Articles  Privacy

 

+ Nghĩ về những đất nước không thành

Posted by hoangtran204 on Thứ Năm, Tháng Năm 24, 2012

Lời tựa:

Tựa đề này được tác giả Nguyễn Gia Kiếng, một kỹ sư ở Pháp, cắt nghĩa là: Đó là những quốc gia mà nhà nước không còn giữ được độc quyền bạo lực, không đảm bảo được công ích và trật tự an ninh, cũng không còn thẩm quyền để thảo luận và thỏa hiệp với các nước khác nữa. Bởi vì chính quyền không được sự hợp tác của người dân và cũng không kiểm soát được người dân nữa.

Theo tôi, chữ failed state ứng dụng cho Việt Nam thì nên được dịch và hiểu: đó là một quốc gia được điều hành bởi một nhà cầm quyền dùng bạo lực để cướp chính quyền, sau đó dùng công an và nhà tù để làm cho dân chúng sợ hãi, độc đảng cai trị, tất cả giới chức trong chính quyền đều tham nhũng, liên tục thất bại trong nhiệm vụ điều hành, đục khoét tài nguyên khoáng sản bán cho nước ngoài, đưa những người trong đảng, con cái, bà con, vào nắm các chức vụ quan trọng nhất, chiếm đoạt đất đai vào trong tay, nắm độc quyền tất cả các ngành nghề kinh doanh, dịch vụ ngân hàng để hưởng tất cả lợi lộc. Nếu dịch ngắn gọn thì dùng 

Nghĩ về những đất nước không thành

Nguyễn Gia Kiểng
“… Mọi quốc gia đều phải đặt nền tảng trên một tư tưởng chính trị đúng đắn nếu không muốn rơi vào bạo quyền và bạo loạn…”

30 tháng 4 – 2012. Tôi đang ở trên Quảng Trường Hiến Pháp, Plaza de la Constitucion, trung tâm thủ đô Mexico của nước Mexico. Người Mexico (phát âm Mê-hi-cô) gọi là Socalo, có nghĩa là “nền tảng”. Mỗi thành phố lớn của nước Mexico đều có một socalo làm trung tâm quyền lực. Chung quanh quảng trường này có tất cả. Dinh tổng thống, tòa thị chính thành phố Mexico, trụ sở quốc hội và dĩ nhiên một nhà thờ lớn rất đồ sộ. Ở góc quảng trường, bên cạnh nhà thờ lớn, qua một song sắt người ta có thể nhìn thấy một vài di tích của kinh thành Tenochtitlan bị tàn phá và san phẳng năm 1521. Tenochtitlan là tên cũ của thành phố Mexico.

Tôi không quen biết ai tại nước Mexico này và cũng không có nhu cầu du lịch. Tôi đến đây vì từ nhiều năm rồi tôi vẫn tự nhủ thế nào cũng phải đi Mexico ít nhất một lần cho biết. Vì hai lý do. Lý do thứ nhất là để được nhìn tận mắt một kỳ quan của sự nghịch lý. Tại sao một thành phố thành lập trên cao độ hơn 2000 mét, không gần bờ biển và cũng không có dòng sông nào chảy qua lại có thể là thành phố lớn nhất, ít nhất đông dân nhất, thế giới từ hơn sáu thế kỷ qua? Lý do thứ hai, quan trọng hơn nhiều, là để tìm câu trả lời cho một câu hỏi tình cờ nẩy ra trong óc tôi và ngày càng gây khó chịu: tại sao nhiều người, nhà báo cũng như nhà chính trị, lại nói Mexico là một failed state?

