều đêm, anh Thiện, người trông đền An Mạ ngoài đảo giữa hồ Ba Bể vẫn thường trông thấy rắn hổ mang chúa to như bắp đùi, trông thì có vẻ cực kỳ hung dữ, rắn lớn trườn vào khuôn viên đền (bà con gọi là “rắn thần”). Lúc đầu anh Thiện định bỏ chạy, sau thấy rắn rất hiền, nhiều đêm rắn chờn vờn chơi với đàn chó mà anh Thiện nuôi giữ để canh đền. Khi khởi công trùng tu An Mạ, có nhiều vạn con cá nhỏ xíu cùng nổi lên mặt nước tụ cả về khu vực đền, con nào cũng tróc hết vảy, lập lờ trên mặt nước, chúng chầu cả về hòn đảo có công trình tín ngưỡng. Có khi nước hồ đỏ đòng đọc hàng cây số mặt hồ kéo từ Ao Tiên (rộng 1,2ha) ra chùa An Mạ. Nhưng suốt mấy chục năm qua, dòng nước đỏ chưa bao giờ vượt qua khu vực hồ ở gần hòn đảo có ngôi đền An Mạ..
Giám đốc Vườn Quốc gia Ba Bể, anh Nông Thế Diễn là người gốc Trùng Khánh, Cao Bằng. Anh đã 20 năm gắn bó hầu như liên tục với hồ Ba Bể. Từ lâu anh đã nghe các cụ kể về những sự tích, những câu chuyện tâm linh huyền bí và hùng thiêng của miền núi rừng và hồ nước tuyệt đẹp này. Tiếng Tày còn gọi Ba Bể là Pé Tiên, tức là hồ đẹp như tiên, hồ của thế giới tiên, thánh, phật; chứ chẳng của riêng gì người trần mắt thịt. Theo sự tích Hồ Ba Bể, thì đền An Mạ là nơi thờ vua Thủy Tề, thờ sơn thần thổ địa, thờ tất cả những người chết vì đại hồng thủy sinh ra thảm họa. Sau khi mặt đất sụt xuống, một cuộc tạo sơn mới ra đời, đảo Bà Góa và các thắng cảnh hồ treo trên núi đá hôm nay đồng loạt xuất hiện. Thế gian bấy giờ chỉ còn vài người sống sót, họ trở về và gom thi thể rất nhiều người xấu số vào chôn chung, thờ chung ở An Mạ (an mạ tức là mồ yên mả đẹp).
Từ những “ký ức” kia, cho nên, vừa qua, chuyện chụp được bức ảnh rất giống hình “rồng trắng” đang vờn nước hồ Tiên cùng con rắn lớn đỏ tía dù rất tò mò và thú vị, song giám đốc Diễn và các thuộc cấp của anh không ai tỏ ra quá ngạc nhiên.
“Rồng trắng” đã hiện hình trong khoảnh khắc?
Chuyện là thế này: vừa rồi, một bức ảnh được xem là kỳ lạ đã được anh T., một phóng viên nổi tiếng của tờ báo ảnh nọ tình cờ ghi lại. Theo anh Diễn và nhiều người thì rất có thể đó là khoảnh khắc một con rắn lớn kỳ bí chưa ai từng gặp đang bơi trên mặt hồ xanh thắm cùng… linh vật “rồng trắng” (bạch long). Long xà hội ngộ. Rồng thiêng đã bước từ huyền tích Ba Bể ra đời thực ư?
Anh Diễn nhớ rõ, và chúng tôi kiểm tra thông tin qua nhà báo T. thì câu chuyện cũng trùng khít, như sau: anh T. cùng vài đồng nghiệp cùng cơ quan hôm ấy mang theo một hệ thống máy ảnh khá hiện đại lên chụp một chuyên đề về các góc độ của di sản thiên nhiên nổi tiếng hồ Ba Bể. Anh ta ở với Vườn 10 ngày, lang thang khắp ngóc ngách để chụp. Một lần đi thuyền trên hồ, bỗng anh Thắng, một cán bộ Vườn và phóng viên T. cùng nhìn thấy một con rắn rất lớn, rắn màu tía pha tím và đỏ. Nó bơi rất mạnh mẽ, lưỡi rắn thè ra khá… vui vẻ (xem ảnh 1). Bên cạnh rắn có một khối hình màu trắng, rắn bơi trên hệ thống hình rất giống con “rồng trắng” đó. Nếu hình đó là rồng, thì rõ ràng rắn cưỡi lưng rồng, rồng rắn cùng vờn trên hồ nước xanh: long xà hội ngộ.
Anh Diễn và nhiều chuyên gia đã phân tích: con rắn to bơi trên nước rõ ràng không phải là rắn hang, loài rắn khá phổ biến trong các hang đá vôi nổi tiếng của Ba Bể như động Hua Mạ, Động Puông (xem ảnh rắn hang kèm theo). Rắn hang nhỏ, đầu đỏ và rất ngắn, vả lại rắn hang thì chủ yếu ở hang, chưa một ai từng gặp nó bơi ra ngoài hồ mênh mông như Ba Bể bao giờ. Anh Giám đốc kỳ công dở lại sách vở, tài liệu khoa học ghi chép “danh mục” các loài động thực vật từng được ghi nhận ở Vườn quốc gia Ba Bể, cũng không thấy “văn sách” nào từng biết đến loài rắn với các cá thể rắn to lớn tương tự mà nhà báo T. đã chụp. Đặc biệt là hình rồng, Nông Thế Diễn, với niềm tin tâm linh đắm đuối của mình, anh có thể ngồi cả tiếng đồng hồ phân tích bức ảnh ở từng góc độ room (cận cảnh) và toàn cảnh. Đây là đầu rồng. Anh cứ nhìn đi, cứ nhìn khắc thấy, chứ tôi không nói thêm. Rồi vảy rồng, râu rồng, lưng rồng có từng sợi gân nổi lên như gợn sóng, phần thân rồng chìm trong làn nước vẫn nhìn thấy lấp lánh.
Hôm ấy cùng nhà nhiếp ảnh T. còn có ông Thắng kiểm lâm Vườn. Đang đi trên mặt hồ bao la, nước xanh thăm thẳm, chợt họ sững sờ khi nhìn thấy con rắn bơi dưới nước, tất cả cùng ngoái lại. Nhà báo T. nhanh tay chụp lại. Máy của T. hiện đại cứ chụp liên thanh, liền tì tằng. Khi về trụ sở Vườn gặp nhau, ăn tối xong, hai anh em mang ảnh ra cho nhau xem (Nông Thế Diễn cũng là người thích chụp ảnh). Nhà báo “đổ” toàn bộ ảnh vào ổ cứng mà chưa kịp phát hiện ra mình chụp được ảnh rồng trắng. Giám đốc Diễn xem kỹ, chợt giật mình phát hiện ra “hình rồng”. “Tôi mới bảo, T. này: có hình rồng trắng. T. quay ra xem và bảo: “Em bất ngờ quá. Lúc ấy chỉ thấy lấp lóa rồi bấm bừa kẻo khoảnh khắc đẹp trôi đi mất”.
Xem các bức ảnh, đúng là rất lạ. Hình màu trắng có gân, có vảy, có râu, có sống lưng và các phần cơ thể vừa nhô lên trên mặt nước vừa mờ ảo trong làn nước xanh, rất giống những gì mà loài người vẫn thường biết về con “rồng trắng” (bạch long) đang vờn với một con rắn lạ. Con rắn thì rõ ràng. Nó được chụp nét căng, ở tư thế thò lưỡi đầy hứng chí. Chuyện này chắc chắn không ai còn nghi ngờ. Vấn đề là hình rồng có thật không? Ai cũng biết rồng là con vật tưởng tượng trong tâm thức của người ta. Ai cũng biết hình sóng nước hoặc các khúc xạ do ánh sáng là khá phổ biến. Tuy nhiên, nói như thế thì… còn gì để mà nói nữa. Nói thế thì bức ảnh nổi tiếng chụp 8 con rồng chầu về Đền Đô “Bát đế vân du” (Đình Bảng, Bắc Ninh) cũng chẳng qua là đám mây nó hợp tan các hình khối ngẫu nhiên mà thành (!?). Vấn đề là có sự siêu nhiên nào điều khiển mây, sóng nước để tạo ra những cái hình thù được xem là kỳ lạ kia không? Tại sao nó lại là hình rồng, hình rắn mà không lại là hình khác? Niềm tin của ông Diễn và nhiều người am hiểu về đất thiêng Ba Bể không phải là không có cơ sở. Tuy nhiên, dù thế nào thì “miền tâm linh” kể trên cũng chỉ làm cho Ba Bể thêm chiều sâu văn hóa, lịch sử và tín ngưỡng.
Có phải chỉ là ngẫu nhiên và tưởng tượng?
Thật ra thì cũng không khó lý giải lắm với các hiện tượng mà người yêu mến, gắn bó với Ba Bể như bà con, cán bộ cơ sở từng quan sát ghi nhận kiểu như trên. Rõ ràng không có ai cố tình bịa tạc ra điều gì cả. Bởi như đã phân tích: địa hình kaster, núi đá vôi chon von, các dòng sông ngầm thông nhau giữa các hồ và các dãy núi, nên hiện tượng thiên nhiên khi xảy đến bao giờ cũng bất ngờ với nhận thức của người bình thường. Việc Ao Tiên tròn xoe rộng tới 1,2ha. Nó tròn đến mức cứ ngỡ phải có bàn tay tạo tác và cung cấp nuôi dưỡng nguồn nước của của ai đó thì mới tuyệt mỹ, suốt đời ăm ắp nước giữa bốn bề núi đá vôi chót vót khô cằn thế được. Sự thật, Ao Tiên thông ra Hồ Ba Bể bằng một hoặc nhiều “cửa cống” ngầm dưới đáy hồ, điều này không có gì đáng ngạc nhiên dưới sự soi rọi của ánh áng khoa học. Việc tảo đỏ xuất hiện và lan cái màu đỏ rực rỡ của mình ngược với dòng chảy của nước suối ra sông Năng rồi kết thúc màu đỏ ở quả núi (đảo) có đền An Mã cũng có thể lý giải được. Bằng chứng là các nhà khoa học đã vào cuộc và gọi tên màu đó “thần thánh” kia là “tảo đỏ”. Còn những ngẫu nhiên kiểu như cắt nhũ đá về bị “điên”, gặp tai nạn, rủi ro chết người; lấy kiếm cổ trong vách núi bí ẩn rồi gia đình lục đục; hoặc người trông đền gặp rắn lớn, thậm chí rắn có mào như nhiều nơi vẫn kể…, cũng không phải quá khó gặp trong tiềm thức dân gian, trong sự sùng bái “vạn vật hữu linh” trong tôn vinh các di tích, đền miếu cổ của người Việt Nam. Chuyện này không chỉ diễn ra ở Ba Bể, mà nó là một mô-típ khá quen thuộc.
