Các căn cứ quân sự của Trung Quốc trên Biển Đông
Suốt thời phong kiến, các triều đại Trung Hoa không xem biển cả là khu vực cần chinh phục mà coi đây là một chiến lũy thiên nhiên, cần chú trọng đến hải phòng (phòng ngự bờ biển) và hải cấm (cấm đoán những qua lại trên biển) nhằm chống ngoại xâm hay ngăn ngừa những nhóm chống đối âm mưu bạo loạn, chẳng hạn “Tỏa quốc cấm hải” là chính sách của nhà Thanh ban bố năm 1661 (Thuận Trị 18). Cho đến tận thế kỷ XIX, những ai dùng thuyền ra khơi nếu không có sứ mạng hay được phép của triều đình đều bị coi là giặc. Tuy nhiên, chiến lược biển của Trung Quốc ngày nay đã hoàn toàn thay đổi và đầy tham vọng.
1. Tháng 9/2008, Tạp chí “Bình luận phòng vệ Hán Hòa” của Canada đã đăng tải bài viết “Trung Quốc tăng cường xây dựng căn cứ quân sự tình báo ở quần đảo Hoàng Sa”. Theo đó, cùng với việc xây dựng các căn cứ tàu ngầm bí mật ở đảo Hải Nam, hải quân và không quân Trung Quốc đang tăng cường xây dựng các căn cứ trên quần đảo Hoàng Sa, trong đó có sân bay quân sự lớn nhất trên biển và trạm thu thập tin tức tình báo siêu cấp. Các loại ăngten đã được bố trí dày đặc trên một đảo nhỏ thuộc quần đảo Hoàng Sa. Đảo nhỏ này thông qua một hành lang nhân tạo xây dựng trên biển đã nối liền với đảo Vĩnh Hưng. Ăngten cỡ lớn trang bị trên đảo có thể theo dõi được toàn bộ hoạt động trên Biển Đông, tới tận Malaysia.
Sau khi chiếm cứ Hoàng Sa của Việt Nam, Trung Quốc đã xây dựng sân bay với tham vọng biến đảo này thành “hàng không mẫu hạm không bao giờ chìm” (ảnh: visithainan.com.au)
Những tín hiệu thu được sẽ được đưa vào ghi âm và xử lý tại 4 tòa nhà lớn xây dựng trên đảo. Những căn cứ thuộc loại này sẽ do phòng 3 và phòng 4 thuộc Bộ Tổng tham mưu Quân Giải phóng quản lý. Phòng 3 phụ trách thu thập, phân tích và giải mã tin tức tình báo. Phòng 4 phụ trách đối kháng điện từ. Tất cả những tin tức tình báo này sau khi được tập hợp lại sẽ do Bắc Kinh phụ trách phân tích, giải mã. Sân bay quân sự trên đảo Vĩnh Hưng của quần đảo Hoàng Sa cũng được xây dựng lại, đường băng hiện đã dài hơn 2.500m, một bộ phận đường băng đã vươn ra tận biển, đủ để cho bất kỳ loại máy bay thế hệ ba nào của Trung Quốc như SU-30MKK có thể lên xuống.
Sân bay xây một trạm radar, 4 nhà kho chứa xăng dầu cỡ lớn, 4 nhà kho có thể dùng để sửa chữa máy bay. Căn cứ hải quân cũng được xây dựng lại cùng với đê chắn sóng, cầu tàu dài 500m, có thể neo đậu tàu khu trục và tàu hộ tống. Các công trình kiến trúc xây dựng trên đảo có thể đủ dùng cho hàng nghìn người sinh hoạt bình thường. Điều này cho thấy quần đảo Hoàng Sa đã trở thành căn cứ quân sự tổng hợp chủ yếu của hải quân, không quân và thu thập tin tức tình báo của Trung Quốc. Tại đây mỗi tuần có tàu đổ bộ chuyên chở nhiên liệu thực phẩm tiếp tế cho đảo.
Mục đích của việc Trung Quốc tăng cường xây dựng căn cứ quân sự trên đảo Vĩnh Hưng là để tạo nên một căn cứ tiền duyên mạnh, phối hợp với các căn cứ tàu ngầm và tàu nổi ở đảo Hải Nam, nhằm thâm nhập quân sự sâu hơn nữa vào toàn bộ khu vực Biển Đông. Một khi eo biển Đài Loan có chiến sự, đảo Vĩnh Hưng sẽ là “tàu sân bay không bao giờ chìm”, giám sát quân Mỹ tăng viện từ hướng Bắc của Ấn Độ Dương. Bán kính tác chiến của máy bay SU27, SU30MKK cất cánh từ quần đảo Hoàng Sa có thể bao trùm lên toàn bộ Biển Đông, tới tận Malaysia, Phillipines và Brunei.
2. Tháng 3/2009, Đới Hy – Đại tá Không quân Trung Quốc đã hô hào trên một tờ báo về việc nước này cần thiết lập căn cứ quân sự quy mô lớn tại Trường Sa để bảo vệ nguồn tài nguyên ở Biển Đông (?!). Vị Đại tá này nhận định, tương lai Trung Quốc phụ thuộc vào các vùng biển đảo là không hề phóng đại. Trung Quốc không thể giàu mạnh nếu không có nguồn lợi từ biển và không bảo đảm được an ninh cho các tuyến giao thương hàng hải nên Trung Quốc cần hiểu rõ tính cấp bách trong việc chạy đua với các nước láng giềng.
Một căn cứ quy mô lớn phải được thiết lập tại Biển Đông, là tiền đề cho sự hiện diện ngoài khơi của Trung Quốc trên thế giới. Một khi dây chuyền hàng hải bao gồm các ngành đánh cá, sinh học biển, dầu khí, vận tải, du lịch, dịch vụ… được thành lập sẽ trở thành động lực kinh tế lớn lao cho tỉnh Hải Nam và cả nước Trung Quốc. Cùng với việc phát triển nguồn tài nguyên Biển Đông, vị Đại tá này cho rằng, cần thiết lập căn cứ quân sự trên quần đảo Trường Sa với các cơ sở dành cho máy bay trực thăng và các loại hình tác chiến khác. Hải phận và không phận rộng lớn ở Biển Đông sẽ trở thành địa điểm huấn luyện quân sự không chỉ bảo vệ phát triển kinh tế của Biển Đông mà còn thúc đẩy hiện đại hóa quân đội của nước này.
3. Trong cuốn “An ninh và chính trị quốc tế ở Biển Đông” – NXB Routledge, New York, 2009, GS Trường cao đẳng Hải quân Mỹ Bruce A. Elleman cũng nhận xét rất đáng để chúng ta tham khảo rằng, các căn cứ quân sự của Trung Quốc ở Biển Đông đang dần được củng cố và có khả năng tác chiến cao hơn. Điển hình là đảo Hải Nam với hạ tầng cơ sở viễn thông được nối kết rất tinh vi và được ngụy trang rất khó phát hiện. Trong thập niên 90 của thế kỷ trước, Trung Quốc tiếp tục xây dựng thêm các căn cứ quân sự trên một số hòn đảo khác thuộc quần đảo Trường Sa.
Quần đảo Hoàng Sa nhìn từ máy bay (ảnh: Wikipedia)
Dựa trên các thiết bị điện tử và cơ sở vật chất được quan sát qua vệ tinh thì đảo Phú Lâm và bãi đá Gạc Ma dường như là hai căn cứ chính cho các hoạt động bành trướng của Trung Quốc kéo dài từ Biển Đông đến tận eo biển Malacca. Các đảo và các rặng đá ngầm khác có vũ trang của Trung Quốc được kết nối qua vệ tinh hay trạm vô tuyến mặt đất và thậm chí họ còn có mạng Internet để liên lạc giữa các tướng lĩnh địa phương và các hạm đội. Đó là chưa kể đến các thiết bị điện tử tinh vi trên các chiến đấu cơ, tàu chiến, tàu ngầm, tất cả đều phục vụ vào việc tăng cường tiềm năng quân sự sẵn có trên đất liền của Trung Quốc trở nên đáng sợ hơn.
Phần lớn các căn cứ quân sự ở bờ biển phía nam Trung Quốc được kết nối vô tuyến với các hoạt động hải quân ở ngoài khơi. Trung tâm đầu não của hệ thống viễn thông này dường như tập trung ở đảo Hải Nam. Mặc dù là tỉnh nhỏ nhất của Trung Quốc tính về mặt lãnh thổ, chỉ khoảng 35.000km2 nhưng Hải Nam là nơi đặt tổng hành dinh của Cục bờ biển và hải đảo Trung Bộ, Tây và Nam Trung Quốc để giám sát quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa và quần đảo Trường Sa. Vùng biển đảo Hải Nam xấp xỉ khoảng 2 triệu km2, để kiểm soát được một khu vực rộng lớn như thế, một radar lớn loại quét sóng quá chân trời được đặt gần bờ biển Hải Nam và chĩa thẳng về hướng Nam. Trong thập niên 70, Trung Quốc đã từng thử nghiệm radar loại OTH có đường kính 2,3m với khả năng phát hiện tàu qua lại trong vòng bán kính 250km.