Cụm từ failed state có lẽ đã xuất hiện vào đầu thập niên 1990 để chỉ nước Somalia, lúc đó rơi vào tình trạng nội chiến vô chính phủ và không giải pháp bởi vì có quá nhiều phe lâm chiến. Đó là kết quả của hai mươi năm phiêu lưu chính trị của những tướng lãnh quá dốt đến nỗi không biết là mình dốt. Họ thử nghiệm một tổng hợp giữa chủ nghĩa Mác-Lênin và Hồi Giáo, sau đó chuyển sang một chế độ độc tài quân phiệt, làm nước Somalia tan vỡ trong nội chiến. Đến nay Somalia vẫn chưa có chính quyền. Cụm từ failed state có khi được dịch sang tiếng Việt là “quốc gia thất bại”. Cách dịch này không đúng. Một quốc gia có thể thất bại trong một hay nhiều mục tiêu (thí dụ như một giải bóng đá) mà vẫn là một quốc gia, trong khi một failed state là một quốc gia không còn là một quốc gia nữa. Có lẽ nên dịch những failed states là những “đất nước không thành” thì đúng hơn? Đó là những quốc gia mà nhà nước không còn giữ được độc quyền bạo lực, không đảm bảo được công ích và trật tự an ninh, cũng không còn thẩm quyền để thảo luận và thỏa hiệp với các nước khác nữa. Bởi vì chính quyền không được sự hợp tác của người dân và cũng không kiểm soát được người dân nữa. Tổ chức Quỹ Hòa Bình (Fund for Peace) công bố hàng năm một danh sách các quốc gia xếp hạng theo “chỉ số không thành” (failed state index) trong đó Somalia đứng hạng nhất, Việt Nam được xếp vào loại warning, nghĩa là đáng lo ngại. Bảng xếp hạng này chỉ có một giá trị rất tương đối vì nó làm quá nhiều tính toán trên một khái niệm định tính về bản chất.

Lần đầu khi đọc một nghiên cứu nói Mexico là một đất nước không thành tôi ngạc nhiên. Làm sao có thể thế được? Mexico là nước độc lập từ gần hai thế kỷ qua với một hiến pháp dân chủ ổn định từ gần một thế kỷ. Một nước lớn với 110 triệu dân sống trên một diện tích bao la gần hai triệu kilomét vuông mở ra cả Đại Tây Dương lẫn Thái Bình Dương. Hơn nữa Mexico còn có cả một vịnh lớn của riêng mình, vịnh California. Mexico đứng đầu thế giới về mỏ bạc và cũng là nước xuất cảng dầu lửa thứ năm trên thế giới. Thu nhập bình quân trên mỗi đầu người của Mexico là trên 10.000 USD mỗi năm, gấp 10 lần Viêt Nam. Nhưng rồi tôi tiếp tục đọc nhiều tài liệu khác đánh giá Mexico là một đất nước không thành đồng thời phơi bày tình trạng bạo loạn. Mới đây tôi lại được đọc bài phỏng vấn ngoại trưởng Mexico trong đó người ký giả đặt thẳng câu hỏi Mexico có phải là một đất nước không thành không và ông bộ trưởng trả lời một cách lưỡng lự.

Chỉ vài ngày sau khi tới Mexico tôi đã hiểu quả thực có lý do chính đáng để coi Mexico là một đất nước không thành. Vợ tôi, thường hay về Việt Nam, quả quyết rằng theo sinh hoạt hàng ngày thì thu nhập của một người Mễ cùng lắm chỉ gấp đôi Việt Nam chứ không thể gấp mười được. Mexico trên thực tế chỉ là một thuộc địa trá hình. Phần lớn của cải tập trung trong tay một thiểu số. Cụm từ “thu nhập bình quân trên mỗi đầu người” không có nghĩa gì cả. Mexico có rất nhiều tỷ phú, kể cả người giàu nhất thế giới Carlos Slim, nhưng dân chúng thì rất nghèo. Tình trạng bất công này tự nhiên dẫn tới hỗn loạn và trộm cướp. Chiến tranh giữa các băng đảng với nhau và với cảnh sát hàng năm làm từ 5000 đến 10.000 người chết. Cướp bóc và buôn lậu bạch phiến không bị coi là có tội nếu do người trong gia đình hoặc đồng hương làm. Các du khách được khuyên là không nên đi dạo khi chiều tối ngoài trung tâm thành phố. Ngay bên cạnh khách sạn mà tôi ở, khá gần trung tâm thành phố Mexico, có một tiệm tạp hóa nhỏ với một người bảo vệ mang súng; cô hướng dẫn viên du lịch nói như thế là bình thường. Hành động dũng cảm được mọi người thán phục là vượt biên giới qua Mỹ sống ngoài vòng pháp luật và làm những công việc lặt vặt để có tiền gửi về quê hương.