Anh Toàn, người quản lý du lịch của Vườn Quốc gia Ba Bể cũng có phân tích tương tự cho những câu chuyện kể trên. Ví dụ: do cơ chế bảo vệ chưa chặt chẽ, người dân hám lợi hoặc thiếu ý thức vào hang cắt nhũ đá về là khá phổ biến. Những người cắt nhũ đá, lấy kiếm cổ, họ đã “ra tay” rồi sau đó họ cứ lo lắng, họ quan sát mình và những người xung quanh xem có ai bị ứng báo gì không. Cứ quan sát một tháng, một năm, rồi cả đời, thì kiểu gì chả ghi nhận vài cái rủi ro. Nhất là khi mà xe máy tràn lan phố núi, thanh niên đi ẩu, tai nạn cũng lại là điều không khó hiểu (dù rất đau lòng). Chuyện ông già cãi nhau với vợ, chuyện gà lợn bị bệnh, hay anh nào đó tự dưng bị chứng bệnh nhớ nhớ quên quên, đi chữa trị một thời gian rồi khỏi - thì có gì đáng ngạc nhiên nào? Hiếm có ông thầy tào nào gặp “khách” mà không hỏi có xâm hại chốn linh thiêng nào không, có báng bổ thần thánh không, có lấy cái gì từ nơi thờ tự không, nhà có gần mồ mà, tháng trước đến giờ nằm ngủ có mơ… không? Và cứ thế ông thầy vin vào lời “tự thú” của vị khách “xem bói” kia rồi bảo rằng cần phải khắc phục sai lầm. Khi khắc phục hậu quả, những người bị “thánh vật” tự nghĩ là mình đã được giải thoát và tự khỏi bệnh, bệnh sẽ khỏi hoặc thuyên giảm thật. Đấy là chưa kể quá trình điều trị ở Bắc Cạn, ở Thái Nguyên (như đã kể), anh D. đã uống rất nhiều thuốc bệnh và thuốc bổ, rồi đến lúc cõng nhũ đá vào hang xong thì thuốc mới ngấm rồi khỏi.
Động Hua Mạ mới được đưa vào khai thác du lịch. Trước đó, cả đoàn thám hiểm của Vườn mở đường, dọn lối đón du khách có khi phải buộc dây thừng, treo mình trên vách núi cao 8m mới vào được hang. Lời đồn về sự linh thiêng của di sản hang đá tuyệt đẹp này đã có từ lâu. Tốt nhất, với “đạo quỷ thần kính nhi viễn chi”, hãy coi Hua Mạ là điểm tham quan cần nâng niu bảo vệ. “Bạn không mang cá gì ra khỏi rừng/ trừ những tấm ảnh đẹp/ bạn không để lại trong rừng cái gì/ trừ dấu chân của bạn”, khẩu hiệu thú vị và bổ ích này đã được treo ở rất nhiêu khu rừng đặc dụng, rừng bảo tồn như Ba Bể. Cớ sao ta không làm theo lời khuyến đó, theo Luật Bảo vệ và Phát triển rừng của Nhà nước, mà phải chờ đến “ứng báo” của “thần linh” thì mới biết ứng xử như cần phải có với không gian quý báu như Ba Bể? Ta trân trọng những gì thiên nhiên tạo tác, không báng bổ thế giới tâm linh sau thẳm ở khu vực mình có mặt, dù là trong lời nói và hành động, thì làm gì có chuyện “tai tiếng” đồn thổi như kiểu anh chàng D., rồi ông Điền? Đúng là bây giờ người ta có đặt một bát hương ở trong hang Hua Mạ thật.
Chưa chắc đã là ngẫu nhiên và tưởng tượng. Chỉ biết, Ba Bể sẽ quyến rũ hơn nhờ “thế giới tâm linh” lành lẽ. Sự thật không thể chối cãi là tất cả những người nghe đồn bị “quả báo” đã kể ở trên, họ đều bằng cách này hay cách khác xuống tay xâm hại di sản. Đó là một sai lầm từ góc độ bảo vệ môi trường và cả góc độ văn hóa ứng xử khi đến với thiên nhiên hoang dã nữa./.
Bài 1 kèm các ảnh sau:
A, a1 và a2: Hình ảnh “rồng trắng rắn đỏ” kỳ bí trên hồ Ba Bể do nhà báo T. chụp, hiện tại ông Diễn đang lưu giữ.
B: Con rắn hang được tìm thấy và chụp ở Động Puông, Ba Bể.
C: Đền An Mạ, nơi được xem là trung tâm của những câu chuyện “linh thiêng”.
D: Thác Đầu Đẳng ở Ba Bể, nơi xảy ra rất nhiều cái chết thương tâm, du khách cần thận trọng trước sự trơn trượt của lối đi.
Monday, November 28, 2011 11:01:37 PM
Cuộc gặp gỡ của PV Tuổi trẻ Đời sống với Lê Văn Luyện, “sát thủ máu lạnh” trong vụ thảm sát cướp tiệm vàng Ngọc Bích ở Bắc Giang:
Lê Văn Luyện tự nhận mức án tử hình !
(tiếp theo và hết)
Kết luận điều tra của Công an tỉnh Bắc Giang đã được công bố, phiên tòa xét xử Lê Văn Luyện và các đối tượng liên quan dự kiến sẽ diễn ra trong ít ngày tới. Khi mà dư luận không còn lăn tăn gì về hầu hết các chi tiết xung quanh hành trình tội ác man rợ không thể tưởng tượng nổi của Lê Văn Luyện nữa, thì những trăn trở về một bản án sao cho xứng tầm với tên tội phạm chưa từng có này bắt đầu dấy lên. Luật sư nói với báo chí, theo đúng quy định sẵn có, thì Luyện có thể sẽ không bị kết án tử hình như mong muốn loại bỏ “thú độc mang gương mặt người” ra khỏi thế gian này của nhiều người. Bởi khi bắt tay vào vụ thảm sát, Luyện chưa đầy 18 tuổi.
Ta thử phỏng vấn 1.000 người ở khắp Việt Nam, xem Luyện nên nhận mức án gì?
Thành thử, khi nghe Luyện tự nhận bản án tử hình (“cháu đáng tội chết”, thậm chí ngay khi vừa bị bắt, Luyện đã quả quyết “các chú bắn cháu đi”) cho mình, chúng tôi đã cảm thấy ớn lạnh rồi lòng dậy lên một niềm thương cảm trớ trêu. Rằng, tại sao bản án nhẹ tênh (có thể có) cho kẻ chưa đầy 18 tuổi kia lại ra đời. Tại sao người nhận án ấy lại là đứa khét tiếng Lê Văn Luyện? Chúng ta cần thượng tôn luật pháp. Nhưng, không lẽ một kẻ gây tội ác tày trời, kinh thiên động địa như Luyện, mà hắn chỉ nhận mức án nhẹ hều vậy ư? Nếu làm một cuộc điều tra xã hội học, hỏi một nghìn người khắp Việt Nam, xem Luyện nên chịu mức án nào; thì tôi tin, hiếm ai không đồng thuận với giả thiết Luyện sẽ ngồi cầm trịch phiên tòa và Luyện sẽ tự tuyên cho mình mức án tử hình. Có người bảo, luật là luật, đao pháp vô tình, nhưng luật cũng là thứ con người nghĩ ra và thượng tôn nó. Luật có thể sửa hoặc có ngoại lệ chứ.
Phân tích chuyện thảm sát gia đình anh Ngọc, chị Chín để lấy số vàng khổng lồ trị giá 2 tỷ đồng của Luyện thì chúng ta sẽ tìm ra phần nào lời giải cho cuộc tranh luận đang diễn ra ở khắp nhiều nơi, từ vỉa hè đến nơi công sở, từ mặt báo đến những người có ảnh hưởng quan trọng trong thực thi luật pháp hiện nay. Luyện không phải là một cậu bé ngây thơ, càng không là một kẻ nhỡ tay hoặc bị bối cảnh xô đẩy bỗng chốc gây thảm sát. Mà hành động của hắn là một thứ quái đản có tính toán, với đường đi nước bước ghê rợn. Một thứ thảm sầu khốc hại mà chính y cũng thấy rất rõ, chính y cũng đã xin được nhận cái chết để trả giá.
Học hết lớp 9, Luyện lêu lổng, bỏ học vĩnh viễn. Đi làm thợ xây, lang thang bờ bụi hạ đẳng khắp chốn, yêu đương nhăng nhít, ăn chơi thâu đêm suốt sáng, đi khắp nhiều tỉnh thành “giang hồ”. Thậm chí Luyện đi khỏi nhà hàng chục ngày, bố mẹ cũng chả quan tâm hắn đang làm gì ở đâu. Luyện cắm xe Dream của ông chú rể Trương Văn Nhị, lấy 5,5 triệu đồng ăn chơi trác táng. Dọc đường bất phóng bất phú, hắn hứng chí mua một cái điện thoại di động trị giá hơn 1 triệu đồng. Xuống tận Hưng Yên rủ gã thợ xây quen biết đi gặp… gái. Về quê nhưng không về nhà mà đi đánh xóc đĩa, thua gần hết tiền, mới thuê nhà nghỉ để sống và tính kế ăn cướp. Hết tiền thì đi ăn cướp. Mà Luyện ăn cướp có âm mưu “hoàn hảo” hơn cả trong phim hành động Mỹ.
Kế hoạch của Luyện chi tiết hơn phim hành động!
Cơ quan công an kết luận rõ: trước khi đi cướp 4 ngày, Luyện nhờ bạn là Tạ Văn Giang đèo lên thị trấn Chũ, cách nhà y mấy chục cây số để kỳ công mua đủ lệ bộ của “gã đồ tể đáng sợ nhất”, gồm: 1 dao phớ to, sắc lẻm do Trung Quốc sản xuất dài gần 50cm, chuôi và lưỡi dao đều làm bằng thép trắng; 1 ba lô (sau này đựng hết số vàng trị giá gần 2 tỷ), 1 đèn pin. Ngày hôm sau nữa, chưa yên tâm với những vũ khí đó, Luyện đi xe bus về thị trấn Đồi Ngô, mua thêm một con dao nhọn dạng gấp nữa cho… chắc ăn. Khi lang thang tìm “con mồi” để cướp, Luyện đã mất mấy ngày vật vạ, có khi như con chó hoang ngủ trong chợ phố Sàn bẩn thỉu, có khi thuê nhà nghỉ Vàng Anh để ủ mưu độc địa Mất một đêm phục kích, ngủ quên đến sáng ngoài đầu đường xó chợ với đầy đủ dao dựa, không thấy đủ “thiên thời địa lợi” để gây án, Luyện còn chờ thêm một ngày đêm nữa trong nhà nghỉ. Cho đến 3h sáng ngày 24/8/2011, Luyện bắt đầu nương theo cơn giông gió, đột nhập vào tiệm vàng Ngọc Bích… Chưa hết, tấn công gia đình người ta, tính toán cắt cổ từng người (trong đó có cả cháu bé mới 18 tháng tuổi), vơ cả núi tài sản, Luyện vào bếp nhà nạn nhân gọi điện cho ông anh họ là Trương Thanh Hồng đến đón mình chạy trốn. Trong khi chợ đợi Hồng, Luyện tiếp tục đủng đỉnh ra tủ bán hàng của tiệm vàng, lấy một số dây chuyền và nhẫn vàng đút vào túi quần bò hắn đang mặc (bấy giờ nhà nạn nhân không còn ai chưa chết hoặc hôn mê sâu). Và, Luyện còn tỉnh táo đến mức đem tài sản cướp được đi chôn giấu, viết thư dặn dò bố, đem giấy tờ cắm xe gửi ông anh đi chuộc, đem 2 dây chuyền đưa cho ông anh họ, đi băng bó vết thương ở trạm y tế. Rồi mới tẩu thoát ra nước ngoài.
Gã đồ tể quái đản đến từ đâu?