Để tuần tra khu vực này, các tàu hải quân Trung Quốc được trang bị hệ thống định vị có khả năng bắt tín hiệu vệ tinh của Trung Quốc cũng như của nước ngoài. Một thiết bị hướng dẫn hải quân chính khác là hệ thống định vị mặt đất kỹ thuật số DGPS có độ chính xác khoảng 5-10m trong phạm vi hoạt động 300km. Việc nghiên cứu được bắt đầu vào thập niên 70 qua 3 trạm tín hiệu hỗ trợ hướng dẫn vô tuyến điện công suất lớn ở miền Nam Trung Quốc. Trong khi đó các trạm tín hiệu hỗ trợ hướng dẫn vô tuyến kết nối hàng hải (RBN-DGPS) được đặt ở Tam Á, Hải Khẩu và Haifou. Một trạm tín hiệu DGPS khác có công suất cao hơn với tần số 295kHz được đưa vào hoạt động vào năm 1999 tại Tam Á, sau đó thêm hai trạm ở Yangpu và Baohujiao cũng tại miền Nam Trung Quốc.
Từ năm 2000, Trung Quốc đã phóng 3 vệ tinh lên quỹ đạo để thiết lập cho riêng họ hệ thống vệ tinh định vị khu vực Beidou, còn gọi là “Big Dipper”, có thể phủ sóng khắp Biển Đông. Trong khi đó, dịch vụ kiểm soát hàng hải (VTS) được đặt ở Trạm Giang với sự hỗ trợ của hệ thống vi tính hiện đại và các radar được xây dựng dọc theo bờ biển phía tây Hải Nam tại Dong Fang và Hải Khẩu, đa số mua của Công ty Hoa Kỳ Lockheed Martin nhằm trang bị các phần cốt lõi của hệ thống hàng hải viễn liên. Trung Quốc cũng đặt mua một số hệ thống tình báo điện tử (ELINT) quan yếu để lắp đặt trên đảo Hải Nam gồm có một trạm tại phía tây nam và một trạm ở bờ biển phía đông nam thuộc căn cứ không quân Lăng Thủy (Lingshui), khu liên hợp quân sự được thành lập vào năm 1968 và sau đó được mở rộng rất nhiều vào năm 1995, với khoảng 1.000 chuyên gia phân tích tín hiệu ở đây.
Để hỗ trợ cho các hoạt động tàu ngầm ở khu vực này, một trạm vô tuyến tần số thấp công suất cao đã được xây dựng ở Hải Nam vào năm 1965. Một căn cứ tàu ngầm ở Ngọc Lâm (Yulin) được nối kết chặt chẽ với tổng hành dinh của các tàu nhỏ và tàu ngầm. Những trung tâm này bao gồm việc thông tin vô tuyến tần số rất thấp (VLF) với tàu ngầm và các tàu mặt biển ở vùng Biển Đông. Tính tới năm 1985, 5 trung tâm vô tuyến VLF được đặt ở Phúc Châu (Fuzhou), Lữ Thuận Khẩu (Lushun), Ninh Ba (Ningbo), Trạm Giang (Zhanjiang) và Ngọc Lâm (Yulin). Hệ thống quản lý giao thông vô tuyến này còn giúp điều phối một cách hiệu quả các tàu ngầm quân sự đang di chuyển trong vùng nước nông trên eo biển Quỳnh Sơn (Qiongzhou) nằm giữa đảo Hải Nam và lục địa.
4. Theo GS Bruce A. Elleman, quần đảo Hoàng Sa là nơi Trung Quốc có các căn cứ quân sự đứng thứ hai về tầm quan trọng chỉ sau Hải Nam xét về phương diện hệ thống hỗ trợ điện tử vô tuyến. Ảnh chụp từ không gian trong thập niên 80 cho thấy ở đây đã xuất hiện một chuỗi ăngten lớn gồm 16 chiếc, mỗi chiếc gồm 8 nhánh ăngten trời. Đây có thể là một trạm VHF, nhưng lại được miêu tả rất khác nhau như là một ăngten thông tin vệ tinh hay là một mảnh hình thánh giá của radar cảnh báo thế hệ cũ. Đảo Phú Lâm hình như được trang bị một radar tiếp cận chính xác (PAR), tần số X kiểu 791. Tháng 6/2001, có một nguồn tin không chính thức cho rằng, Trung Quốc đã đưa tên lửa chống hạm HY-2 lên đảo Phú Lâm. Ngoài ra còn có thêm một khu đặt súng cao xạ bắn máy bay ở đầu cuối phía bắc đảo Phú Lâm. Từ năm 1991, cả thảy đã có 67 chiến đấu cơ với tổng cộng 14 lần điều động đến đảo này.
Một lô cốt phòng thủ của Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa được sơn ngụy trang
Trong khi đó một cảng thuộc đảo Quang Hòa Đông (Duncan) – đảo lớn thứ hai ở Hoàng Sa đã được mở rộng với việc gia cố các công sự phòng thủ và lắp đặt các trang thiết bị điện tử viễn thông. Mặc dù chưa thấy có tin tức gì về các thiết bị vô tuyến được xây dựng trên đảo Duy Mộng, trọng tâm của cuộc hải chiến Việt – Trung vào năm 1974, nhưng giữa năm 1995, một trạm thám báo vô tuyến mới được đưa vào hoạt động ở đảo Hòn Đá (Rocky) gần đảo Phú Lâm.
Dù Trung Quốc đã nhiều lần tuyên bố là sẽ không can thiệp vào việc tự do đi lại của các tàu bè quốc tế, nhưng họ từ chối minh bạch hóa những vùng nào mà họ tuyên bố là có chủ quyền. Bằng cách vẽ “đường yêu sách chín đoạn” bao quanh quần đảo Hoàng Sa, Bắc Kinh rõ ràng đã đơn phương sáp nhập vào họ các vùng lãnh hải và không phận thuộc vùng tự do đi lại quốc tế từ xưa đến nay. Rất có thể Bắc Kinh sau này sẽ bắt buộc các tàu bè qua lại phải xin phép khi đi qua các vùng đang được tự do di chuyển hiện nay. Dĩ nhiên là bây giờ Trung Quốc chưa thể áp đặt một chính sách như thế nhưng khi họ đủ mạnh, họ có thể sẽ thực hiện điều này. Việc Trung Quốc gia tăng sức mạnh quân sự và thám báo trên quần đảo Trường Sa khiến khả năng có một chính sách kiểm soát qua lại trên Biển Đông nghiêm ngặt như thế ngày càng trở nên hiện thực hơn.
Trong quá khứ quần đảo Trường Sa gần như chỉ có lính đồn trú người Việt, cho mãi đến Thế chiến II khi Nhật Bản xây dựng các công sự ở đảo đá Danger, cồn Tizard và đảo Nam Yết; rất nhiều khu vực đó hiện nay đang có quân đội Việt Nam và Philippines trú đóng. Đảo Ba Bình là một trong những đảo nằm xa nhất về hướng Bắc của quần đảo Trường Sa và là một trong số rất ít những đảo đủ lớn để xây dựng một sân bay và một căn cứ tàu ngầm. Đài Loan vẫn tiếp tục chiếm giữ đảo Ba Bình và gần đây đã kéo dài đường băng ở đấy để có thể tiếp nhận được những máy bay trọng tải lớn hơn.
Vào thập niên 80, các cuộc tuần tra trên biển bằng các tàu nghiên cứu đại dương đều được các tàu chiến Trung Quốc hộ tống. Sau khi các tàu dân sự và tàu khoa học thăm dò khu vực này vào tháng 10/1987, Trung Quốc đã đánh chiếm bãi đá Chữ Thập vào tháng 3/1988. Năm 1988-1989, vài chục tàu chiến Trung Quốc cũng tiến hành các cuộc tập trận lớn trùng với việc chiếm đoạt thêm một số dải đá ngầm chiến lược ở quần đảo Trường Sa. Tới thập niên 90, Trung Quốc lại khởi công xây dựng các trạm đóng quân tạm thời và các công trình bát giác bằng gỗ trên các cọc gỗ ở sáu rặng đá ngầm và gọi đó là “những chòi trú bão”. Một căn cứ quân sự nhỏ khác cũng được xây dựng ở bãi đá Gạc Ma.
Theo các bức không ảnh, các nhà gỗ bát giác tạm thời này ban đầu được xây trên những cọc gỗ nhưng đến năm 1989 thì bắt đầu được lắp đặt ăngten. Trong khi đó ở rặng đá Subi (Subi Reef), Trung Quốc cho xây một trại lính và một tòa nhà hai tầng cùng với một ăngten liên lạc vệ tinh. Trạm này cũng có một sân đáp trực thăng và một cầu ximăng kiên cố với nhịp uốn nối liền với tòa nhà sở chỉ huy. Năm 1995, Trung Quốc bắt đầu xây dựng trên bãi đá Vành Khăn (Mischief Reef) và khoảng năm 2000, các bệ súng và các thiết bị điện tử chính được lắp đặt thêm ở một tòa nhà nhỏ hơn ở phía bắc. Các cầu tàu, bãi đáp trực thăng và một số súng phòng không đã được dựng lên, cùng với một hệ thống tên lửa chưa xác định được là loại gì. Có một vài báo cáo cho rằng, đó là những tên lửa chống hạm Silkworm.
Trong khi đảo Hải Nam là nơi đồn trú tất cả các căn cứ hải quân và không quân chủ lực, thì các phương tiện thiết bị nhỏ hơn nhiều ở quần đảo Trường Sa và Hoàng Sa giúp liên lạc và thám báo cho các cuộc viễn chinh hàng hải đầy tham vọng trong tương lai và cho các tàu ngầm Trung Quốc thường xuyên qua lại Biển Đông. Để hỗ trợ cho các tàu trên mặt biển, Trung Quốc đã dần dần tăng số lượng máy bay, tàu ngầm và hạm đội trong vùng biển nóng bỏng này.