Các tài liệu thống kê cho thấy Mexico có khoảng 75% người lai, số 25% còn lại một nửa là người gốc Espana một nửa là “thổ dân thuần túy”. Nhưng ngay khi tới đây tôi khám phá ra rằng mình lầm to. Người Espana rất ít pha trộn với thổ dân; “người lai” chỉ là những thổ dân có khả năng trả lời bằng tiếng Espana những câu hỏi trong cuộc kiểm tra dân số. Như vậy phải hiểu rằng gần 90% dân Mexico, mà người Việt tại Mỹ gọi là người Mễ, là những người có tổ tiên sinh sống ở Châu Mỹ trước khi người Châu Âu tới. Điều này rất dễ nhận thấy bởi vì người Mễ có đặc tính là họ mang lịch sử dân tộc trên cơ thể. Cho tới khi người Châu Âu tới đây, đầu thế kỷ 16, họ chưa biết sử dụng bánh xe và kim loại, cũng chưa biết thuần hóa súc vật cho việc chuyên chở. Họ chỉ dùng sức người. Dầu vậy họ đã mang hàng triệu tảng đá nặng để xây những kim tự tháp và đền đài. Và họ xây cất rất nhiều, trên những qui mô lớn một cách kinh ngạc. Kinh thành Teotihuacan chẳng hạn, dựng lên cách đây hơn hai ngàn năm, có Kim Tự Tháp Mặt Trời gần bằng kim tự tháp Kheops lớn nhất của Ai Cập và một đường chính rộng mênh mang dài gần 3 Km. Người ta không thể đếm hết những công trình xây cất đồ sộ như vậy và tất cả đều làm bằng sức người. Di sản lịch sử nhọc nhằn một cách kinh hoàng đó còn thấy được trên cơ thể người Mễ. Họ lùn và mập, chân tay to và ngắn. Những hài cốt tìm lại được cho thấy trước đây họ không cao quá 1,45m, ngày nay người Mễ cũng ít khi cao hơn 1,60m. Những người Mễ chính thống này hầu như không có tài sản nào trên đất nước họ. Trước một sự bất công thách đố như vậy bạo lực gần như chính đáng, nhất là khi chính công an nhà nước cũng ám sát, thủ tiêu, cướp bóc.

Khó có quốc gia nào có thể có một lịch sử hung bạo như Mexico. Cả thế giới biết và lên án hành động diệt chủng của những đoàn conquistadors (quân chinh phục người Espana) đối với thổ dân Châu Mỹ, nhưng những tàn sát này không thấm vào đâu so với sự tàn sát lẫn nhau của các sắc tộc thổ dân trước đó. Giết người tế thần là phong tục của mọi sắc dân. Để khánh thành cung điện Tenochtitlan, người Aztec đã giết trong một ngày hai chục ngàn người, và giết theo một nghi thức ghê rợn: mổ sống để móc trái tim còn đập. Khi tấn công Tenochtitlan đoàn quân conquistador của Cortès chỉ có vài trăm người nhưng họ đã huy động được 150.000 người thổ dân cùng chiến đấu với họ để trả thù người Aztec. Đế quốc Aztec bị tiêu diệt sau vài tháng và kinh thành Tenochtitlan bị san phẳng. Kế tiếp là hai thế kỷ thống trị và bóc lột dã man của đám thực dân Espana. Mexico được độc lập năm 1821 chỉ để chịu đựng những chế độ độc tài cướp bóc của các tướng lãnh. Ngoại trừ một giai đoạn bình yên khoảng 20 năm do Lazaro Cardenas mở ra năm 1934, lịch sử Mexico cho tới nay là một chuỗi đàn áp, bóc lột, cách mạng, bạo loạn và ám sát, nhiều khi cùng một lúc. Mexico đúng là một quốc gia không thành.

Từ năm 2000 dân chủ được vãn hồi và ngày càng được củng cố. Những tranh luận chính trị ngày càng tỏ ra nghiêm chỉnh và có phẩm chất. Mexico có nhiều triển vọng ra khỏi danh sách những đất nước không thành, và có một tương lai.

Nhưng tại sao Mexico lại là một đất nước không thành?