Sự lạnh lùng và bài bản kinh hoàng của Luyện, chứng tỏ y là một gã đồ tể giết hại đồng loại không chút ghê tay. Việc béo lên của Luyện khi ở trong trại, sự thản nhiên của Luyện khi nói về những điều khiến bất cứ ai nghe một lần, đọc một lần cũng mất ăn mất ngủ…, nó là cái gì? Nó là một thứ quái đản. Nó cho thấy, Luyện không phải là một “cậu bé” dưới 18 tuổi như chúng ta vẫn nghĩ nữa. Có người nghiêng về quan điểm đổ lỗi cho game online (trò chơi trực tuyến) với các hành vi bạo lực dễ tiêm nhiễm. Có người hoài nghi hay là Luyện nghiện ma túy rồi bị bao nhiêu thứ cặn bã bờ bụi nó làm cho đầu óc hoang tưởng, giết người không ghê tay. Dù thế nào, Luyện cũng là một quái thai của xã hội, không cần game, chưa cần ma túy, chúng đã quá đủ để quái đản, lạc loài. Và gần đây chúng ta thấy xuất hiện khá nhiều những thảm án giết đồng loại toàn ở mức chưa từng có, không tài nào hình dung được, vì sao như vậy? Xin được đặt lại câu hỏi này một lần nữa, nội trong loạt bài viết mà các bạn đang đọc: chúng ta đã làm gì để “ra lò” những quái thai mà xưa nay chưa từng có, kiểu Lê Văn Luyện, Nguyễn Đức Nghĩa…?
Đại tá Phạm Văn Tám, Cục Cảnh sát hình sự, Bộ Công an, nhà điều tra lão luyện, người trực tiếp tham gia chuyên án đã phải thốt lên, rằng ông bị ám ảnh bởi tội ác dã man kinh khủng của Luyện. Đến bọn giang hồ bất nhất nó cũng không thanh thanh toán nhau như thế. Huống hồ Luyện “xuống tay” với phụ nữ vô tội, với cháu bé 9 tuổi. Cả thiên thần bé 18 tháng tuổi như cháu Thảo, hắn còn cắt cổ. Đại tá Nguyễn Văn Dư, Phó Giám đốc Công an tỉnh Bắc Giang thì không thôi trăn trở về việc có tới 6 người thân, họ hàng của Luyện cùng bị khởi tố. Họ đã đặt tình thương không đúng chỗ, đã để lòng tham tràn lấn làm cho mê lú. Trương Thị Thơm, mẹ của Luyện, khi bị tạm giam cũng thừa nhận “tôi sởn da gà về hành động dã man của kẻ thủ ác” trong vụ cướp tiệm vàng. Thơm chết đứng khi biết đứa giời đánh đó chính là con… của mình. Rồi Thơm ao ước, giá mà mình đừng tham việc để kiên quyết hơn, chăm chút hơn đến việc dạy con để một “quái thai” như Luyện không xuất hiện. Cơ quan công an cũng đã phải xót buốt hạ những lời lẽ đầy cảm thán khi kết luận về hành trình tội ác man rợ chưa từng có của Luyện.
Gã đồ tể quái đản đó đến từ đâu? Thật lòng chúng tôi không tài nào lý giải nổi. Dù thế nào, hắn cũng đã đến và gây tai họa kinh thiên.
Cuộc phỏng vấn của PV Tuổi trẻ Đời sống với sát thủ máu lạnh Lê Văn Luyện tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang:
Lúc giết cả nhà họ, cháu chỉ nghĩ: một là cháu phải chết, hai là tất cả họ phải chết!
Nhiều người ghê rợn không hiểu tại sao Luyện giết người lớn, cướp của rồi, lại còn cắt cổ, giết cả cháu bé 18 tháng tuổi làm gì? Cháu nó có tội gì, có sức kháng cự gì đâu!
- Khi cháu đứng dậy, đi ra. Cháu thấy ông chủ ngồi giữa cầu thang tầng 2 và tầng 3 ấy. Cháu chém thêm một cái vào gáy ông ấy (ông Ngọc chết ngay sau đó). Cháu xuống tầng 2. Thấy đứa bé đang cầm cái điện thoại. Khi thấy cháu, nó chạy trốn, nó hét ầm lên. Cháu chém nó đứt cánh tay đang cầm điện thoại… Cháu cướp cái điện thoại. Nghe xong, không thấy tín hiệu gì, cháu úp máy lại. Còn đứa bé nhất. Lúc cháu đến nó cứ khóc. Cháu bảo nó im, dỗ nó. Nó im lặng một lúc rồi lại khóc to hơn. Cháu dỗ nó mấy câu, bảo “nín đi em” (?). Nó vẫn khóc. Cháu cắt cổ nó…
Luyện nghĩ gì khi chạy trốn?
-Cháu nghĩ, công an bắt được mình thì chết, mình đã giết người, cướp của, giết nhiều người một lúc. Cháu có lỗi với gia đình nạn nhân. Cháu sai rồi. Giết chết 3 - 4 người một lúc.
Gì nữa không?
-Cháu có lỗi với tất cả mọi người?
Thế lúc xuống tay hạ sát những người vô tội, Luyện nghĩ gì không?
-Không ạ.
Phải nghĩ gì chứ? Chẳng lẽ lúc ấy cậu là một cái máy chém người?
-Vâng. Cháu nghĩ một là họ sống, hai là cháu sống. Một là mình chết, hai là người ta phải chết, vì vậy…
Nếu giả dụ gặp chị vợ anh Ngọc, chủ tiệm vàng bây giờ, Luyện sẽ nói gì với chị ấy?
-Không có chuyện gặp được chị ấy nữa đâu.
Nếu cho tự xử án mình, với tội ác ấy, Luyện sẽ cho mình mức án như thế nào?
-Cháu đáng tội chết.
Luyện ước ao điều gì trong phiên tòa sắp tới?
-Xử thế nào là do cơ quan chức năng. Cháu chỉ ước được nhẹ tội, khoan hồng cho gia đình cháu…
Trong phòng biệt giam, cháu đã khóc vì buồn và nhớ người yêu!
Nếu gặp em út, đứa em ruột nhỏ bé mà Luyện (nghe nói) thương yêu nhất, cậu sẽ nói gì với em?
- (Luyện đột ngột im lặng, chớp mắt, cúi gằm như khóc, nói lí nhí rất rất bé)… Em ngoan!
Ai gặp lại Luyện, hoặc xem ảnh Luyện bây giờ, cũng đều có cảm giác Luyện vào trại giam béo lên trông thấy. Luyện cảm thấy mình đã nặng thêm khoảng bao nhiêu kilogam?
-Cháu không cân. Nhưng chắc khoảng 5kg. Béo hơn lúc ở ngoài đời. Có thể vì vào đây không hút thuốc, không chơi bời gì được (như lúc ở bên ngoài).
Tại sao hướng chạy trốn của Luyện lại là sang Trung Quốc?
-Cháu nghĩ sang đó để trốn thôi.
Trong trại tạm giam, Luyện đã khóc bao giờ chưa?
-Có khóc. Thỉnh thoảng buồn quá thì khóc, lại nhớ người yêu cũng khóc.
Ngày đi học, Luyện thích học môn gì, có khá môn gì không?
-Không. Không giỏi môn gì. Học lớp 9 thì cháu bỏ. Bỏ học vì chơi bời thôi./.
Lê Văn Miên, bố đẻ của Lê Văn Luyện nói với PV Tuổi trẻ Đời sống tại trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang:
Tìm thấy “kho vàng” do Luyện cướp được mang về, tôi cũng sợ lắm!
Trước mặt tôi, Lê Văn Miên, bố đẻ sát thủ Lê Văn Luyện cứ mãi im lặng. Có vẻ như anh ta rất sượng sùng. Miên đi đôi dép da nâu cũ, mặc quần ngủ, áo kẻ màu sẫm đen, tóc cắt cua rất ngắn. Mắt to, lông mày rậm, Lê Văn Miên ăn nói có vẻ sắc sảo và thành khẩn. Anh ta đã bước từ nơi tạm giam ra phòng hỏi cung, rất điềm đạm, đôi lúc mặt cúi gằm, ái ngại nhìn khắp mọi người. Lê Văn Miên sinh năm 1969, làm nghề mổ lợn ở xã Thanh Lâm, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. Anh ta ăn nói gãy gọn đến mức chiến sỹ công an đang hỏi cung, có lúc phải quay ra nói khẽ với tôi, “đối tượng này đã khai báo nhiều lần rồi, trơn tru lắm”.
Tôi đặc biệt ấn tượng về những lời Lê Văn Miên nói, dẫu những lời đó có thể chỉ là ngụy biện cho hành vi vi phạm pháp luật (không tố giác tội phạm, che giấu tội phạm). Miên bảo, đại ý: ông ta là cha đẻ của sát thủ Luyện, biết con là người phạm tội tày trời, sợ lắm, lo lắm, xót xa lắm (đó là thứ tội đáng chết như Lê Văn Luyện tự nhận); nhưng dù thế nào thì vẫn phải tính đường cho con trai mình được chạy trốn, được “sống sót” ở ngoài “đời” thêm ngày nào hay ngày ấy. Rồi anh ta lý luận: ai rơi vào hoàn cảnh của tôi, cũng sẽ dễ dàng nghĩ như vậy. Không lẽ lại là người… giết con (?). Miên đã nghĩ vậy và cho rằng mình đang “cá chuối đắm đuối vì con”, cho rằng mình đã hành động vì tình phụ tử. Song, sự thật đã chứng minh ngược lại. Rằng Miên và nhiều người liên quan đã có suy nghĩ sai lầm. Hành vi che giấu tội phạm, không tố giác tội phạm đã khiến cho chính Lê Văn Miên và vợ, cả vợ chồng em gái Miên, cả thảy 6 người ruột thịt và thân thích đều bị khởi tố. Bản thân Miên thì đang bị tạm giam chờ ngày xét xử.
Cùng tôi hỏi chuyện Miên là Trung tá công an Lê Danh Thu. Miên nhìn mọi người dò xét, vẻ như phán đoán bối cảnh một cách thận trọng lắm, người đàn ông làm nghề đồ tể Lê Văn Miên mới uể oải, khiên cưỡng cất lời mỗi khi chúng tôi hỏi:
Luyện đã chuyển số vàng trị giá 2 tỷ đồng cướp được sau khi thảm sát gia đình ông bà chủ hiệu vàng Ngọc Bích cho anh như thế nào?
- Nó không đưa cho tôi cất giữ. Nó chỉ gọi điện bảo để vàng ở chỗ nó cất giấu thôi.
Luyện gọi điện cho anh khi nào?
-Hôm 2/8/2011 (Luyện cướp tiệm vàng đêm 24, rạng sáng 25/8/2011). Nó điện thoại về bảo vàng con giấu ở đó, bố cất đi. 27/8 thì tôi đi cất giấu.
Anh suy nghĩ gì, khi biết số vàng đó là thứ mà con trai mình đã giết nhiều người để cướp được!?
-Tôi nghĩ là cháu đã làm như vậy thì khi bị bắt án phạt tù sẽ rất cao, rất nặng. Thôi cứ để nó ở ngoài đời (đi trốn). Tôi nghĩ nó ở ngoài (bỏ trốn) được ngày nào hay ngày ấy, được đến đâu thì được. Sau này nó về giao cho công an cũng được (?).