Đông Phương (tổng hợp)
Cam Ranh – nơi tình bạn đã được thử thách qua thời gian
Ít người nhớ rằng, trọn vẹn tròn cách đây 10 năm, ngày 4-5-2002, những người lính Nga cuối cùng đã bước chân lên tầu Xakhalin từ biệt căn cứ Cam Ranh sau gần 1/4 thế kỷ có mặt tại nơi này. Cam Ranh đã được gửi lại cho Việt Nam, như một căn cứ đầy đủ cơ sở nền tảng để trở nên hùng mạnh. Và dường như cho đến tận bây giờ, phần đông trong số chúng ta không thực sự biết gì nhiều về căn cứ ấy.
1. Ngày 23-4-2012, khi ba chiến hạm Mỹ cập cảng Tiên Sa, Đà Nẵng để bắt đầu 5 ngày hoạt động giao lưu, trao đổi hải quân “phi tác chiến” với Việt Nam, một hãng thông tấn nước ngoài đã bình luận rằng, nếu các chuyến ghé cảng này được nói một cách công khai, thì có một khía cạnh hợp tác Mỹ – Việt khác ít được loan báo: Đó là chiến hạm Mỹ đã được gửi đến sửa chữa, bảo trì tại các cảng Việt Nam. Theo Hạm đội 7, tàu hải quân Mỹ đã có lần được gửi đến sửa chữa tại các xưởng đóng tàu Việt Nam. Gần đây nhất, vào năm 2012, chiếc USNS Rappahannock (T-AO-204) đã có chuyến đến bảo trì tại Nhà máy đóng tàu Cam Ranh.
Một bài bình luận thú vị trong không khí biến động thời cuộc không ngừng của Biển Đông. Cam Ranh đã âm thầm phát triển, trở thành một tổ hợp hải quân và không quân hùng mạnh, với các trang bị phương tiện kỹ thuật hiện đại có thể đánh trả mọi đe dọa chiến tranh với Việt Nam, như lời Trung tướng, Viện sĩ Viện Hàn lâm Khoa học Tự nhiên LB Nga A.V Phêđôrôvich nhận xét. Lời trung tướng A.V Phêđôrôvich hoàn toàn có cơ sở, bởi ông là một trong số những người thợ xây dựng Xô Viết có mặt ở Việt Nam từ những năm 1980, và ông không xa lạ gì với căn cứ Cam Ranh.
Giới tinh hoa quân sự đã thừa nhận vị trí của Cam Ranh có tầm ảnh hưởng to lớn tới bản đồ địa – chiến lược toàn cầu, cho dù họ có đứng ở các chân trời quan điểm nào đi chăng nữa. Năm 1888, Hải hạm của Nga mang tên “Tráng sĩ” trong chuyến đi vòng quanh thế giới đã cập cảng Cam Ranh, sau đó, nơi đây đã trở thành quân cảng của các nước lớn thay nhau đồn trú trong vòng gần 100 năm trở lại đây. Trong cuộc chiến Nga – Nhật 1905, hơn 100 chiến thuyền thuộc Hạm đội Thái Bình Dương số 2 của Hải quân Nga Hoàng đã từng tập trung tại Cam Ranh. Năm 1935, thực dân Pháp bắt đầu cho xây dựng căn cứ hải quân tại Cam Ranh. Năm 1940, Cam Ranh rơi vào tay Nhật Bản, trở thành bàn đạp để Nhật Bản tiến đánh Malaysia và các quần đảo thuộc địa của Hà Lan (nay là Indonesia). Ngày 18-10-1946, Cam Ranh là nơi diễn ra cuộc hội kiến giữa Hồ Chủ tịch và cao ủy Pháp D’Argenlieu. Cuộc gặp gỡ được tổ chức trên thiết giáp hạm Suffren, có các vị chỉ huy hải, lục, không quân Pháp và các nhà báo nước ngoài. Trong bữa tiệc trên chiến hạm Suffren, khi D’Argenlieu bóng gió nói: “Thưa ngài Chủ tịch, Ngài thật đang bị đóng trong cái khung”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mỉm cười và trả lời: “Nhưng mà Ngài Đô đốc biết đấy, chính bức tranh làm nên giá trị cái khung”. D’Argenlieu lại nói: “Chủ tịch thật quen với biển cả, có lẽ xin tặng Người danh hiệu “Người thủy thủ nhỏ” như quân đội Pháp đã quý mến tặng Napoleon cái tên “Người đội trưởng nhỏ!”. Chủ tịch Hồ Chí Minh đáp lại: “Phải, người thủy thủ nhỏ của Hải quân Việt Nam”.
Từ năm 1965 – 1972, Mỹ đã xây dựng Cam Ranh thành một căn cứ quân sự khổng lồ được bảo vệ “bất khả xâm phạm” để làm cứ điểm tiếp liệu và khí tài quân sự cho chiến tranh, đồng thời khống chế hành lang phía tây Thái Bình Dương. Hầu hết cây cối đã bị đốt trụi để làm căn cứ. Khi chiến tranh quyết liệt nhất vào năm 1969, Linđen Giônxơn đã đến thị sát căn cứ này, và đó là chuyến thăm đầu tiên của một Tổng thống Mỹ khi tới Việt Nam. Lúc đó, căn cứ không quân của Mỹ ở vịnh Cam Ranh rất lớn, bao gồm hai sân bay cho máy bay phản lực và một sân bay cho máy bay trực thăng, mỗi sân bay có sức chứa hơn 100 máy bay. Người Mỹ còn tiến hành khoét núi Cam Ranh, xây dựng kho chứa máy bay trong lòng núi, nâng cấp đường băng lớn có thể cho máy bay ném bom chiến lược B52 cất và hạ cánh. Vào lúc cao điểm, sân bay quân sự Cam Ranh có tần suất hạ cánh và cất cánh cao nhất thế giới.
Năm 1972, người Mỹ trả lại căn cứ này cho quân đội Sài Gòn và 3 năm sau quân đội Miền Bắc Việt Nam đã giải phóng Cam Ranh. Khi người Miền Bắc tiếp quản, Cam Ranh đã bị phá hủy hoàn toàn các bến neo tầu, đường xá, sân bay, hệ thống đường dây tải điện cũng như các khu nhà ở.
Mục đích của việc tàn phá Cam Ranh là không để lại cho đối phương sử dụng. Đồng thời, người Mỹ cho xây dựng tại Xubic bên bờ biển Philippines, nằm đối diện với Cam Ranh một căn cứ hải quân cực mạnh với hơn hai chục bến tàu trên tổng chiều dài 9km, có thể cho phép cùng một lúc neo đậu tới 35 tầu chiến. Dung tích các bể chứa dầu của căn cứ này là 400 ngàn tấn, hay nói cách khác là lớn gấp 40 lần dung tích kho chứa nhiên liệu tạm thời của căn cứ Cam Ranh ở thời điểm năm 1987. Còn kho chứa vũ khí của Mỹ với 50 ngàn tấn đạn dược và xưởng sửa chữa tầu biển Xubic thì chẳng có gì so sánh được.
2. Chuẩn đô đốc E.I Prokôpievich, người cuối cùng lên cầu tầu thủy Xakhalin -9 rời Việt Nam năm 2002 trong cương vị Chỉ huy trưởng Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật 922 của Cam Ranh nhận định, căn cứ quân sự trước đây của Mỹ trên bán đảo Cam Ranh – Khánh Hòa đã thu hút sự chú ý Liên bang Xô Viết bằng chính vị trí địa lý của nó, xét về mọi phương diện thì hoàn toàn ưu việt cho việc triển khai một căn cứ hải quân. Nó cho phép khống chế các eo biển Malaysia và Philippines, có thể tiến hành trinh sát điện tử Biển Đông, biển Philippines, Đông Hải, thậm chí tới tận khu vực vịnh Pécxich hay vùng bắc Ấn Độ Dương. Bán đảo Cam Ranh bọc trong mình hai vịnh Bình Ba và Cam Ranh, nơi không chịu ảnh hưởng của các hiện tượng thời tiết, có độ lớn và sâu để có thể neo đậu mọi loại chiến hạm và tầu hộ tống, kể cả tầu sân bay.
Từ những năm sáu mươi của thế kỷ trước, hải quân Liên Xô đã vươn ra biển lớn, bắt đầu tiến hành trực ban chiến đấu trên các đại dương. Tầu chiến, tầu ngầm, máy bay hải quân được triển khai trên các đại dương nhằm mục đích bình ổn cục diện chung. Việc mở rộng quy mô cũng như vùng hoạt động của tầu thuyền và không quân trên biển yêu cầu phải có mạng lưới hậu cần kỹ thuật hải quân rộng khắp. Vì không có căn cứ quân sự ở nước ngoài nên Liên Xô đã xây dựng trạm cung ứng vật tư kỹ thuật trên lãnh thổ các nước có quan hệ thân thiện, đương nhiên Cam Ranh là một điểm sáng tô son. Cuối năm 1978, nhóm sĩ quan đại diện cho các tổng cục của Bộ tư lệnh Hải quân và của Hạm đội Thái Bình Dương đáp máy bay sang Việt Nam để ngày 30/12 đã thỏa thuận xong và ký biên bản ghi nhớ làm cơ sở đàm phán xây dựng và cùng khai thác Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật.