Chính trong khi đi thăm viếng các nhà thờ lớn nguy nga, đặc biệt là nhà thờ Đức Mẹ Guadalupe (nơi Đức Mẹ Maria hiện ra với một thổ dân và in hình mình vào áo của người này) mà tôi nghĩ là đã tìm ra câu trả lời. Người Espana sang chinh phục Châu Mỹ tàn nhẫn với thổ dân bao nhiêu thì họ rộng rãi bấy nhiêu trong việc xây dựng những nhà thờ thật nguy nga, có phần hơn cả những nhà thờ lớn tại Châu Âu. Và người thổ dân đã chấp nhận đạo Công Giáo theo cách của họ, nghĩa là lấy các thánh công giáo thay cho các vị thần trước đó. Tại làng Chamula gần Palenque tôi được thăm một giáo đường trong đó rất nhiều người thổ dân Chiapas đang cúng các thánh công giáo như những thần linh, thí dụ như cắt tiết gà mái để xin cho con khỏi bệnh. Có những vị thánh không đáp ứng lời cầu khẩn nên đang bị phạt, không được thắp sáng và cũng không có lễ vật. Sự chắp nối lạ đời này chứng tỏ lý luận không có chỗ đứng đáng kể nào tại Mexico và khiến tôi chợt nhận ra là Mexico hầu như hoàn toàn không có một tác phẩm tư tưởng nào, dù đã có một nhà văn được giải Nobel về văn chương năm 1990. Mexico không có tư tưởng và vì thế đã là một đất nước không thành. Lý do là vì mọi quốc gia đều phải đặt nền tảng trên một tư tưởng chính trị đúng đắn nếu không muốn rơi vào bạo quyền và bạo loạn. Quốc gia là một khái niệm chính trị phức tạp đã gây tranh cãi dữ dội, nhiều khi đẫm máu.

Tư tưởng, kể cả tư tưởng chính trị, là con đường tới sự hiểu biết thấu đáo thay vì những xác quyết chắc nịch của sự nông cạn dẫn thẳng tới xung đột. Nhưng muốn suy nghĩ thì trước hết phải hiểu rõ các từ ngữ và khái niệm. Trong một nước nếu mỗi người hiểu quốc gia, dân tộc, tự do, dân chủ, pháp luật, chính quyền v.v. một cách khác nhau thì không thể có thảo luận và do đó không thể sống chung. Phương pháp duy nhất để hiểu như nhau là cố gắng học hỏi để hiểu đúng, và các khái niệm này phức tạp lắm chứ không đơn giản.

Sau đó cần đầu tư thời gian và cố gắng tìm giải đáp cho một số câu hỏi. Thế nào là một quốc gia lành mạnh? Cứu cánh của nhà nước là gì? Nhà nước có vai trò gì? Nhà nước quan trọng hơn hay cá nhân quan trọng hơn? Quyền hạn của nhà nước phải dừng lại ở chỗ nào để tự do cá nhân có thể bắt đầu? Có thể kiểm soát hoạt động kinh tế tới mức độ nào mà không triệt tiêu những quyền tự do chính trị? Một đại biểu quốc hội có quyền bầu theo lập trường mà mình nghĩ là có lợi cho cử tri hay phải bầu cho điều mà mình nghĩ rằng đa số cử tri muốn? Những mầm mống chia rẽ trong dân tộc xuất hiện như thế nào và phải được giải quyết như thế nào? v.v. Những câu hỏi này nhiều lắm và khó lắm nhưng nếu không trả lời được thì không thể xây dựng được quốc gia. Không có tư tưởng chính trị thì không thể có cảm thông giữa chính quyền và nhân dân, và giữa nhân dân với nhau.

Đó là điều đã xảy ra cho Mexico. Bằng chứng rõ rệt của sự thiếu vắng tư tưởng chính trị là một đảng với danh xưng ngớ ngẩn “Đảng Định Chế Cách Mạng ” đã có thể cầm quyền liên tục trong hơn một nửa thế kỷ và có nhiều triển vọng sẽ trở lại cầm quyền sau cuộc bầu cử tổng thống tháng 7 sắp tới. Các định chế là gì? Cách mạng là gì? Làm sao có thể vừa bảo thủ vừa cấp tiến, vừa bảo vệ các định chế vừa làm cách mạng? Trong suốt lịch sử của nó, có lẽ chỉ trừ một trường hợp Lazaro Cardenas, không có chính khách nào hiểu rằng quốc gia là một tình cảm, một không gian liên đới và một đồng thuận chia sẽ một tương lai chung. Tất cả những người đã thay nhau cầm quyền đều đã chỉ coi dân tộc như một khối người để đàn áp và thống trị. Và họ đã khiến Mexico trở thành một failed state.