Trước khi gây án, theo anh biết, Luyện đã sống ở đâu?
-Tôi nhớ, ngày 12/8/2011 nó đi khỏi nhà tôi, đi đâu không rõ. Đến ngày 24/8/2011 tôi nghe tin nó về lại Bắc Giang. Thời điểm đó tôi đang ở Hà Nội, không có ở nhà. Tôi cũng biết thời điểm nó Luyện không có ở nhà tôi. Sau này tôi biết chuyện là như vậy. Trưa 24/8/2011 (sau khi Luyện gây án), Luyện có gọi điện cho tôi, tôi có gọi điện cho cháu Hồng (anh họ của Luyện) là ra phố Sàn đón Luyện về. Tôi cũng nói với Hồng là “chú không có ở nhà”. Sau này Hồng bảo lại là Luyện có đưa cho Hồng cái giấy cắm xe máy (để chuộc xe trả cho ông chú rể, cái xe mà Luyện đã cắm ở hiệu cầm đồ trước khi gây án). Luyện cũng đưa cho Hồng 2 sợi dây chuyền vàng. Em gái tôi (tên là Lê Thị Định, ở Lạng Sơn) cũng bảo là Luyện có lên trên đó. Hôm sau tôi lên đó hỏi em gái tôi xem thế nào. Thì Luyện điện về bảo có số vàng (trị giá chừng 2 tỷ!), để ở chỗ đó, như thế như thế. Tôi cũng nghĩ và đoán được câu chuyện, nên tôi mới đi tìm Luyện. Sau đó Luyện điện về, tìm thấy vàng, tôi cũng sợ lắm. Tôi nghĩ là nó đi cướp của người ta, chứ nó lấy đâu ra được ngần ấy vàng!
“Tôi bảo Luyện, nếu con gây án cùng ai nữa thì khai ra cho nó… nhẹ bớt tội”
Rồi sau đó anh giấu vàng đi. Lúc đó vợ anh có biết chuyện không?
-Tôi nghĩ bụng: cứ cất giấu vàng đi đã. Tôi giấu vợ tôi, sợ vợ tôi biết thì nó sẽ ngất xỉu. Vợ tôi nó yếu lắm. Tôi định bụng để 1-2 ngày sau xem thế nào đã…
Hôm anh liên lạc với Luyện, anh lên Lạng Sơn: anh và Luyện đã bàn bạc chuyện gì với nhau?
-Tôi hỏi Luyện là có làm việc ấy không (cướp tiệm vàng Ngọc Bích, thảm sát gia đình anh Ngọc, chị Chín)? Nó bảo: Phải. Tôi hỏi: làm việc đó với ai? Nó bảo: Một mình. Tôi bảo nó: nếu con làm việc đó cùng ai thì khai ra, người ta còn gánh tội đỡ, chứ con làm một mình như thế này thì… (Miên im lặng rất lâu). Tôi bảo, nếu con làm với người nào nữa, ý là đông người gây án thì ra đầu thú cho nó nhẹ tội. Tôi bảo cháu ở đó vài ngày… (Lê Văn Miên chợt run cầm cập).
Anh đã tính toán như thế nào trong những ngày đó?
-Thời điểm đó tôi lo lắng lắm. Tôi không biết tôi nghĩ gì đâu. Tôi không thể nào nhắm mắt mà ngủ được. Tôi không biết là mọi chuyện sẽ như thế nào nữa.
Đối tượng Trương Thanh Hồng:
Luyện nó chỉ biết chơi game với mấy trò vớ vẩn thôi!
Trương Thanh Hồng, là anh họ của Lê Văn Luyện, người đã đưa Luyện đi trốn, hiện đang ở trong Trại tạm giam (Hồng bị khởi tố với tội danh “Che giấu tội phạm”), Công an tỉnh Bắc Giang. Hồng cao, gầy gò, đầu cắt vộc trắng, các vết sẹo ở sau đỉnh đầu và sau gáy càng trở nên trắng nhởn. Sinh năm 1992, có vẻ rất sành sõi trong giới ăn chơi, Hồng tự tin gặp nhà báo và gặp các chiến sỹ công an. Lời khai rành rọt, quá nhiều thứ có vẻ như nắm rất rõ, Hồng vẫn thản nhiên “cháu không biết”, “cháu không hiểu” rồi nhớn nhác nhìn mọi người. Trong vụ thảm sát tiệm vàng Ngọc Bích, Trương Văn Hợp và Dương Thị Lược là bố mẹ của Hồng cũng bị khởi tố vì tội không tố giác tội phạm.
Hồng sinh năm bao nhiêu ?
-Cháu sinh năm 1992.
Quan hệ với giữa Hồng và Luyện, cụ thể là như thế nào?
-Cháu là anh họ của Luyện. Ông nội cháu và bà nội Luyện là hai anh em ruột. Đến đời cháu là đời thứ 3. Luyện gọi cháu là anh.
Luyện có bao nhiêu cô người yêu?
-Trước cháu có nghe nói nó có người yêu, sau không thấy nói gì nữa.
Hồng đã biết đến quá trình phạm tội của Luyện như thế nào?
-Lúc đầu, cháu không biết gì về chuyện ấy. Luyện nó mượn xe của ông chú rể. Nó đi làm thuê cùng với chú ấy ở dưới Hà Nội. Cháu đi làm, về nhà được khoảng hơn 10 ngày thì thấy nó bảo mượn xe của chú ấy rồi đi. Luyện nó bỏ nhà đi, nó cắm xe. Có những ngày cháu điện thoại cho nó suốt, nhưng không liên lạc được. Hôm gây án, nó gọi điện thoại bảo cháu ra đón nó. Cháu thấy tay nó bị thương.
Theo Hồng biết thì Luyện có nghiện chơi game thật sự không ?
-Có. Cháu thường thấy nó chơi game. Chơi ở quán ngoài Phố Sàn (tỉnh Bắc Giang, gần nhà Luyện). Nó không hẳn đã nghiện game. Nó chỉ chơi mấy trò vớ vẩn thôi. Nó không biết đánh nhiều trò đâu.
Luyện có tâm sự gì với Hồng về dự định mua dao lớn dao bé, mang ba lô đi cướp tiệm vàng không?
-Cháu không biết đâu. Từ hôm cháu đi làm, cháu không gặp nó. Cháu điện thoại thì thấy máy của nó khóa.
Friday, November 25, 2011 9:35:00 AM
Bắn rụng bầu trời…
Ký của Đỗ Doãn Hoàng
Uống máu chim sâm cầm Tiến vua
Đàn chim giang lông xám như đại bàng núi, mỗi con nặng khoảng hai đến ba ký lô, nhưng sải cánh của nó dài hàng mét, mỗi bên như cái quạt quân sư ông Gia Cát Lượng hay phe phẩy mỗi lúc ngồi trong trướng tính chuyện quân cơ ngoài ngàn dặm xa. Chim sâm cầm nhao như một cơn mưa với những hạt nước khổng lồ màu đen nhoáy sà xuống mặt đầm Văn Khúc. Lũ vạc cườm sẫm, chiều về xoạc cánh chao đảo như trực thăng tìm điểm đỗ trên mặt hồ. Chúng phô trương thanh thế để rậm rịch cho chuyến kiếm ăn cô độc trong đêm rạc rày kiếp vạc. Đàn chim mơ mộng, kiều diễm ấy, trong tôi, chúng như biểu tượng của bầu trời cao rộng. Chúng muôn thuở bay và mang theo khát vọng muôn thuở của loài người.
Bỗng đâu, một loạt tiếng nổ chát chúa vang lên. Đạn dia từ nòng súng lớn vãi ra như trấu. Tiếng chim kêu thảm thiết, thảng thốt mà tôi nghe như chúng đang hậm hực khóc: “tôi có làm gì đâu mà loài người xử ác với tôi?”. Lũ chim lớn với sải cánh rộng rầu rĩ rơi như bầy diều đứt dây mà gió thì bỗng đâu ngừng bặt. Chúng chết thảm. Lông chim bay bời bời. Mặt nước nâu xám, đen nhánh toàn xác chim. Máu loang đỏ bốn góc thuyền nan của thợ săn bầu trời. Tiếp đó là màn uống tiết chim sâm cầm, cái loài chim vì suốt đời ăn củ nhân sâm bổ dưỡng trên dãy Trường Bạch Sơn bên xứ Cao Ly, xứ Tàu mà trở thành thức Tiến vua nước Việt ta một thuở. Thợ săn uống máu sâm cầm, bất biết đó là loài chim di cư đi dọc địa cầu, qua trọn những xứ đang bị cúm gia cầm hành hoành khốc hại để đến Việt Nam, bất chấp nó là con chim được nhiều quốc gia trên thế giới trọng vọng, chăm sóc, nghiên cứu. Cái chân nhiều con chim di cư dọc địa cầu kia vẫn đeo vòng ghi chi chít số liệu và tên các quốc gia nó từng bay qua. Các thợ săn Việt Nam cầm súng lớn, nhẫn tâm bắn chim trời, rồi chính họ trở thành những kẻ điếc không sợ súng.
Các phường săn thiếu văn hoá
Không biết cái hồi ông nhà văn Tây kia viết “Bút ký người đi săn” nổi tiếng thế giới thế nào. Chứ cánh thợ săn bạn tôi, bây giờ họ săn bắn thật tàn nhẫn. Săn, cũng là một cách chinh phục thế giới, để con người bỏ bớt sự cô độc trong mình, để tự đánh lừa cảm giác rằng mình có sức mạnh nào đó trước thiên nhiên và cuộc sống. Từ thượng cổ đến giờ, từ ông hoàng bà chúa cho đến những kẻ thất học khố rách áo ôm, ai cũng ít nhiều có đi săn. Miền rừng sống dựa vào rừng, vùng biển sống dựa vào biển; chim trời cá nước hay rắn rùa trong lòng đất hố hang đi nữa thì cũng cần phải được tóm về phục vụ cuộc sống con người. Đó là đi săn.
Vua chúa xưa bắt cận thần bắt hươu nai thả vào vườn thượng uyển rồi đi bắn bắt cho sạch sẽ, cũng vẫn là đi săn (kiểu trọc phú). Nhưng đâu là giới hạn giữa việc săn bắt có chừng mực như thể làm xúc tác cho cuộc cạnh tranh sinh tồn trong loài vật; và việc săn bắt kiếm miếng ăn để sống làm người (với ý nghĩa nguyên thuỷ nhất) trước đây; rồi nữa, cái kiểu săn tàn độc, hủy diệt khiến cho nhiều loài vật vốn đông đàn dài lũ phải chạy tuột vào trong Sách đỏ Việt Nam, Sách đỏ thế giới rồi hấp háy bên bờ tuyệt diệt hôm nay? Tất cả đều là đi săn, nhưng bây giờ chúng ta đang có những phường săn thiếu văn hóa và phớt lờ những giá trị đạo đức tối thiểu một cách vô lối nhất. Trong bệnh viện Bạch Mai xanh um cây lá, tôi đi chăm người ốm và chứng kiến 6 con chim cu gáy cổ cườm đầy kiêu hãnh, chúng cứ rúc lên đầy thương mến, khiến ai cũng phải mềm lòng nhớ quê. Rồi gã thợ săn xách súng vào. Hắn xiết cò bòm bọp giữa thủ đô hoa lệ. Súng của nó hiện đại lắm, bắn cả chùm đạn, bắn trượt khó hơn bắt trúng con mồi. Chim gáy, chim sẻ, chim sâu rồi vành khuyên rí rách đẹp như đến từ cõi Thiên thai, chúng nó bắn tất, dùng dây sắt xiên lại thành một chuỗi mang đi. Dường như gã thợ săn ấy đang bắn vào ký ức và lòng liêm sỉ trong mỗi chúng ta.