Ngày 2-5-1979, Chính phủ LB CHXHCN Xô Viết và Chính phủ nước CHXHCN Việt Nam đã ký hiệp định về việc sử dụng Cam Ranh làm Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật cho hạm đội Thái Bình Dương của quân đội Liên Xô – thực chất là hợp đồng cho thuê không mất phí trong 25 năm. Ngay ngày hôm đó, thi hành lệnh của Bộ tổng tham mưu các lực lượng vũ trang Liên Xô và chỉ thị số 13/1/0143 của Cục tham mưu hạm đội Thái Bình Dương ngày 28-8-1980 đã thành lập Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật trên bán đảo Cam Ranh mang phiên hiệu đơn vị 31350.
Theo quy định trong Hiệp định, tại quân cảng Cam Ranh cùng lúc có thể tập trung từ 8 – 10 tầu chiến Liên Xô, 4 – 8 tầu ngầm có khu neo nổi và tối đa 6 tầu hộ tống. Tại sân bay cùng lúc có thể tiếp nhận từ 14 – 16 máy bay mang tên lửa, 6 – 9 máy bay trinh sát do thám và 2 – 3 máy bay vận tải. Tùy theo tình hình chiến sự cụ thể, số lượng máy bay và tầu chiến có thể tăng lên theo thỏa thuận giữa hai Bộ quốc phòng Liên Xô và Việt Nam.
Tháng 5/1979, các tầu chiến Liên Xô bắt đầu đi vào hải phận Cam Ranh. Mùa hè năm đó, tầu ngầm nguyên tử phóng ngư lôi K – 45 đã neo đậu tại Cam Ranh, sau đó ít lâu, các máy bay hải quân của hạm đội Thái Bình Dương bắt đầu hạ cánh.
Tháng 12/1979, Tổng tư lệnh Hải quân Liên Xô, Đô đốc X. Gorskốp tới Cam Ranh và ông đã dành hẳn một ngày để quan sát vịnh biển này, giống y như cách Tổng thống Mỹ Giônxơn đã tới để ngắm nhìn địa thế “sông núi nước Nam” 10 năm về trước. Phân đội đầu tiên của Hạm đội Thái Bình Dương gồm 54 người đến đây tháng 4/1980 và tháng 8 năm đó quân số được bổ sung thêm 24 người thuộc bộ phận thông tin liên lạc.
Bộ Tổng tư lệnh các lực lượng vũ trang và chính phủ Liên Xô đã giao cho Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật 922 những nhiệm vụ sau đây: Đảm bảo an toàn neo đậu cho các chiến hạm và tầu hộ tống trong thời gian nghỉ tại Cam Ranh, cung cấp điện, nước, nhiên liệu và lương thực thực phẩm cho các tầu này; Duy trì cơ số vật tư kỹ thuật dự trữ theo quy định, cấp phát và vận chuyển vật tư kỹ thuật lên các chiến hạm và các tầu hộ tống của Hải quân đi qua đây (trong đó có phụ tùng thay thế, trang bị kỹ thuật và trang bị tầu); Đảm bảo liên lạc tiếp sức cho các chiến hạm và tầu hộ tống của Hải quân tại Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương với chỉ huy sở của Hạm đội Thái Bình Dương và của Bộ tư lệnh Hải quân; Sử dụng sân bay Cam Ranh làm nơi đỗ của máy bay chống tầu ngầm và máy bay trinh sát; Trợ giúp y tế chuyên môn sâu… Chính bởi thế, Cam Ranh đã giảm nhẹ đáng kể áp lực cho Hạm đội Thái Bình Dương nói riêng và toàn bộ Hải quân Liên Xô nói chung trong việc cung cấp những dự trữ cần thiết cho các chiến hạm và tầu hộ tống đang làm nhiệm vụ tại Biển Đông trong tình hình chiến sự lúc đó của khu vực Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Và Cam Ranh trở thành căn cứ hải quân lớn nhất của Liên Xô ở nước ngoài, căn cứ duy nhất bên bờ Biển Đông, nơi cách cảng gần nhất của Nga tới 2.500 hải lý.
3. Từ mùa thu năm 1983 đến tháng 8 năm 1991, hải đoàn cơ động số 17 triển khai tại Cam Ranh, từ tháng 8 – 1991 đến tháng 12 – 1991 được thay thế bằng hải đoàn cơ động số 8 và sau đó là hải đội tầu hỗn hợp 119. Thời điểm năm 1986, trên sân bay triển khai trung đoàn không quân hỗn hợp độc lập gồm 4 máy bay Tu – 95, 4 chiếc Tu – 142, phi đoàn máy bay Tu-16 khoảng 20 chiếc các loại, phi đoàn Mic 25 khoảng 15 chiếc, hai máy bay vận tải An – 24 và 3 máy bay lên thẳng Mi-8. Ngoài ra trung đoàn còn quản lý và chỉ huy căn cứ chống tầu ngầm, tiểu đoàn tên lửa và tiểu đoàn kỹ thuật.
Tháng 2 năm 1984, theo đề nghị của phía Việt Nam, Chính phủ Xô Viết đã quyết định khôi phục và xây dựng thêm một loạt công trình tại căn cứ Cam Ranh. Việc xây dựng Cam Ranh bước sang một giai đoạn mới, chuyển từ hình thức tự hạch toán kinh tế sang hình thức đấu thầu khoán gọn, bắt đầu giai đoạn xây dựng kiên cố thay cho các kết cấu lắp ghép tạm thời. N.M Zariphôvich – Phó TGĐ Cty xây lắp Liên Xô tại Việt Nam giai đoạn 1987 – 1989 đã kể lại trong cuốn “Liên Xô – một từ không bao giờ quên” (Nguyễn Đình Long dịch) rằng, Cục kỹ thuật xây dựng nước ngoài thuộc Bộ quốc phòng Liên Xô, đơn vị có nhiều kinh nghiệm xây dựng các công trình ở hơn 60 nước trên thế giới đảm nhiệm việc lựa chọn và đưa chuyên gia đến Cam Ranh. Họ là những chuyên gia tài năng của các đơn vị trong và ngoài quân đội được các tổ chức Đảng, Đoàn giới thiệu, được chở sang bằng đường hàng không qua Mátxcơva hay Vlađivôxtốc theo hành trình Mátxcơva – Tasken – Karachi (đôi khi là Bombay) – Kancútta – Hà Nội – Cam Ranh.
Trong thời gian bay kéo dài 17 giờ, các chuyên gia được cử đi công tác và thân nhân đi cùng đã nhận thấy những khác biệt trong đời sống mỗi nước. Từ Tasken, vì sẽ bay qua bầu trời Ápganistan đang nóng bỏng chiến sự nên phải bay đêm trên tầm cao. Máy bay hạ cánh ở sân bay Karachi ban đêm, các tay súng Pakistan vây kín xung quanh, không cho xuống sân bay. Một giờ rưỡi máy bay đỗ trong đêm tối, bị bao vây, không điều hòa và không quạt gió, để chờ đổi kíp bay và nhận lên máy bay nước uống đóng chai dán nhãn Coca-Cola. Khi tới Hà Nội, họ được nghỉ tạm tại khách sạn Kim Liên, sau đó được đưa sang sân bay Gia Lâm để vào Cam Ranh bằng máy bay AN-12. Tại nơi này, một công trường xây dựng khổng lồ trên diện tích khoảng 100km2 đang chờ đón họ.
4. Trên cơ sở Hiệp định ký giữa Liên Xô và Việt Nam ngày 20-4-1984, hai bên đã ký hợp đồng xây dựng cụm đài Ra-đa số ba, là công trình viện trợ không hoàn lại. Tính chung từ năm 1984 đến năm 1987, Tổng công ty xây lắp Liên Xô do E.X Bôprênhep làm Tổng giám đốc đã xây dựng tổng cộng 28 nhà ở và công trình chuyên dụng các loại. Lúc đó tổng số người Liên Xô sống trong khu quân sự là 6.000 người, kể cả công nhân xây dựng. Theo thỏa thuận trong mục 71 của Hiệp định ký ngày 20-4-1984, các công trình xây dựng xong sẽ bàn giao cho phía Việt Nam sử dụng. Các hạng mục đầu tiên được xây dựng xong từ tháng 12- 1987, sau đó các chuyên gia Liên Xô bắt đầu sử dụng theo hình thức thuê miễn phí. Có thể thấy rằng, về cơ bản, các công trình được Liên Xô – Nga xây dựng ở Cam Ranh bao gồm: Khu nhà ở của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật, trong đó có chỉ huy sở đơn vị 31350 và doanh trại cho quân số biên chế của đơn vị, nhà ăn 250 chỗ, lò bánh mỳ, tổ hợp tắm hơi – giặt là, CLB, trường phổ thông số 183, 18 tòa nhà ở, kho tổng hợp lưu giữ và cấp phát vật tư, đội xe (gồm cả xe chuyên dụng); Vùng bến nhỏ; Bể chứa ngầm thể tích 14.000m3 dùng để chứa nhiên liệu; hai hầm lạnh dung tích 270 tấn dùng để chứa thực phẩm lưu trữ; 12 kho khung sắt dùng để chứa các loại vật tư khác nhau; Hai bể lọc giếng khoan, một dùng cho sinh hoạt, một dùng cho chiến hạm và các tầu hộ tống; Trạm phát điện trung tâm công suất 24.000kW cấp điện cho tất cả các công trình thuộc khu quân sự và của Việt Nam trên bán đảo… Khi từ biệt Cam Ranh, người Nga đã chở đi 588 người, 819 tấn hàng trong đó có 50 chiếc ô tô và xe chuyên dụng, 190 tấn dầu diezel, 133 tấn dầu mỡ các loại, vũ khí đạn dược cũng như tài liệu lưu trữ và tài liệu mật, bằng cả đường hàng không và đường biển. Đồng thời, người Nga bàn giao cho phía Việt Nam 57 tòa nhà và công trình thuộc căn cứ, 85km đường dây tải điện lưới, 62km đường điện cáp, 25km công trình ngầm, 250m cầu cảng, sân bay và hệ thống quản lý kho.