30-4 cũng là ngày kỷ niệm sự cáo chung của một nhà nước không thành: Việt Nam Cộng Hòa. Cùng với chế độ này đã sụp đổ giấc mơ của những người muốn từ đó xây dựng một đất nước Việt Nam dân chủ và anh em. Chế độ này tồi dở nhưng không gian ác. Lý do khiến nó bại vong cũng là vì nó thiếu hẳn một tư tưởng chính trị. Nó không thiếu các bác sĩ, kỹ sư, luật sư, cử nhân, tiến sĩ nhưng nó không có những trí thức chính trị. Đó chỉ là những người học lấy bằng cấp để tiến thân, nghĩa là để vượt lên trên và tách ra khỏi quần chúng và hội nhập vào một thiểu số ưu thế. Và họ cũng chỉ học những ngành chuyên môn. Kiến thức chính trị của họ không hơn quần chúng, sự hiểu biết về thực tại xã hội thì chắc chắn không bằng. Những người cầm quyền như vậy không thể tranh thủ sự ủng hộ của quần chúng vì họ xa lạ với quần chúng, không biết cách tranh thủ và cũng không muốn phục vụ quần chúng; họ chỉ muốn quần chúng phục vụ họ. Từ Bảo Đại đến Ngô Đình Diệm đến Nguyễn Văn Thiệu không ai thực sự cố gắng tranh thủ hậu thuẫn quần chúng cả, trái lại vì thiếu văn hóa chính trị họ còn có những thái độ, ngôn ngữ và hành động khiêu khích đối với quần chúng. Và dù muốn họ cũng không biết phải làm gì để tranh thủ quần chúng vì họ không hiểu quần chúng. Các bộ thông tin, công dân vụ, dân vận v.v. của họ chỉ có để mà có, vì không lẽ không có. Một chế độ như vậy không thể tồn tại nếu bị tấn công, và họ đã bị tấn công. Trước mặt họ là những người cộng sản tuy động cơ có thể không trong sáng và văn hóa không cao nhưng biết cố gắng vận dụng quần chúng và đã tranh thủ được một phần quần chúng. Như vậy sự thất bại của chế độ Việt Nam Cộng Hòa là lẽ dĩ nhiên, phe cộng sản dù có thua bao nhiêu trận cũng vẫn còn đó để phục hồi trở lại vì vẫn còn quần chúng.

Việt Nam Cộng Hòa đã là một đất nước không thành vì không đủ thì giờ để hình thành. Nó còn cần thì giờ để có được một tư tưởng chính trị và những người lãnh đạo có bản lĩnh chính trị xuất phát từ quần chúng và vẫn là những đứa con của quần chúng. Nhưng thời gian này nó đã không có bởi vì nước đồng minh nắm vận mệnh của nó đã mất kiên nhẫn.

Đó là quá khứ, chỉ nhắc lại nhân ngày kỷ niệm. Điều đáng quan tâm hơn là Việt Nam hiện nay cũng đang tiến tới rất gần tình trạng của một đất nước không thành. Trong thực tế nước ta cũng chỉ là một thuộc địa trá hình trong đó một thiểu số cường hào chiếm đoạt đất nước làm của riêng, bất chấp quần chúng. Đảng cộng sản cư xử không khác một lực lượng chiếm đóng. Người dân không còn quan tâm tới đất nước vì đất nước không còn là của họ. Tư tưởng chính trị duy nhất được phép truyền bá là chủ nghĩa Mác-Lênin mà ngay cả những người áp đặt cũng biết là bệnh hoạn và nhàm chán. Đặc tính của những đất nước không thành: quan hệ chính quyền – nhân dân bị cắt đứt, thậm chí trở thành thù địch. Đã thế chính quyền còn liên tục nhục mạ người dân bằng những quyết định thách đố như cho Trung Quốc thuê rừng ở thượng nguồn, khai thác bôxit tại Tây Nguyên, chuẩn bị xây 14 lò phản ứng hạt nhân, bao che cho các đại gia cướp đất cướp nhà của dân chúng một cách công khai, trắng trợn, hàng ngày.