Bây giờ người ta có thể dễ dàng mua súng săn, súng tự chế. Rồi thả sức mà bắn. Tiếng là cấm, là hạn chế và giao nộp súng tự chế. Nhưng có xã mà tôi từng đến, lãnh đạo xã đứng ra lập một hiệp hội những anh giàu sổi thích đú ngày nào cũng đi săn và đem súng đang bị cấm sử dụng ra so đọ với nhau. Ý kiểu rằng: “ta đây yêng hùng hơn chúng nó”.
Cha ông ta từng lập các phường săn. Đám trẻ chúng tôi thuở thò chim ra khỏi quần cộc rách chưa biết ngượng, cũng đã biết treo súng cao su trước ngực, bắn chết con chào mào, con chiền chiện, chú chích bông bé tẹo teo nào thì lấy mấy giọt máu chim bôi vào cáng cao su bằng gỗ để lưu dấu “chiến công đẫm máu”. Thế giới có cả hiệp hội săn bắn, và Việt Nam ta cũng từng cấp giấy phép cho người ta sử dụng súng săn, với danh mục những loài được săn bắn rất rõ ràng.
Song, giữa no đủ và giữa cảnh nhiều loài vật từng gắn bó thân thiết với con người đang đứng bên bờ diệt vong hôm nay, khi mà việc săn bắn không nhằm mục đích lấp đầy cái dạ dày, cung cấp đủ ca-lo dinh dưỡng cho kiếp đời của mỗi cá thể người nữa thì việc đi săn bỗng dưng lại cõng trong nó cả yếu tố văn hoá nữa. Vịt gà ngan ngỗng thừa mứa, nhiều người Việt Nam đang ngay ngáy lo thừa mỡ với tiểu đường, huyết áp vì ăn hết phần thiên hạ (những thứ bổ dưỡng) có nhất thiết phải tàn sát cò, vạc, giang, sâm cầm, mòng két, le le một cách hủy diệt thảm khốc với vũ khí tối tân như hiện nay không? Trâu bò, lợn, ngựa, dê, cừu đầy rẫy như bây giờ, có nhất thiết phải làm cả thế giới đau đầu van xin các thợ săn (và các nhà buôn) động vật hoang dã đừng bắn hổ, bắn gấu, bắn bò tót, sao la như hiện nay không? (Tất nhiên là có nơi còn thiếu thốn, nhưng dẫu sao vật nuôi - lợn, bò - vẫn nhiều hơn gấu hổ hoang dã. Do thế, yếu tố văn hoá sống, văn hoá vì cộng đồng nhân loại tiến bộ là thứ mà nhiều thợ săn và những người quản lý liên quan của chúng ta đang thiếu đến quặn lòng).
Họ đã bắn hạ cả những ban mai và những chiều tà
Tôi không hiểu đám trai tráng tóc vuốt gôm bóng như tắm mỡ lợn kia họ nghĩ gì, khi mà họ rồng rắn đeo đám súng cả nghìn đô đi bắn chào mào, chim sẻ? Bắn để làm gì (?). Trong khi quá nhiều tuổi thơ, quá nhiều câu chuyện cổ tích trong thời đại tên lửa vũ trụ này đã và đang khô khát tìm một tiếng chim. “Thêm một tiếng chim gù, thành ban mai tinh khiết”. Nhưng thợ săn giàu có, họ đã tàn sát cả những ban mai, những chiều tà, những vẻ đẹp vĩnh hằng của Trời đất. Họ nhẫn tâm ở chỗ họ bắn chim chỉ vì họ muốn được nổ súng và nhìn thấy cái mà họ coi là “tài năng” của mình kết tinh trong hình ảnh chú chào mào, chim chích buông mình từ ngọn cây cao xuống đất. Không thèm đi nhặt xác chim về làm thịt. Hình ảnh ấy làm đám thợ săn bắn rụng bầu trời thấy hưng phấn giống như chàng hiệp sỹ mải mê chinh chiến và yêu đương trong tiểu thuyết, vừa mới chinh phục thành công một mỹ nhân vậy. Họ đã thêm một lần làm tôi nhớ tới điển tích văn học quen thuộc: chàng thợ săn vác súng đi qua khu hồ tuyệt đẹp, đôi thiên nga đang tự tình đắm say. Chàng nổ súng, nổ súng chỉ vì chàng muốn súng phải nổ. Chàng giết chết một con thiên nga rồi bỏ đi, lòng không gợn buồn, cũng chẳng gợn vui. Thiên nga thiếu phụ cô độc, tang tóc trên mặt hồ - sự không hiểu nổi Loài người trong thiên nga mái có khi còn lớn hơn cả nỗi đau vĩnh viễn mất người bạn tình đang loang máu trên mặt hồ. Tôi hồ đồ nghĩ tới câu chuyện mà có lẽ ai cũng biết này khi thấy gã thợ săn ngồi trên thuyền nan xả súng làm cò, vạc, giang, sâm cầm rơi lã chã xuống mặt hồ. Những cánh chim rơi tức tưởi từ bầu trời bộp xuống niềm đam mê ác thú.
Kẻ bắn rụng bầu trời được chào đón!
Huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ năm 2011. Hắn có thú săn chim. Cũng bản năng như đám trẻ chúng tôi hai chục năm trước, thấy chim chào mào đậu ăn quả xoan chín là nheo mắt lại ước ao có một chiếc súng cao su và một viên sỏi cuội thật vừa vặn. Mãi sau này vẫn cứ nhòm thấy chim bay chim đậu là mơ về một khẩu súng, như là một bản năng ác điểu. Một ngày không nổ súng là hắn nhớ như nhớ thuốc lào. Nhưng bắn chết cả đàn chim di cư có đeo vòng của các tổ chức nghiên cứu chim quốc tế rồi, hắn cũng chỉ ném toẹt xiên chim trời cho bà hàng xóm hể hả làm thịt. Chiều về, nếu còn chưa say khướt thì hắn cũng la cà xin một đĩa “đặc sản chim” về nhâm nhi ăn gọi là ăn cho bà láng giềng đỡ… áy náy. Không bán, không ăn, không yêu thương cũng chẳng căm thù lũ chim trời. Mà hình như thợ săn nào cũng hào hoa thế, “Tôi săn là bởi tôi săn/ nhặt chim anh chớ hỏi nhiều làm chi”. Bọn hắn nhại thơ tình thế. Cũng phải, giàu đến độ bỏ mấy chục triệu ra mua súng săn vác đi hoang như thằng dở chứng thế, thì rõ là đi săn chẳng vì muốn kiếm được con mồi ở góc độ vật chất nữa rồi.
Ngày xưa ở quê, bố mẹ không cho đi bêu nắng, cấm đi bắt cua, cá, lươn, chạch. Anh em chúng tôi hậm hực lắm, mẹ nằm chặn ở cửa canh chừng, gió nồm hây hẩy, tôi cũng lặng lẽ… bước qua cơ thể mẹ để mà tung mình ra với những con dộc, độ hè ấy “nước như ai nấu/ chết cả cá cờ/cua ngoi lên bờ”. Tôi tụt quần dài, buộc túm hai ống chân lại, đi bắt cua. Bắt từ lúc mặt trời đứng bóng tới khi hoàng hôn sậm xuống, mặt mũi hăm hia đỏ vì nóng nồm, nắng chảng. Cua cá túm đầy hai ống quần. Tắm sông sạch sẽ, tôi về nài nỉ bác hàng xóm lấy cả đùm cua cá của mình để… phi tang. Tôi tay không, quần áo khô ron trở về nhà, bố mẹ hỏi bảo con đi học nhóm nhà thằng Cường. Bắt (hay săn) nó là cái thú rất bản năng của con người. Tôi bắt cua chẳng nhằm lấy được cua cáy, và đám thợ bắn chim trời bằng súng ngoại cũng thế. Nhưng “nghề” bắn chim đôi lúc cũng có giá, ra khỏi cổng là có người nhờ… nổ súng.
“Nhà bác cho em xin mấy viên đạn, được không? Nể bác quá, dưng mà…” - ai đó nằn nì hắn. Chẳng là: có khi giữa thành phố, một bà níu bộ dằn ri trông hung hãn như Nguỵ quân của hắn lại, nhờ chú bắn hộ tôi lũ cò ngủ trên tán cây sao, tôi bán nước chè kiếm ăn ở dưới, nó cứ ỉa vào đầu khách. Mất khách quá. Hắn xách súng hơi, đã ngắm là rụng cò. Về quê, một bác chặn đường, nhà tôi có con mèo hoá cáo hỗn ơi là hỗn, nó ăn ven đàn gà nhép của tôi. Lại con gà chả hiểu ma ám thế nào biến thành gà rừng, suốt ngày đậu bới tre gáy te te, mà nó là gà mái thích gáy mới đúng điềm gở chứ. Giữa bụi tre nhà tớ có hai con sóc làm tổ ở tán cây xà cừ. Nó ăn trụi hết cả vườn bưởi, cấm có còn quả nào. Trăm sự nhờ chú bắn hộ tôi. Đắt khách quá, hắn tháo bao đạn, ngồi nhồi thuốc súng, từng muỗng đạn chì viên to như đầu đũa được dốc vào cát tút. Mấy chục viên đạn khạc ra khỏi khẩu súng săn mết-in nước Pháp sau mỗi tiếng nổ. Bắn trượt cũng thành bắn trúng. Con sóc vểnh đuôi ôm quả ổi chín bằng hai tay (chi trước), mắt đen như hạt nhãn đang nhảy nhót. Súng nổ. Sóc rơi xuống, nằm như con chuột ngâm cống ở góc ao. Sau mỗi cuộc săn là những bữa nhậu tơi bời, đắc chí, chim trời cá nước nó là cái lộc, bất khả từ mà cũng bất tận hưởng.
Thỉnh thoảng gã rằn ri đeo súng dữ cũng cứ nói chữ choanh choách. Bấy giờ, tôi chỉ biết cười chua chát nghĩ đến cảnh hắn nhồi đạn cháy cả nhà, cháy cả mặt. Nghĩ cảnh hắn bắn nhầm vào người khác. Nghĩ cảnh súng săn, súng tự chế bán tràn lan, rồi gây án như trong phim hành động Mỹ. Sao nhà quản lý súng đạn và vật liệu nổ lắm kẽ hở thế, sao cứ đợi “mất bò mới lo làm chuồng”? Mà bò mất từ lâu lắm, chuồng trại vẫn chưa có ý định xây ư?
Lỗi tại bầu trời và khẩu súng?