Những người Nga đã sống và làm việc như thế tại Cam Ranh. U.X Ivanôvich, Đại tá quân dự bị, cựu binh Cam Ranh kể lại rằng, cho đến tận năm 1992, khi Liên Xô đã tan rã, thủ tục ra vào khu quân sự vẫn do phía Việt Nam quy định. Theo thỏa thuận thì mỗi tháng chỉ cho phép 4 chuyến xe đi ra ngoài theo kế hoạch định trước với số lượng người hạn chế, chủ yếu là dành cho thủy thủ Hạm đội Thái Bình Dương. Còn đối với số nhân viên kỹ thuật của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật thì do “nhiều yếu tố” nên ra “vùng tự do” là vi phạm luật. Bởi thế, để đưa được một đoàn phụ nữ dân sự trong quân cảng Cam Ranh ra tắm ở bãi biển ngoài khu quân sự nhân ngày 8/3, ông đã phải uống rượu ngâm rắn biển và sò huyết cùng với xoài xanh thái lát chấm muối với cả ba chỉ huy trưởng quân sự và hai phó chính trị người Việt cùng một người phiên dịch cho tới quá nửa đêm mới có thể đạt được mong muốn của mình.
5. Cam Ranh đã được Liên Xô xây dựng ra sao? Đơn vị đầu tiên của Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật gồm 50 người đến bán đảo Cam Ranh trên con tầu PM-156 vào tháng 4-1980. Mùa thu năm 1984, nhóm chuyên gia Liên Xô đầu tiên do Chánh kỹ sư của Tổng công ty xây lắp Liên Xô A.A Pêtúc dẫn đầu đã vào Cam Ranh. Vật liệu xây dựng, máy móc thiết bị thi công, phương tiện vận tải, đồ gỗ văn phòng và nhiên liệu được cung cấp qua đường Tổng cục kỹ thuật Bộ Kinh tế đối ngoại. Mọi việc vô cùng vất vả nếu chúng ta biết được rằng, các chuyên gia đã phải bốc dỡ ngoài bến tầu gần 700.000 tấn hàng hóa thiết bị. Ai đã từng một lần phải bốc xi măng rời (không đóng bao) từ dưới tầu lên bờ mới hiểu được thế nào là chiến công trong lao động. Nổi cộm nhất của việc giải quyết các vấn đề xây dựng hóc búa tại đây là lấy đâu ra nước ngọt ở bán đảo này? Ai cũng biết rằng, quanh bán đảo Cam Ranh chỉ có nước biển, không thể dùng cho xây dựng cũng như cho sinh hoạt được. Lính Pháp và lính Mỹ trước đây sử dụng nước chở bồn và các loại nước giải khát đóng chai, còn người Liên Xô đã khoan tìm kiếm nước. Người lính Việt Nam và người dân sống ở nơi này đến nay vẫn hàm ơn các chuyên gia Liên Xô, những người đã tìm ra nước ngọt và xây dựng 11km đường ống dẫn nước tới “đất liền”, mang nguồn nước tới làm sống lại mảnh đất khô cằn này. Khi đưa vào sử dụng tổ hợp công trình lọc nước sạch, Thiếu tướng, Uỷ viên Bộ Chính trị Phùng Thế Tài và ông Tổng Giám đốc Tổng Công ty Xây lắp Liên Xô đã cùng rót hai ly nước và uống thử. Nó giống như hành động của một quan chức cấp cao của Nhật Bản đã uống thử ly nước lọc của một nhà máy nước hoạt động trở lại sau khi khắc phục sự cố hạt nhân Fukushima, trước ống kính của hàng trăm hãng thông tấn trên thế giới. Đây là một hành động mang tính biểu tượng, và mọi người xung quanh đều hiểu rằng, Xô – Việt đã trở thành quan hệ chuẩn mực giữa con người với con người.
5 năm trời ròng rã, họ đã xây dựng hàng trăm công trình lớn nhỏ trên cả bán đảo lẫn đất liền. Những đốc công, thợ cả, những thợ hàn, thợ điện, thợ lái máy đã vật lộn với sóng biển để cố định cầu cảng và lắp đặt các công trình bờ. Công nhân làm đường trải nhựa sửa đường dưới cái nắng như thiêu như đốt. Gần mười ngàn lượt chuyên gia Nga/ Liên Xô đã tới và làm việc ở Cam Ranh như thế.
L.N Mikhailôvich, phóng viên báo Krasnaia Zvezđa đã tường thuật lại rằng, nơi này cây cối không mọc được vì bị côn trùng có cánh tàn phá; những khung cửa gỗ chỉ cần 3 tháng không để ý là đã bị mối biến thành mùn. Cuộc chiến đấu giành giật với cuộc sống nơi đây diễn ra hàng ngày: phải chống chọi với khí hậu khắc nghiệt, với rắn độc và với các bệnh nhiệt đới, cũng như với máy móc thiết bị già cỗi đã dần dần hết hạn sử dụng. Những cây cột điện bằng thép đưa điện vào quân khu bị thời gian bào mòn và bị những trận bão lớn quật đổ. Mất điện trong thời tiết khí hậu oi bức không khác gì thiếu nước ngoài sa mạc nóng nực. Để tìm – sửa chỉ một đoạn đường cáp hỏng, toàn thể đàn ông ở đây đã phải đào một đường hào cát dài hai cây số rưỡi, sâu tới một mét, đào từ sáng sớm đến tận tối khuya, trong mưa nhiệt đới và nắng cháy lưng, rồi lang thang tìm 1 đoạn cáp thay thế tại một nơi cách đó tới 5km sau đó xốc cáp đi trên cát, vượt qua ụ cao hố sâu mang tới chỗ hào đã đào. Tính ra mỗi người đã phải vác tới 60kg cáp và phải mất 9 ngày mới hoàn thành. Đô đốc M. Zakharenkô, Tư lệnh trưởng Hạm đội Thái Bình Dương đã ví von vui vẻ: “Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật Cam Ranh là một quả tạ treo trên cổ tôi, nhưng đó là một quả tạ bằng vàng cần phải mang đi tiếp”.
6. Cam Ranh đã chứng kiến sự hy sinh của dòng máu Nga – Xô Viết. T.A Đanhilôvich, nguyên Quản trị cận vệ trưởng dự bị đã kể lại rằng, sáng 13-2-1985, khi bay tuần tra trên Biển Đông, máy bay TU-95 bay số 2 cất cánh sau 6h30 phút, kíp bay do Thiếu tá cận vệ V. Spiriđônôp chỉ huy ở khoảng cách 15km, cao hơn 300m so với máy bay thứ nhất, đã nhìn thấy qua ánh đèn tín hiệu máy bay thứ nhất giảm nhanh độ cao và bay chếch sang phải. Cùng lúc đó trong bộ đàm vang lên tiếng kêu: “Chúng tôi bị rơi! Chúng tôi bị rơi! Có ai nghe thấy không? Chúng…” Vì trời nhiều mây nên máy bay số 2 không thể xác định được chính xác điểm rơi của máy bay số 1, và Biển Đông đã nuốt trọn trong lòng mình cuộc sống của cả kíp bay lẫn nguyên nhân gây ra tai nạn. Phi công nổi tiếng người Pháp A.Đ.S Êkzupêri từng nói rằng phi công là những người không bao giờ chết, mà họ chỉ bay đi khỏi cuộc đời mà thôi. Kíp bay của những người phi công Nga cũng thế, họ bay đi mãi mãi, để lại trên mặt đất gia đình và vợ con mình. “Chào những cánh đại bàng bay không về tổ/ Mà yên mình nơi sâu nước Thái Bình Dương/ Để mẹ già đêm dài ngóng chờ than thở/ Và trẻ thơ trong côi cút thiếu tình thương/ Đồng đội anh lặng chìm nghẹn ngào đau khổ/ Không phải ai cũng hiểu được nỗi đau riêng” – Nguyễn Đình Long dịch bài thơ của chị V.V Gerchkô viết tưởng nhớ những người trong vụ tai nạn gây chấn động Liên Xô này như vậy. Và không chỉ có những phi công Nga nằm xuống ở Cam Ranh mà còn có cả những thủy thủ và những người không mặc áo lính.