Chỉ bầu trời xanh là dường như bị vỡ từng mảng khi mất đi sự hoà sắc rộn rã của lũ chim trời. Ngẫm kỹ thì trong muôn loài, chim trời là khó ẩn thân lánh nạn hơn cả. Thú có rừng, cá có nước, chim có nhõn bầu trời lúc nào cũng tênh hênh phô bày tất cả. Chim thì phải bay, phải thoáng mới gọi là bầu trời. Chim bay trên trời bao giờ cũng đồng nghĩa với việc hớ hênh phô diễn thân mình trước mũi súng nỏ thợ săn. Cánh săn chim rất nhàn. Đi đâu cũng hỏi: chỗ này có sâm cầm (chim tiến vua) không? Có con giang to nào không? Ai cũng có thể giả nhời! Có, nó đậu ngoài bới tre ấy, nó bơi ngoài đầm ấy, sáng nay thấy nó về ăn lách nhách như vịt ngoài Văn Khúc đầm. Thế là đi đời nhà chim rồi, chim ơi. Giá như chim đừng biết bay thì có khi số chim trời thọ nạn vì súng săn sẽ bớt đi. Cánh cò đẹp bay vào giấc mơ của thiên hạ, với thợ săn, chúng không thèm bắn. Hôm nào vắng chim lắm, chúng bảo nhau: thôi thì lấy tạm con cò bợ về làm bữa tối. Chim trên cây lơ ngơ, súng quá hiện đại với sức mạnh sát thương khủng khiếp, họ “lấy” chim về ăn như đứa trẻ thò tay vào túi quần mình lấy viên bi ra nghịch. Thế thì gì mà bầu trời chả hết bóng chim.
Trước đây, khi bà con còn dùng bẫy bằng cành tre, dùng cung nỏ với súng chun bắn chim, thì chim trời đôi khi có thể coi bầu trời là chốn bình yên nào đó của mình. Như con nai biết trốn trong rừng; con cá biết lặn xuống đáy sâu. Nay, với những chiếc đài xập xình phát đủ loại tiếng kêu giả hòng dụ chim trời vào lưới ụp, mỗi lần bắt cả trăm con chim lớn. Nay, với súng săn hai nòng, khạc cả trăm viên đạn chì một lúc, bầy đạn đi loe ra như một vòng kim cô khổng lồ để rồi bắn trượt chim còn khó hơn là hạ sát. Thế nghĩa là, bầu trời cao rộng và lãng mạn của chim hoang dã chính là nơi chim trời buộc phải trình diễn vũ điệu chết chóc của mình. Hễ chim tung mình với mây gió là bị phát hiện. Bay mãi rồi cũng phải đậu, đậu là bị bắn, bắn là chết. Mà đáng sợ hơn, bắn chim bay mới dễ… trúng. Cánh thợ săn có câu “quân tử bắn chim bay chứ không thèm bắn chim đậu”. Con giang với sải cánh 1,5m dài của mình bay trùm qua góc rừng, bay tối cả một góc đầm nước. Thợ săn xoay mình như dũng sỹ diệt máy bay trực thăng trên đồng nước nổi hồi giặc Mỹ xâm lăng, không cần ngắm bắn, súng nổ tràn. Hàng trăm viên đạn vãi ra, tiếng nổ rền vang ì oạp mãi về phía chân mây, con chim khổng lồ, sải cánh rộng cả mét, kiểu gì cũng trúng đạn. Đàn cò bay cả trăm con thì càng dễ xuyên táo dăm con. Chim bị bắn vào cánh, nó nghiêng ngả, tiếng kêu như khóc than đến não ruột, nó chao đảo có khi cả buổi chiều mới rơi. Nhưng chim bị súng nổ vào cổ hay vào ức, thì nó buông mình rơi giống như một cái khăn tay bị kẻ thất tình vứt từ trên nhà năm tầng xuống. Một vũ điệu hiến tế quằn quại của chim trời.
Những vị “khách thương hồ” sẽ phải nắn hành trình xuyên quả đất?
Đạn và súng săn mua đều dễ dàng. Không hiểu sao nhà nước ta có chủ trương thu súng tự chế ở vùng cao một cách quyết liệt, để đến nỗi bà con phải dâng đơn xin săn bắn tỉa ít nhiều chứ “bảo tồn” tốt quá thì khỉ và lợn rừng được thể đông đàn dài lũ phá hết hoa màu. Gấu bẻ hết ngô và voi thì ùa ra dẫm quật đổ nhà cửa, xéo chết cả người. Trong khi ấy, ở miền xuôi, chúng ta vẫn để những phường săn thời a-còng (@) với các tay súng được cấp giấy phép đi bắn… rụng cả bầu trời như thế?
Bạn tôi giữ trong nhà một tải đạn chì khổng lồ, hắn bảo, sẽ bắn trong cả cái mùa chim di cư giáp Tết năm này. Chim trời, những vị khách phương xa béo núc đến từ địa cầu ấy, đã bay từ chín tầng mây qua họng súng săn khét lẹt vào thẳng đĩa nhậu thơm nít mũi của hắn và bầy bè bạn. Thợ săn nào cũng giữ cho mình những hũ rượu lớn, trong đó, ánh bạc, xanh rì, đen nhức, đỏ non những cặp chân chim gầy guộc. Ai cũng bảo: rượu chân chim di cư rất bổ, rất tráng nọ ích kia. Chim di cư và cả chim bản địa Việt Nam cùng bị tận diệt. Trên đường di cư vòng quanh quả đất của mình, chim di cư không ngờ rằng chúng nhất tề bị làm thịt bởi thợ săn Việt Nam. Song nghĩ cho cùng thì: những vị khách thương hồ du lãng đáng yêu kia (như sâm cầm, le le, mòng két, cò thìa…) đi vòng quanh thế giới, chúng có trêu ghẹo gì ai? Chúng dừng lại ở các ao hồ, cửa sông Việt Nam để ăn tép ăn tôm, ăn đòng đong cân cấn tẹp nhẹp ngoài bãi bồi như một cách tiếp thêm nhiên liệu để tiếp tục hành trình, chúng có nuốt chửng hoa màu hay ăn tàn phá hoại gì đâu? Chim di cư dừng sải cánh, hạ bước chân du mục để ăn nhẹ; để để tiếp tục đốt mỡ mình làm nhiên liệu trong hành trình giữa chín tầng mây tránh rét từ Bắc Cực xuống Nam Cực (và ngược lại) đấy chứ. Tôi nói vậy, cánh thợ săn vẫn nhồi thuốc nổ vào cát tút, vẫn khạc đạn như họ đã, đang và sẽ còn làm như thế. Tao không bắn thì nước ngoài nó cũng bắn. Không bắn thì chim di cư nó cũng cứ tiếp tục bỏ đi về phương Nam tránh rét. Chim trời cá nước, thượng đế sinh chúng ra là để “tiến” chúng cho con người. Không ăn là có tội, chim Tiến Vua là gì, là vua chúa ngày xưa họ còn ăn nữa là - một thợ săn đắc chí tiếu hi hi.
Súng lại nổ, bà con hiếu kỳ lại ùa ra xem. Đàn chim chao đảo, táo tác vỗ cánh bay đen bầu trời. Chúng bay rất xa rồi, túm lông của những chú chim bị giết vẫn quẩn quanh trong gió đồng đầu đông giá rét. Xa rồi, tiếng kêu khào khào ai oán của đàn chim di cư vẫn lộp dộp phía bới tre cuối đường chân trời. Ai đó bảo, chim di cư đang nắn đường bay vạm vỡ dài dọc địa cầu của chúng để khỏi qua đất Việt Nam có nhiều gã thợ săn nhẫn tâm. Mặc, quán chim trời cứ mọc lên, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp phép bán đặc sản chim trời, đủ an toàn vệ sinh thực phẩm với huy chương này nọ hẳn hoi. Súng cứ nổ, đài cát sét giả giọng chim vẫn sụp sụp đặt trong cái lưới ụp há mồm ăn thịt chim trời. Những tấm lưới ăn thịt đàn chim di cư một cách hỗn hào. Vẫn chưa ai nói về cái thứ văn hoá môi trường, văn hoá vì cộng đồng; hay ít ra là sự mơ mộng nào đó để khỏi phải bắn rụng từng mảng trời xanh khoáng đạt của Trời như lúc này... Cánh chim rụng xuống, một mảnh trời rơi theo. Tiếng súng săn chim trời nổ, một mảng mây giữa cao xanh rụng rời vỡ như bong bóng xà phòng. Đứa trẻ hàng xóm nhà tôi, khi có người tếu táo đố cháu bắn rụng ông mặt trời nóng nực, cháu bi bô: cháu không muốn dùng súng chun (súng cao su) bắn rụng ông mặt trời là vì cháu sợ viên sỏi sẽ làm rơi mất mấy đám mây hình chim cánh cụt! Ra là như thế.
Đ.D.H
Kèm theo chùm ảnh 7 tấm:
1: Một con chim tiến vua (sâm cầm) bị bắn chết tại Cẩm Khê, Phú Thọ. Rất nhiều tài liệu nói rằng, sâm cầm đã vĩnh viễn không di cư qua Việt Nam, nhưng đàn sâm cầm này mới bị hạ sát cuối năm 2011.
2: Chuẩn bị tấn công, hạ sát đàn chim di cư hiền lành đem nhậu.
3: Vừa hút thuốc lá, vừa đốt nến lấy “nhựa”, vừa nhồi thuốc súng vào cát tút lớn trước khi “bắn rụng bầu trời”. Một cảnh liều lĩnh không thể tưởng tượng nổi.
4: Chim sâm cầm, chim tiến vua đang vui sống trong đầm.
5: Súng săn và những viên đạn chì đáng sợ.
6: Một con giang lớn và một con vạc lớn bị bắn chết ngay cả khi đang bay lượn trên bầu trời cao xanh vô tận của chúng.
7: Một hũ rượu lớn ngâm toàn chân chim di cư, trong đó có chân chim sâm cầm. Đây có lẽ là một hình thức thủy táng cả muôn loài chim trời một cách dã man nhất.
Thursday, November 24, 2011 1:40:13 PM
Cuộc gặp gỡ của PV Tuổi trẻ Đời sống với Lê Văn Luyện, “sát thủ máu lạnh” trong vụ thảm sát cướp tiệm vàng Ngọc Bích ở Bắc Giang:
Những tình tiết “thâm cung bí sử” lần đầu tiên đăng báo !
Sắp hết năm 2011, có một kỷ lục đau đớn mà theo thông lệ, thì dư luận, báo chí có lẽ lại phải buồn bã ngồi tổng kết lại: Lê Văn Luyện là một trong những nhân vật được (bị) đề cập nhiều nhất, hoảng hồn và kinh dị bậc nhất trong năm qua (nếu không nói là trong nhiều năm qua). Bởi lẽ đó, nếu chúng tôi cũng không cần nhắc nhiều về lý lịch, quá trình biến mình thành “thú độc đội lốt người” của Luyện thì bạn giả cũng đã tương đối tường tận. Tháng 8 năm 2011, đột nhập tiệm vàng Ngọc Bích ở Phố Sàn, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang, Luyện đã tàn độc dùng dao phớ và vũ khí khác, chém, cắt cổ giết chết một lúc 3 người, gồm vợ chồng anh Trịnh Văn Ngọc - chị Đinh Thị Chín và con của họ là cháu Trịnh Thị Thảo mới 18 tháng tuổi. Riêng cháu Trịnh Thị Bích, 9 tuổi may mắn sống sót với cánh tay bị chém đứt lìa là ngoài mong muốn “giết người diệt khẩu” của tên cướp kinh dị đó.
…Phiên tòa xử tên tội phạm quái dị Lê Văn Luyện sắp diễn ra. Hôm 23/11/2011, Luyện bước ra khỏi phòng biệt giam ra gặp chúng tôi, với gương mặt lạnh như tiền, giọng nói đều đều vô cảm trong hầu hết cuộc trò chuyện. Luyện cứ nói, cứ dẫn dắt cuộc phỏng vấn theo những tình tiết bổng trầm, dễ sốc và choáng nhất với vẻ mặt bất động, cúi gằm. Đến lúc chúng tôi phải lặng đi vì ghê rợn và căm phẫn tội ác man rợ do Luyện gây ra, nhưng tuyệt nhiên vẫn không thấy một giọt nước mắt hay lời xám hối thật sự nào của Luyện. Lặng lẽ bước ra khỏi buồng giam, lặng lẽ ngồi xuống phòng hỏi cung, lặng lẽ ra về không chào hỏi ai. Luyện như một cơn mơ ác trong mắt tôi.
Có thể ai đó vì quá sợ hãi trước vụ việc đã nhắm mắt không dám đọc một số thông tin rùng rợn mà Luyện khai với cơ quan điều tra, với báo chí trong những lần tiếp xúc cực kỳ hiếm hoi. Và, chúng tôi, đôi khi, dẫu là nhà báo cũng vẫn đành phải bỏ qua nhiều chi tiết về về một “Lê Văn Luyện - sát thủ máu lạnh”, để không bị ám ảnh hãi hùng quá về vụ thảm sát chưa từng có. Để không bi quan, tuyệt vọng, khi nhìn thấy trên cõi đời này những đứa choai choai “đầu xanh đầu đỏ”, nó quái đản, mặt lạnh hao hao giống với Luyện với hành vi thuộc loại quái thai đó. Chợt thở dài: chúng ta đã làm gì để xã hội sản sinh ra những thứ quỷ quái như Lê Văn Luyện và nhiều sát thủ “khét tiếng” mà báo chí vẫn thường đưa tin khác? Chính vì đôi khi đã nhắm mắt bỏ qua những thông tin kinh hoàng liên quan đến Lê Văn Luyện để khỏi bi quan, nên ở bài viết này, chúng tôi chỉ dám nói: có lẽ, những thông tin mà Luyện “tâm sự” với PV TTĐS sau đây là lần đầu tiên được đăng lên mặt báo. Chúng tôi không dám quả quyết toàn bộ. Song, có lẽ chúng tôi đã không quá hồ đồ. Luyện bảo: hắn có 2 cô người yêu, toàn học sinh lớp 11 và 12, đêm ở trại tạm giam hắn cũng khóc, khóc vì buồn và nhớ người yêu. Hắn nghiện game và từng chơi trò “Đế Chế” thâu đêm suốt sáng. Luyện vật lộn, quyết móc mắt chị Bích, bà chủ tiệm vàng trước khi lật nạn nhân ra để cắt cổ. Trước giả thuyết của chúng tôi về việc Luyện “cầm trịch” phiên tòa xử tội ác của mình, thì mức án sẽ ra sao, Luyện thản nhiên như đã suy nghĩ từ lâu lắm: “cháu đáng tội chết” (tử hình). Trước những lời đồn gây tranh cãi về việc vào trại giam sát thủ máu lạnh với gương mặt xương xương béo ú lên, Luyện tự nhận: “Cháu tăng khoảng 5kg” so với lúc đang ở ngoài xã hội. Luyện cũng nói về những giấc mơ kỳ lạ của mình, Luyện cũng tỏ ra xúc động, muốn có lời khuyên ngắn gọn, bất ngờ với đứa em út bé nhỏ mà nghe nói Luyện rất nhớ nhung lo lắng: “Em ngoan!”. Luyện cũng nói mình có lỗi với gia đình nạn nhân, có lỗi với tất cả mọi người trong xã hội.
Bài 1:
Lê Văn Luyện đã cố sức móc mắt bà chủ tiệm vàng trước khi hạ sát !?
Thú thật là ra khỏi phòng phỏng vấn Luyện, tôi đã ngẩn ngơ đau đớn. Cảm giác lạnh toát từ trong trí não đến lục phủ ngũ tạng. Câu chuyện về một sát thủ mất tính người tột độ như Luyện, cũng như nhiều độc giả tôi không lạ lẫm gì. Thậm chí tôi đã có mặt ở Phố Sàn, với tiệm vàng Ngọc Bích phủ đầy tang trắng từ khi vụ thảm sát vừa diễn ra, các hướng đoán định tìm thủ phạm còn chằng chịt mơ hồ. Và, trước khi công phu xin với cơ quan chức năng cho phép có một cuộc phỏng vấn với “thú đội lốt người” Lê Văn Luyện, tôi đã thêm một lần đọc lại rất nhiều trong số những gì báo chí từng viết về y. Thế nhưng, khi trực tiếp nghe y mô tả, tâm sự với vẻ mặt lạnh te, nhiều đoạn, tôi và các cán bộ công an vẫn phải sửng sốt. Đôi khi chúng tôi hoa mắt, ngắt lời Luyện để hỏi lại. Ai nấy đều rợn tóc gáy, mỗi khi Luyện kể về một nạn nhân rồi thủng thẳng, nhẹ bẫng, hạ giọng, “rồi cháu cắt cổ ông ấy/ bà ấy, nó (cháu bé 18 tháng tuổi)”. Cơ hồ, lời lẽ và hình ảnh ghi lại từ máy móc không bao giờ có thể truyền tải hết được mức độ khủng khiếp trong hành vi tàn sát đồng loại vô tội và ăn cướp táo tợn của hung thần Lê Văn Luyện.
Chúng ta đã làm gì để cuộc đời sinh ra Lê Văn Luyện?
Nay, nghe trực tiếp, đứng cách Luyện vài gang tay, nhìn cái cách hắn đều đều, chán nản, buông xuôi, lạnh lùng diễn tả mọi chuyện thì tôi mới thật sự… choáng. Có người bảo, “thiết kế” công phu với bao nhiêu là thủ tục như thế mới gặp được “nhân vật”, tôi nên chụp một bức ảnh với Luyện để làm kỷ niệm, tôi đã từ chối. Án của Luyện do tòa tuyên, và bây giờ tòa chưa tuyên, ta không có quyền miệt thị Luyện, nhưng sự thật là tôi sẽ rất xấu hổ nếu trot chụp với Luyện một bức ảnh. Tôi có một cảm xúc rất thật thà thế này: vẫn biết thủ tục vào gặp Luyện là cực kỳ nghiêm ngặt, phải qua nhiều tầng cấp xét duyệt. Vẫn biết việc quản lý đối tượng của vụ trọng án gây hoảng hồn dư luận như trường hợp “Lê Văn Luyện thảm sát ở tiệm vàng” là hết sức bài bản, cẩn trọng. Nhưng! Khi đến gần Luyện, trực tiếp hỏi hắn những câu chỉ riêng tôi với hắn nghe và nói với nhau, tôi vẫn có cảm giác chợn rợn. Khi Luyện tỏ ra ương bướng, chối quanh, tôi buột miệng “thế không lẽ cậu là cái máy chém người à, là rô-bốt sát thủ à?”. Luyện lúng túng buột miệng khai thật thà hơn. Nhưng y không biết rằng, tôi nói Luyện vô như cái máy chém, như con rô-bốt sát thủ, ấy là tôi đã suy nghĩ rất thật thà, rất cá nhân của mình - khi đọc một cách chi tiết diễn tiến vụ việc, khi nghe y khai trực tiếp một cái tường tận hành trình gây án, thảm sát, cắt cổ từng người. Tôi sợ cỗ máy chém người ấy và không khỏi đưa ra giả thiết: ngộ nhỡ hắn chém mình khi chủ quan áp sát hắn thì sao? Dĩ nhiên, không bao giờ có chuyện đó. Vì lý do là cơ quan công an đã rất cẩn trọng và có trách nhiệm. Nhưng lý do tôi đang nghĩ lúc đó lại khác: vì nếu ví dụ Luyện có hung khí, thì hắn đã tự kết liễu đời hắn trước khi gặp tôi!
Sẽ có người bảo tôi là suy nghỉ lẩn thẩn. Nhưng tôi không nghĩ mình quá đa sự. Nếu ai gặp Luyện ở bối cảnh đó, cũng sẽ dễ dàng có suy nghĩ “riêng tư” như vậy.
Tôi đã có mặt ở Phố Sàn sau vụ thảm sát, chứng kiến tiệm vàng Ngọc Bích phủ trắng màu tang. Đã nằm ở UBND xã Phương Sơn, nơi lực lượng điều tra bải hoải thức trắng đêm, làm việc suốt ngày, khi phố Sàn đi đâu cũng gặp công an và… nhà báo dù họ “ngụy trang” thế nào đi nữa. Khi ấy, gần như tất cả những đối tượng đầu xanh đầu đỏ (do nhuộm tóc) đều bị gọi hỏi. Phó Chủ tịch UBND xã Phương Sơn là bạn đồng ngũ của ông chủ tiệm vàng Ngọc Bích xấu số (anh Ngọc) không thôi kể về sự tử tế, chỉn chu, hiền lành như con gái của anh Ngọc. Nghe nói, khi ấy, các cô chủ nhuộm tóc xanh tóc đỏ ở toàn tỉnh Bắc Giang đều bị ế khách; ngược lại, dịch vụ nhuộm đen tóc râu ngô, tóc óng ánh xanh - đỏ - vàng như màu sơn ta sơn Nhật lại thịnh phát. Nghiền ngẫm về các cái sự dịch chuyển của nghề “trang điểm”, chỉnh sửa nhan sắc cho lũ nhầng nhầng lêu lổng thời mới để chúng lắc mình biến thành đối tượng bị người tử tế nhìn vào thấy ghê ghê đó, tôi đã buốt lòng. Dường như có cái gì đó rất quái dị ở đây. Sự quái dị trong nếp nghĩ, trong cung cách quản lý bọn đầu xanh đầu đỏ, bọn choai choai kia đã sinh ra những quái thai của xã hội như Lê Văn Luyện. Nhiều thế kỷ trước, dường như ở Việt Nam chưa bao giờ nghe đến một sát thủ máu lạnh với những tình tiết khiến người ta mất ăn mất ngủ rồi tổn thương cả “tâm trạng xã hội” đến ngần ấy. Chúng ta đã làm gì để sinh ra một cậu bé chưa đầy 18 tuổi mà bỏ ngang tuổi học, mà hư đốn, mà quái quỷ tàn độc như Lê Văn Luyện? Có lẽ bài học này, chủ đề này chúng ta còn phải bàn cãi nhiều.
Vì sao vào trại giam Lê Văn Luyện béo ú lên?
Bây giờ Luyện đang ngồi trong buồng giam nhìn tôi. Ngày xưa, từ thời Pháp khu này thuộc Phủ Lạng Thương, “trại giam Kế” (tên nôm na của Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang hiện nay) đã thành lập. Bây giờ, nơi đây, tràn ngập cây cổ thụ xanh mát, bờ tường vàng vọt rêu phong cổ kính, các vọng gác và bốn bề dây thép gai uy nghi. Trong tĩnh lặng ấy, có tiếng kẹt cửa, loạch xoạch ổ khóa. “Buồng hoàn cung”, nơi Luyện ở rất vắng vẻ. Mùa này, dưới các tán cổ thụ ngợp mát, không có cả tiếng ve, tiếng côn trùng kêu.