Từ năm 1973 đến năm 1991, sau khi Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết tới lúc Liên Xô tan rã, Việt Nam vẫn luôn nhận được sự giúp đỡ to lớn về kinh tế từ phía Liên Xô. Quyết định của BCH Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Chính phủ Liên Xô công bố tháng 7-1973 về việc “xem xét khả năng xóa nợ toàn bộ những chi viện kinh tế và quân sự” của Liên Xô cho Việt Nam trong cuộc kháng chiến lần thứ hai được người Việt Nam đón nhận như một “khẳng định sáng ngời của tình hữu nghị anh em” đã gắn bó hai nước với nhau. Ngoài ra phía Liên Xô còn thông báo sẵn sàng giúp Việt Nam khôi phục các công trình kinh tế đã bị chiến tranh tàn phá.
Trong thời gian này Liên Xô đã trợ giúp về kinh phí và trang bị kỹ thuật cho Việt Nam xây dựng thêm gần 100 xí nghiệp công nghiệp, trong đó có nhiều xí nghiệp thuộc những ngành mũi nhọn của nền kinh tế quốc dân và đóng vai trò quan trọng xác định tiềm năng kinh tế tương lai của một đất nước bị tàn phá nặng nề trong cuộc chiến tranh hủy diệt. Trong số đó có công trình xây dựng tổ hợp thủy lợi đồ sộ và Nhà máy Thủy điện Hòa Bình (1920 MW) trên sông Đà – tổ hợp thủy lợi lớn nhất Đông Nam Á. Quan trọng không kém, ngày 19-6-1981, Chính phủ hai nước đã ký kết Hiệp định thành lập Xí nghiệp Liên doanh Việt – Xô trong lĩnh vực thăm dò địa chất và khai thác dầu khí tại thềm lục địa phía nam Việt Nam. Liên Xô đã cho Việt Nam vay khoản ngoại tệ (thỏa thuận ký ngày 13-8-1982) để chi phí mua sắm trên thị trường quốc tế những trang thiết bị kỹ thuật tiên tiến nhất cho Xí nghiệp Liên doanh mới với tên gọi Vietsovpetro. Chuyên gia hàng đầu trong các lĩnh vực dầu khí biển, xây dựng, nghiên cứu khoa học, kinh tế từ các miền đất như Caspi, Xakhalin, Muốcmanxcơ, Crưm, Kalinhingrat được cử sang Việt Nam làm việc. Ngày 26-6-1986, Xí nghiệp Liên doanh Vietsovpetro khai thác được tấn dầu đầu tiên từ mỏ Bạch Hổ. Và sự kiện này chính là điểm khởi đầu hoạt động cho một ngành công nghiệp mới, được thực tế chứng minh là đầy triển vọng của nền kinh tế Việt Nam – ngành công nghiệp dầu khí.
Ngoài ra còn có cầu Thăng Long với chiều dài 3.000m với hai tầng lưu thông bắc qua sông Hồng; Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh trên Quảng trường Ba Đình – Hà Nội được xây dựng trong một thời gian rất ngắn, sử dụng các giải pháp kiến trúc và công nghệ cao; Cải tạo cụm ga đường sắt Hà Nội và mở rộng khổ ray cho tuyến đường sắt Hà Nội – Hải Phòng, đồng thời đảm bảo chạy tàu bình thường trên tuyến đường sắt Hà Nội – TP HCM… Trạm cung ứng vật tư kỹ thuật cho lực lượng hải quân Liên Xô và Việt Nam trên bán đảo Cam Ranh được coi là một trong số những công trình quan trọng bậc nhất, đã để lại dấu ấn sâu đậm của người Nga Xô Viết với Việt Nam.
Chính vì những lý do đó mà Đại tướng G.V Leônhiđôvich, Anh hùng Liên Xô, khi là Chủ tịch Hội cựu chiến binh và cựu binh Nga, đã ngay lập tức ủng hộ vô điều kiện sáng kiến của tập thể lao động quốc tế Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro đề nghị xây dựng trên bán đảo Cam Ranh một tượng đài tưởng niệm các công dân Liên Xô, Nga và Việt Nam đã hy sinh trong khi thực thi nhiệm vụ. Và cũng chính vì những lý do đó mà ông T.N. Pêtrôvich, nguyên Tổng giám đốc Công ty cổ phần mở Zarubezhneft, trên tờ trình của Vietsovpetro về việc lưu danh muôn đời những “chiến sĩ Cam Ranh” đã phê duyệt: “Hoàn toàn ủng hộ”. Tượng đài ấy đã được khánh thành năm 2009, trước thềm kỷ niệm 60 năm quan hệ ngoại giao giữa hai quốc gia, một tượng đài thắm tình hữu nghị và tình bạn đã được thời gian kiểm chứng, là biểu tượng sinh động cho sự hợp tác chiến lược giữa hai nước và hai dân tộc.
7. Vịnh Cam Ranh – “dải lụa xanh” tuyệt đẹp, nơi được xem là một trong 3 cảng biển tự nhiên tốt nhất thế giới (cùng với vịnh San Francisco của Mỹ và vịnh Rio de Janéro của Brazil), nơi mà chỉ cần ra khỏi cửa vịnh là có thể tiếp cận với “đường đẳng sâu” 40 m. Đây là lợi thế thiên nhiên tuyệt đối của Cam Ranh so với các hải cảng lớn của nước ta như Đà Nẵng, Chân Mây, Cẩm Phả – những cảng chỉ có độ sâu giới hạn từ 9 – 12m nước. Nếu tính từ đường hàng hải quốc tế vào vịnh Cam Ranh chỉ mất 1 giờ tàu biển, trong khi đó vào Vũng Tàu cách 3 giờ tàu biển, vào Hải Phòng cách 8 giờ. Không có nơi nào như Cam Ranh, căn cứ mà báo chí nước ngoài chưa từng “rời mắt”. Ben Bland trên tờ “Thời báo Tài chính” (Anh) thậm chí đã gọi Cam Ranh như “một biểu tượng của chiến tranh lạnh” trong bầu không khí nhiều biến động của Biển Đông. Khi Nga cuối cùng rút khỏi căn cứ này vào năm 2002, Hà Nội nguyện sẽ không để bất cứ quân đội nước ngoài nào kiểm được phép kiểm soát Cam Ranh. Nhưng cách đây không lâu, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nói sẽ cho tàu hải quân nước ngoài sử dụng cảng theo mục đích thương mại như neo đậu, tiếp nhiên liệu và sửa chữa. Các nhà phân tích an ninh nói việc này có thể mang lại một ít lợi nhuận một khi cảng được tân trang lại. Tuy nhiên, lý do chính cho việc mở cửa lại cảng Cam Ranh là để cân bằng với sự nổi trội về quân sự của một số thế lực ở Biển Đông. Hải quân nhiều nước muốn neo đỗ ở Cam Ranh. Tờ South China Morning Post cho rằng, “tương lai của Cam Ranh sẽ là trung tâm của các cuộc đàm phán”. Cam Ranh còn được gọi là “tài sản hải quân hấp dẫn nhất” và việc mở cửa vịnh Cam Ranh cho lực lượng hải quân nước ngoài là một ngón đòn “bậc thầy” trong chính sách đối ngoại “đa phương” của Việt Nam, sẵn sàng chống lại mọi tham vọng thô bạo ngoài ý muốn. Theo giới phân tích Trung Quốc, cùng với việc thực hiện cải cách mở cửa, chiến lược quân sự của Việt Nam đã được điều chỉnh thành “lục thủ, hải tiến” (phòng thủ trên bộ, tiến ra biển) và trong đó Cam Ranh là một trong những con át chủ bài.
Cách đây 10 năm, Tổng thống Nga V. Putin đã thông qua quyết định chấm dứt trước thời hạn sự có mặt của Hải quân và Không quân Nga tại căn cứ Cam Ranh. Tháng 2/2002, khi trả lời phỏng vấn của tờ Wall Street Journal của Mỹ, ông Putin đã tuyên bố quyết định của Nga rời Cam Ranh là đúng đắn, không phải là quyết định bột phát của một người, mà đó là một quyết định quân sự – chính trị có cân nhắc dựa trên thực tế mới và quan điểm của các chính khách cùng giới quân sự, trước hết của Bộ Tổng tham mưu.
Thời gian trôi đi, tình hình đổi thay… Trên thế giới đang nhắc tới sự trở lại chiến lược của Nga ở khắp các đại dương. Những chiến dịch tuần tiễu xa hiện nay của các tàu chiến Nga, việc nối lại những chuyến bay hàng không chiến lược của Nga trên các đại dương và tình hình quốc tế với dấu hiệu gia tăng khủng bố hàng hải, càng làm nổi bật tính cần thiết của việc Nga phải có mặt tại các cứ điểm hải quân và không quân ở nước ngoài – nhận định của Đô đốc M. Abramốp, cựu Tư lệnh trưởng Hải quân Nga. Sứ mệnh của Nga mà lịch sử định đoạt là duy trì Hạm đội, như nhà cải cách Piốt Đại đế từng nói, để luôn có hai tay cả trên đất liền lẫn ngoài biển khơi.
Người Nga chưa bao giờ quên Cam Ranh.
Tìm lại con đường tơ lụa trên Biển Đông
Việt Nam mang trong mình lịch sử ngàn năm mở đất và mở nước. Mở đất là cương thổ, mở nước là biên đảo và còn có cả những chuyến hải trình vạn dặm của tổ tiên ta mà các bảo vật khai quật được từ những con tàu đắm dưới đáy Biển Đông đã phần nào nhắc lại nghị lực phi thường ấy.
1. Những phát hiện khảo cổ trong các con tàu chìm Rang Kwian (vịnh Thái Lan), Turiang (Malaysia), Padanan (Philippines) từ năm 1976 đến 1993 đã cho thấy phần nào bức tranh tuyệt đẹp về gốm cổ Việt Nam và phác họa lại con đường tơ lụa trên biển. Bức tranh đó càng rực rỡ khi khai quật tàu cổ Cù Lao Chàm. Trong một bữa cơm trưa tại khuôn viên rợp bóng cây của Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, TS Nguyễn Văn Cường đã nói với tôi đôi điều về con đường huyền thoại ấy vốn đã tưởng như chỉ còn biết đến không nhiều qua sách vở.
Bình gốm hoa lam vẽ Thiên Nga, Kendi và đĩa được tìm thấy trong lòng con tàu cổ Cù Lao Chàm
Ở ngoài khơi Hội An, cách Cù Lao Chàm 14 hải lý về phía đông bắc, một cuộc khai quật dưới biển với quy mô chưa từng có trong những năm 1997-2000 đã phát hiện được một khối lượng khổng lồ, khoảng 150.000 đồ gốm hoa lam hầu như còn nguyên vẹn như vừa mới ra lò trên một con tàu đắm, có niên đại khoảng giữa thế kỷ XV. Những đồ gốm này là sản phẩm của các lò gốm ở tỉnh Hải Dương, cho thấy con tàu này đã mua gốm từ một thương cảng nào đó ở Bắc Bộ và đang trên đường đi xuống phía nam đến các nước Đông Nam Á hải đảo để tiêu thụ thì bị đắm. Tàu nằm ở độ sâu 70-72m dưới mực nước biển. Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, Visal và Công ty Saga Horizon (Malaysia) đã tiến hành khai quật cùng với nhiều chuyên gia khảo cổ học của Anh, Séc và một số chuyên viên lặn bão hòa nước ngoài. Con tàu dài 29,4m, rộng 7,2m, trong lòng chia thành 19 khoang, gỗ đóng tàu là loại gỗ tếch còn tốt và các thanh dầm ngăn cách các khoang được ghép rất chắc chắn, dù đã chìm trong lòng biển 5 thế kỷ. Trong tàu cổ này còn có một số đồ gốm sứ Trung Quốc và Thái Lan là đồ dùng của thủy thủ đoàn. Một người tham dự cuộc khai quật hệ trọng này đã kể lại với tôi rằng, các chuyên gia ngồi trên mạn tàu và chỉ đạo cho thợ lặn lấy đồ trong lòng tàu đắm qua các camera hiển thị. Và tất cả những thước phim ấy hiện đều vẫn còn lưu.
2. Cố GS Trần Quốc Vượng từng nhận xét rằng, có một thời ở phương Tây đồ gốm chỉ được coi là đối tượng của nghệ thuật thứ cấp, nếu so sánh với kiến trúc và điêu khắc. Trong khi đó, ở phương Đông, nhất là ở Trung Hoa, từ xưa đồ gốm đã được coi là loại hình nghệ thuật cấp trưởng. Cũng đã từng có thời, từ nửa cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX, giới Đông phương học Âu Tây chỉ coi Việt Nam là một “Trung Hoa bé tí xíu”, do vậy họ cũng coi đồ gốm sứ Việt Nam chỉ là một nhánh nhỏ của cây đại thụ gốm sứ Trung Hoa. Nửa sau thế kỷ XX, sau khi đi sâu nghiên cứu, bàn luận về công nghệ lò nung rồi sự diễn tiến về kiểu dáng và men, họ (Roxanna Brown, John Guy…) đều đã ngỡ ngàng nhận ra rằng, Việt Nam có lịch sử lâu dài nhất về sản xuất gốm tráng men ở Đông Nam Á.
80 năm trước, thế giới hiện đại vẫn nhầm tưởng rằng, dòng gốm hoa lam được sản xuất không nơi nào khác ngoài Trung Quốc. Nhưng sau khi L.R.Hobson phát hiện dòng minh văn ghi trên vai chiếc bình gốm hoa lam tuyệt đẹp cao 54cm trưng bày ở Bảo tàng Topkapi Saray, Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ) vào năm 1933-1934 (có dòng chữ ghi rõ “Đại Hòa bát niên tượng nhân Nam Sách châu Bùi thị hý bút” – năm Đại Hòa thứ 8 – 1450 đời Lê Nhân Tông – thợ gốm châu Nam Sách họ Bùi vẽ chơi) – đã mở rộng cánh cửa cho một lĩnh vực nghiên cứu mới. Từ đó, người ta quan tâm tới một địa danh có tên là Nam Sách, ở đâu đó bên lưu vực sông Hồng thuộc Đồng bằng Bắc Bộ, nơi có thể có những lò sản xuất gốm vốn nằm trong thái ấp của các đại quý tộc triều Trần. Họ gọi đây là “gốm An Nam” và coi đó là “một hiện tượng mới” trong lịch sử gốm phương Đông. Nhưng phải đợi 52 năm sau, những bí ẩn về nơi sản xuất chiếc bình gốm hoa lam đẹp nổi tiếng ấy mới được khám phá. Từ những thông tin của ông Mokoto Anabuky, Đại sứ Nhật Bản tại Hà Nội về chiếc bình Topkapi, các cán bộ Bảo tàng Hải Hưng (nay là Hải Dương), do ông Tăng Bá Hoành phụ trách, đã lần tìm và phát hiện ra di tích gốm Chu Đậu tại châu Nam Sách xưa, vào đầu năm 1983. Và cũng từ đó, người ta mới biết dòng gốm hoa lam cũng được sản xuất ở Việt Nam từ hơn 500 năm trước.
Làng gốm Chu Đậu (nay thuộc xã Thái Tân, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương) là một trung tâm sản xuất gốm lớn nhất của nước ta, ra đời vào thế kỷ XIV và phát triển rực rỡ nhất vào thế kỷ XV-XVI. Chu Đậu thường sản xuất những dòng gốm cao cấp, gốm mỹ nghệ phục vụ cho tầng lớp trên, phục vụ tôn giáo, tín ngưỡng và xuất khẩu ra nước ngoài. Dòng gốm Chu Đậu có sự kết hợp nhiều kỹ thuật trang trí như đắp nổi, chạm, dán ghép, khắc chìm. Men sử dụng với nhiều màu khác nhau hết sức phong phú: men trắng hoa lam, men nâu, xanh lục, men ngọc, men trắng vẽ tam thái hoặc kết hợp vẽ vàng kim trên men. Sự chuyển đổi kỹ thuật dùng bút lông để vẽ hoa văn bằng màu dưới men đã đem lại cho công nghệ gốm Việt Nam những nét mới mẻ và dẫn tới sự ra đời của gốm hoa lam. Gốm hoa lam hiện đã phổ biến và trở thành thuật ngữ quốc tế, dùng để chỉ những đồ gốm có men trắng được vẽ màu xanh cobalt dưới men.
Sau khi có quyết định của Chính phủ Việt Nam, 10% hiện vật trong tàu cổ Cù Lao Chàm đã được lựa chọn và “chia phần” tương đối đều cho các bảo tàng: Bảo tàng Lịch sử Việt Nam 4.362 hiện vật cùng 779 hiện vật độc bản, Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tại TP HCM 4.362 hiện vật, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam 4.362 hiện vật, Bảo tàng tỉnh Quảng Nam 5.562 hiện vật, Bảo tàng tỉnh Hải Dương 5.562 hiện vật. Càng nghiên cứu, nghệ thuật của người xưa càng hiển lộ. Chủ đề trang trí có hình tượng con người, động vật, côn trùng, thủy tộc, hoa lá, phong thủy… kết hợp kỹ thuật trang trí nổi bằng bút lông với vẽ lam hay vẽ nhiều màu trên men. Mỗi loại hoa văn lại có nhiều bố cục, nhiều cách thể hiện, đa dạng chưa từng biết đến cho thấy tài khéo vô cùng của người thợ gốm xưa. Đó là một bút pháp điêu luyện tuyệt vời: khi thì tỉa vẽ thật chi tiết, khi thì phóng bút nhanh và thoáng. Lối thể hiện không gian ba chiều, luật viễn cận trong hội họa đều như được sử dụng rất nhuần nhụy và từ đó phô diễn một cách kỳ lạ, sinh động, đa dạng đời sống xã hội và cả thế giới của một miền nhiệt đới thế kỷ XV.
3. Theo GS Misugi Takatoshi (Nhật Bản), con đường tơ lụa trên biển hình thành rất sớm, từ khi kỹ thuật đóng thuyền buồm bọc gió vượt biển được xác lập từ đầu công nguyên và ngày càng phát triển khi kỹ thuật la bàn được phát minh, tạo điều kiện cho những thương thuyền cỡ lớn chuyên chở hàng lụa, hồ tiêu, hương liệu, trầm hương, sản phẩm sành sứ… thay thế dần các đoàn lữ hành bằng lạc đà trên lục địa đầy trắc trở và hoang vắng. Song song với sự hưng thịnh rực rỡ của nền văn minh Lưỡng Hà vào thế kỷ IX-XI, hàng hóa từ Trung Quốc, Việt Nam, Indonesia… đã được đưa đến các xứ Ai Cập cổ đại để mua bán, trong đó có hàng “sành sứ An Nam”, đặc biệt loại bát chén men ngọc được người Vịnh Ba Tư rất ưa chuộng, xem là một dụng cụ để kiểm tra thuốc độc trong thức ăn (poisoning test) trong thời kỳ các nước và bộ tộc tranh chấp ác liệt và truyền thuyết đó vẫn được lưu lại cho đến ngày nay.