Luyện nhổm dậy. Bờ tường nhà giam trắng, những hình khối vững chãi và buồn tẻ. Luyện chỉ có thể nhìn ra ngoài ánh sáng thông qua vài cái ô mắt cáo nhỏ xíu với các chấn song sắt lớn và hoen ghỉ đan cài nhau. Luyện trong bóng tối, anh mắt hắn loang láng, da hắn trắng, sự di chuyển của hắn trong đó mờ mờ trước mắt tôi, như một loài hoang thú. Ô cửa quá bé, buồng giam thì rất rộng. Trước mắt Luyện là một cái ca đựng nước bằng nhựa đỏ chót (chắc các chiến sỹ công an không dám để bất cứ vật gì cứng hơn… chiếc ca nhựa trước mặt “dã nhân” tuyệt vọng đang chờ phiên tòa và bản án thích đáng như Luyện, vì sợ hắn tự vẫn?). Hai lần khóa cửa, hai lần then chốt được mở. Luyện nhanh nhẹn lao ra, hắn lơ ngơ nhìn ngược nhìn xuôi. Đi sang bên phải lại đi sang bên trái. Giống như một con vật bị lỗng xích. Tay chân hắn không bị còng như tôi tưởng. Mặt vẫn lạnh te. Hồi mới bị bắt, Luyện đã ám vào ký ức khủng khiếp của mọi người, rằng hắn có vẻ gì lạnh lạnh, hơi Tây (giống người châu Âu), với xống mũi cao, mặt nhỏ choắt và dài dài, tóc xòa trước trán. Dáng cao. Còn bây giờ, tôi nghĩ chẳng ai là không bất ngờ khi nhìn thấy Luyện khi hắn bước ra khỏi buồng giam. “Sát thủ” trở nên ụ ị, béo nục nạc, mỡ màng. Hắn trắng hơn, càng có vẻ tròn lẳn hơn khi tóc cắt ngắn đi, áo phông trắng bó sát người. Luyện mặc quần dài đen, đi dép lê… đo đỏ. Vẻ lạnh lùng của sát thủ máu lạnh thì vẫn nguyên. Trong mấy chục phút trò chuyện, hiếm hoi lắm mới thấy hắn im lặng như ân hận, như xót xa cay đắng. Có nhà báo bảo Luyện béo lên 7kg, nhiều điều tra viên cũng nhận định tương tự. Tôi hỏi Luyện thì hắn tự ước chừng, “cháu tăng thêm 5kg, kể từ ngày vào trại tạm giam”.
Có người yêu công lý và giàu lòng nhân ái, vì thương các nạn nhân xấu số của vụ thảm sát tiệm vàng Ngọc Bích đã rất có lý khi buột miệng: “thằng Luyện béo như con chó thiến. Sau khi gây thảm họa, giết người hàng loạt, làm kinh động cả xã hội, làm bao người phải khổ sở ngược xuôi phá án, 6 người ruột thịt và họ hàng của nó bị khởi tố, bắt giam, nhưng nó có ân hận, sám hối gì đâu, nó ăn no ngủ kỹ nên béo ú lên như chó thiến đấy mà”. Tôi rất chia sẻ cảm xúc lương thiện của độc giả đó. Song, có lẽ chúng ta cũng phải công bằng. Luyện béo ị lên, phần là do ăn uống điều độ, phần là vì vào trại tạm giam làm gì có thuốc lá đốt suốt ngày, rồi ăn chơi trác táng thâu đêm suốt sáng với gái và game online như “ngoài đời”. Tôi nghĩ vậy và Luyện cũng tâm sự như vậy.
BOX
Trích cuộc phỏng vấn của PV Tuổi trẻ Đời sống với sát thủ máu lạnh Lê Văn Luyện tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Giang, ngày 23/11/2011:
Người yêu của cháu, một cô học lớp 11, một cô học lớp 12, chúng nó trẻ đến mức…
Luyện đang nghĩ gì vào lúc này?
- Cháu thấy ân hận. Lỗi là do cháu gây ra (giết nhiều người, cướp của). Nhưng nhiều người thân trong nhà phải bị liên lụy (cụ thể: 6 người thân và họ hàng khác của Luyện đã bị khởi tố vì tội che giấu tội phạm và không tố giác tội phạm).
Luyện có mong muốn gì vào lúc này?
-Dạ, cháu muốn được cơ quan chức năng khoan hồng, giảm tội cho người thân của cháu.
Thế còn Luyện có ao ước được nhẹ tội vì lý do gì không?
-Cháu không ạ.
Đã làm thì phải dám chịu?
-Vâng ạ.
Luyện có người yêu chưa?
-Có. Người yêu cháu ở cùng quê với cháu, nó cùng học với em cháu. Giờ cô ấy đang học phổ thông trung học. Lớp 11 ạ.
Nghe nói Luyện còn có người yêu nữa, có vài cô cơ mà.
-Một cô nữa ở Lục Nam, cũng học lớp 12, người xã Tam Dị.
Tên cô ấy là gì, tiết lộ được không?
(Im lặng).
Không tiết lộ cũng được. Nhưng, hình như Luyện yêu toàn học sinh, lại toàn học lớp 11 rồi 12 thôi?
-Vâng, người yêu cháu trẻ lắm. Trẻ đến mức, bố mẹ cháu còn bảo, yêu đương gì, để cho con người ta nó đi học.
“Cháu ngủ mơ, thấy đứa bé bị cháu cắt cổ hiện về, nó cứ nhìn cháu và khóc, nó không nói gì cả”
Mục đích của Luyện khi đi cướp, là dùng tiền để làm gì?
-Cháu không biết.
Sao lại không biết. Luyện ra tay một mình hay với ai nữa?
-Một mình ạ.
Luyện nghĩ gì khi bắt đầu cầm dao phớ đi cướp?
-Cháu không biết nữa.
Thế ý định là lấy tiền về để làm gì, chuyện này thì nhất định phải biết chứ?
-Để lấy xe máy ra. Cái xe cháu đi mượn của ông chú và đã cắm ấy.
Thì xe ấy “nhổ” ra chỉ mất mấy triệu đồng thôi, sao đi cướp những đống vàng trị giá mấy tỉ rồi lại quyết tâm giết cả 4 người?
-Vâng.
Hay là muốn làm giàu bằng con đường xấu xa?
-Không, đi cướp như thế thì chỉ có chết, chứ giàu có gì hả chú?
Thì mục đích lấy tiền lấy cái xe đã cắm, sao lấy tiền của người ta rồi còn xuống tay giết cả nhà người ta?
-Lúc đầu cháu chỉ nghĩ là đột nhập vào để lấy tiền thôi, sau đó nó thế nào ấy… Lấy tiền vàng ngay thì sợ chủ nhà người ta phát hiện… Nhà người ta đông người nên cháu không dám vào ngay. Mà cháu cũng sợ người ta sống, người ta sẽ nhớ mặt cháu.
-Luyện có chơi điện tử không?
Có. Cháu từng chơi trắng đêm. Thích nhất trò “Đế Chế”.
Có bao giờ Luyện mơ về những người mà mình đã giết chết một cách hết sức dã man kia không?
-Có, cháu nghĩ về việc đó mà thấy ghê sợ quá. Cháu mơ thấy họ. Đặc biệt, đứa bé nhất mà cháu đã cắt cổ, nó cứ nhìn cháu, nó khóc. Nó không nói gì cả.
“Cháu quay lại, bò lên, móc mắt bà ấy”
Trình tự gây án của Luyện là như thế nào thì cơ quan điều tra đã có kết luận, tòa cũng sắp đưa ra xét xử, bây giờ Luyện kể lại bằng trí nhớ của mình xem nào.
-Tối 24/8/2011, cháu trèo qua cây lộc vừng ở cửa hàng bán bánh mỳ bên cạnh nhà ông Ngọc, chủ tiệm vàng. Trèo lên mái tôn nhà đó, đu sang mái tôn nhà anh Ngọc (chủ tiệm vàng), trèo lên giàn hoa, bẻ cửa đột nhập vào tầng 3. Cháu đi xem khắp các phòng ở đó, không thấy có gì. Cháu lại xuống tầng 2, xem xét xong, không dám vào phòng vì ở đó cả nhà người ta đang ngủ. Xuống tầng 1 tìm vàng. Thấy vàng nhưng không dám lấy, vì sợ nhà người ta phát hiện hô hoán thì mình không chống lại được. Lại lên tầng trên. Rồi lại trèo xuống lần nữa. Không nhớ lúc đó mấy giờ và lên xuống mấy lần. Rồi nằm nghe thấy tiếng động, cháu ra ngồi ở bên ngoài ngồi im (Nói đến đây, Luyện im lặng rất lâu, giọng trở nên lí nhí, không biết vì ám ảnh, sợ hãi, hay xúc động, xấu hổ trước ống kính máy quay của tôi).
Rồi sao nữa?
-Thấy tiếng động gì đó, hình như ông chủ ngồi dậy một lúc. Thấy tiếng động lâu lâu. Lại thấy ông chủ tiệm vàng bê chậu quần áo hay gì đó lên trên cầu thang chắc là để giặt rũ hay phơi phóng. Cháu nấp trong nhà tắm. Ông chủ đi lên tầng đó, cháu ở trong nhà tắm. Lúc sau quay lại, cháu tưởng ông ấy xuống dưới nhà rồi, cháu đi ra ngoài chỗ để dép và ba lô ở ngoài (khi đi cướp, ngoài dao phớ và vũ khí ra, Luyện mang theo ba lô để sau này đựng vàng. Từ đoạn này, Luyện nói lí nhí, mặt cúi gằm, cằm hắn gần chạm vào ngực hắn, chiến sỹ công an phải mấy lần ra hiệu Luyện ngửng mặt lên nhưng hắn vẫn cứ như vậy, rất khó nghe, dù phòng hỏi cung lặng ngắt như tờ). Cháu thấy ông chủ lên lấy đồ, rồi nhếch môi mỉm cười gì đó (?). Cháu chạy theo mép tường chờ ông ấy đi ra. Cháu đâm ông ấy một nhát. Ông ấy kêu “cướp cướp”. Cháu đâm liên tục. Vợ ông ấy chạy lên hô “cướp cướp, bà con ơi cướp!”. Bà chủ lao vào ôm cháu. Cắn cháu. Máu của cháu bị chảy nhiều. Rồi giằng co bà ấy ngã xuống. Họ giằng con dao của cháu. Ông chủ đâm cháu. Bà chủ kêu, “đâm chết nó đi anh!”. Nhưng ông ấy đâm cháu bị trượt, bà vợ lại kêu “anh đâm nhầm vào chân em rồi”. Cháu giơ chân lên đạp, ông chủ ngã xuống. Cháu lúc ấy cũng bị ngã. Bà chủ lộn lên bóp cổ cháu. Bà cắn vào ngực cháu rất mạnh. (Ngừng rất lâu. Luyện mới lí nhí tiếp, cả phòng hỏi cung im phăng phắc, nhưng tiếng Luyện càng rất khó để nghe cho rõ ràng). Cháu quay lại móc mắt bà ấy…
Móc mắt chị Bích, bà chủ tiệm vàng? Có đúng Luyện vừa nói như vậy không?
- Vâng, đúng. Vì tự nhiên thấy tay cháu ở ngay dưới gần mắt bà ấy, thế là cháu móc mắt… Cháu lật người bà ấy ra. Nhào lên… cắt cổ bà ấy.
(còn nữa)
Bài 2:
Lê Văn Luyện, nếu được “xử án” cho tội ác của mình: “Cháu đáng tội chết!”
1 2 3 4 5 ... 18 Next »