Bản đồ mô tả con đường tơ lụa trên bộ và trên biển. Tại Việt Nam, các thương thuyền có thể cập bến hoặc xuất phát ở Luy Lâu, Hà Nội, Vân Đồn, Phố Hiến, Hội An, Cù Lao Chàm, Vijaya (Thị Nại), Óc Eo (vương quốc cổ Phù Nam)
Tổ tiên chúng ta đã vượt biển như thế nào? Nhà hàng hải George Windsor Earl khen ngợi không tiếc lời trong sổ nhật ký của ông trên đường dẫn lộ một chiếc thương thuyền đến Singapore vào đầu thế kỷ thứ XVIII như sau: “…Bão táp thật dữ dội ngoài biển khơi, thiếu chút nữa thì thương thuyền của chúng tôi bị gẫy đổ cả cột buồm. Thời tiết đã tiếp tục xấu như thế trong nhiều ngày. Vậy mà khi đang thận trọng dẫn tàu vào eo biển, chúng tôi chợt nhận ra 6 chiếc thuyền nhỏ của người Việt Nam đang giương hết mọi cánh buồm tiến thẳng tới trước… Tôi nghĩ mấy người Việt đó đang lèo lái những con thuyền bé nhỏ mà cách thức để vượt sóng lượn gió thật là tài tình. Tài ba của họ không thua kém bất cứ một thủy thủ đoàn hạng nhất nào của toàn khu vực Âu châu.
Đoàn thuyền bé tí teo đó không có một chiếc nào vượt quá 50 tấn, vậy mà những người đi biển này có thể đè bẹp cả sóng gió Biển Đông vào giữa mùa bão tố. Họ rất can đảm khi xuất dương. Thuyền họ lại không trang bị vũ khí và như thế có thể là miếng mồi ngon cho bọn hải tặc”. Còn bác sĩ John Crawfurd, người được Chính phủ Anh đề cử làm “lưỡng quốc” đại sứ tại hai kinh đô Bangkok và Huế năm 1822 nhận xét: “Nếu như người Việt Nam được phép tự do viễn dương thì người ta không thể tìm đâu ra được một sắc dân nào nữa ở Á Đông mà lại có đầy đủ những đức tính để trở thành các nhà hàng hải siêu đẳng như vậy… Tính họ không những cương quyết, năng hoạt động, tôn trọng hạn kỳ, mà lại luôn luôn vui vẻ chiều lòng khách hàng… Ghe tàu của họ được các nhà chuyên môn xét đoán và mô tả như là những loại thuyền tốt nhất trong khu vực Đông Nam Á, kiến trúc rất chắc chắn, đủ sức hải hành ngay cả những khi thời tiết xấu nhất”.
Thuyền trưởng John White, một trong những nhà hàng hải Hoa Kỳ đầu tiên đến Việt Nam vào năm 1820 thì kinh ngạc khi thấy những hải xưởng Việt Nam thời đó lại có đầy đủ vật liệu cho việc đóng những loại tàu lớn nhất như Frigate (tức loại chiến hạm chủ lực của Hải quân Hoa Kỳ sử dụng vào đầu thế kỷ XIX). Vũ Hữu San trong bài viết: “Khoảng trống văn học dân ta: những thành tích hàng hải” đã nhận xét thấm thía rằng, ngày nay, trong những buổi lễ lạt, đa số các vị được lên diễn đàn để nói thì hầu hết đều ca tụng những chiến công hiển hách của tiền nhân. Tuy vậy, qua hàng trăm, ngàn bài diễn văn người ta chưa thấy hoạt động hàng hải của tổ tiên được nhắc nhở tới. Trong những công trình dựng nước, mở nước, giữ nước trên vùng đất nước quê hương mà sông biển bao trùm khắp nơi, sự hy sinh vì nghĩa vụ với “thân xác tử sĩ chìm theo sóng nước” nhiều hơn số người “da ngựa bọc thây” gấp nhiều lần.
4. Mầm mống ngoại thương nằm trong lịch sử giao lưu lâu dài giữa Việt Nam và thương nhân từ nhiều nước đã đến buôn bán tại Việt Nam. Vậy mà mãi đến thế kỷ XX, người ta mới phát hiện gốm Việt Nam trong hàng hóa xuất khẩu tại Tây Á, lục địa và hải đảo Đông Nam Á, cũng như Nhật Bản. Vô số gốm hoa lam Việt Nam tìm thấy ở Đông Nam Á là thành phẩm của hoạt động mậu dịch đáng nể này. Qua đó Việt Nam dành được cho mình một vị trí bền vững trong lịch sử gốm hoa lam trong giai đoạn sớm. Còn ở Tây Á, sự có mặt của gốm đã gián tiếp cho biết Việt Nam có mặt trong các thương vụ buôn bán đường dài. “Sự có mặt của gốm hoa lam Việt Nam trong những sưu tập có uy tín cho biết chúng đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật và khiếu thẩm mỹ của khách hàng sành sỏi và giàu có nhất thế giới” – Kerry Nguyễn Long trong cuốn “Gốm hoa lam trong bối cảnh xuất khẩu” đã viết như vậy.
Còn Bùi Minh Trí trong cuốn “Gốm hoa lam Việt Nam” nhận xét: Một trong những tiêu chí đánh giá về sự phát triển đỉnh cao của nghệ thuật gốm Việt Nam thời kỳ này phải kể đến các bức vẽ về động vật. Đây là những đồ án đẹp được thể hiện rất cầu kỳ, sinh động, với bút pháp điêu luyện có thần, mang tính hiện thực cao. Có thể nói không quá rằng, những bức vẽ chim, cá có chất lượng cao so với đồ sứ thời Minh cùng thời, thì dường như đã vượt qua độ tinh xảo, chứng tỏ bước phát triển rất cao về nghệ thuật trang trí. Sự cầu kỳ của chiếc bình gốm vẽ hoa mẫu đơn dây ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam, chiếc bát vẽ hoa sen dây ở Bảo tàng Hà Nội, chiếc đĩa lớn vẽ hoa sen dây và hai con sư tử vờn quả cầu lửa ở Bảo tàng Pusat Jakarta (Indonesia), chiếc bình dáng con tiện vẽ rồng là vật báu của gia đình tướng quân Togugawa (Nhật Bản) trước đây hay những chiếc bình hình dáng gần giống đàn tỳ bà vẽ hoa lá, chim phượng và rồng là những ví dụ điển hình hơn cả.
Nhưng TS Nguyễn Văn Cường lại đưa ra một minh chứng khác mà anh cho rằng thuyết phục hơn cả. Đó là chiếc bình vẽ Thiên Nga được làm bằng chất liệu gốm men, cao 56,5cm, đường kính miệng 23,8cm, đường kính đáy 25,8cm, nặng 15,6kg, có dáng búp sen, miệng loe tròn, gờ miệng phẳng, thân phình thuôn dần xuống đáy – chiếc bình gốm có kích thước lớn nhất, có đề tài trang trí hoành tráng nhất trong số những hiện vật độc bản quý hiếm từ đợt khai quật tàu đắm Cù Lao Chàm. Anh nhắc tôi rằng, nó còn cao lớn hơn cả chiếc bình Topkapi nổi tiếng hiện đang “lưu lạc” ở Thổ Nhĩ Kỳ. Những đề tài trang trí ở đây đã thoát ra khỏi khuôn mẫu của đề tài kinh điển Trung Hoa, phóng khoáng hơn, sáng tạo hơn, đậm chất dân gian, hồn quê đất Việt vùng Đồng bằng châu thổ Bắc Bộ, như một sứ giả về từ quá khứ, cho ta hình dung phần nào về vẻ đẹp của quê hương đất nước Việt Nam thời Lê Sơ thế kỷ XV, một quốc gia hùng mạnh ở Đông Nam Á lúc bấy giờ. Và nó là một minh chứng tuyệt mỹ của con đường tơ lụa trên biển.
Biển Đông che giấu trong lòng nước nhiều bí ẩn hơn chúng ta tưởng rất nhiều.
| Biển Đông đã từng có một con đường tơ lụa rất tấp nập. Việt Nam không chỉ là điểm trung chuyển mà còn là điểm đến, điểm xuất phát của nhiều chuyến tàu. Điều này phù hợp với nhận định ban đầu củaGS Misugi Takayoshi rằng, có những dấu hiệu cho thấy “người Chiêm Thành đi bằng Giao Chỉ thuyền” đã vượt biển đến các vùng đảo của Nhật Bản từ thế kỷ thứ II vì người dân tộc Chăm sống ở ven biển vốn có nghề đi biển theo hướng gió mùa rất thông thạo. Cho nên nhiều nhà khảo cổ trẻ tuổi Nhật Bản ngày nay vẫn thường xuyên đi tìm những mảnh vụn gốm sứ, hàng trang sức đang nằm dưới lòng đất ở Mỹ Sơn, Trà Kiệu… để tìm lời giải đáp cho điều “bí ẩn” trong quan hệ Nhật – Việt vào thời kỳ mà con đường tơ lụa trên biển bắt đầu mới hình thành. |
Articles
Privacy
4 phản hồi