Còn lại sinh hoạt kinh tế. Nhưng kinh tế cũng sẽ rất bi đát trong những ngày sắp tới khi sự thực không còn che đậy được nữa. Và đàng nào thì mô hình kinh tế hướng ngoại cũng không thể tiếp tục khi các quốc gia phát triển đã đặt thăng bằng cán cân mậu dịch làm mục tiêu hàng đầu. Thử thách đặt ra cho sự sống còn của đất nước sẽ rất lớn vì chúng ta kiệt quệ, căm hờn và bất lực. Thảm kịch lớn nhất hiện nay của chúng ta là thảm kịch của ý chí và niềm tin.

Cũng như Mexico hiện nay chúng ta rất hụt hẫng về mặt tư tưởng chính trị, nhưng khác với họ chúng ta chưa bắt đầu khắc phục. Trí thức Việt Nam vẫn còn rất kém về kiến thức chính trị và vẫn còn nghĩ rằng chính trị không cần phải học. Một cuộc thảo luận gần đây còn cho thấy họ cũng không biết chính họ là ai vì nhiều người vẫn chưa hiểu thế nào là một trí thức. Đất nước Việt Nam cần tìm ra một lối thoát nhưng đôi mắt của Việt Nam lại chưa chịu mở ra.

Một trong những khái niệm bị xét lại một cách gay gắt nhất trong thế giới toàn cầu hóa này chính là khái niệm quốc gia. Số lượng các đất nước không thành sẽ ngày một gia tăng. Sẽ chỉ còn lại những quốc gia được quan niệm một cách đúng đắn và được bảo vệ một cách thông minh. Không có gì là quá nếu nói rằng đất nước đang lâm nguy. Thiểu số ít ỏi những người hiểu biết và có lòng yêu nước, những trí thức đúng nghĩa, cần hiểu rằng họ không có chọn lựa nào khác hơn là tìm đến với nhau trong một ý chí chung.

Nguyễn Gia Kiểng
(tháng 5/2012)

Đăng trong Chinh Tri Xa Hoi | Leave a Comment »

Điện Hạt Nhân

Posted by hoangtran204 on Thứ Tư, Tháng Năm 23, 2012

Lời Tựa: Muốn tránh sự thất bại trong làm ăn, người Mỹ thường nói: đừng làm những gì không phải là nghề của mình, đừng làm những nghề mà mình không thật sự hiểu biết và không bỏ ra thời gian đủ lâu để học hỏi và thu thập kinh nghiệm tới nơi, tới chốn. Thời gian và thực tế xảy ra cho thấy họ luôn luôn đúng.

Chỉ tính trong 10 năm qua ở Mỹ, hàng trăm ngân hàng lớn nhỏ sụp đổ, hàng trăm các đại công ty tập đoàn phá sản, và hàng chục ngàn doanh nghiệp khác tan rã mất hết tài sản chỉ vì bước vào làm những việc mà họ mới chập chững bắt tay vào nghiên cứu trong 10-15 năm, thậm chí là mới nhảy vào làm ăn chừng 5-7 năm là đã đối diện với khó khăn chồng chất.

Về vấn đề điện hạt nhân, tình hình hiện nay của VN là không có đủ đội ngũ của các kỹ sư, các khoa học gia về vật lý hạt nhân có kinh nghiệm làm việc ở nước ngoài, không có ngành hóa học hạt nhân, bác sĩ y khoa chuyên ngành hạt nhân (nuclear medicine), các cán sự kỹ thuật và công nhân chuyên về ngành điện hạt nhân… Nhân lực tối thiểu cho ngành này phải chừng 10000-15000 người, họ phải tốt nghiệp ở các đại học kỹ thuật ngành nguyên tử và ngành vật lý hạt nhân lẫn vật lý lý thuyết ở các nước Âu Mỹ.  Sau khi tốt nghiệp ra trường, họ còn phải làm việc ở nước ngoài, làm trong các nhà máy phát điện hạt nhân, xây dựng nhà máy điện hạt nhân, và ngành an toàn điện hạt nhân… tối thiểu cũng phải mất 10-15 năm để thu tóm kinh nghiệm.

Bên cạnh nhóm chủ lực nói trên, trong nước còn phải có tối thiểu 20-30 trường đại học kỹ thuật (tương tự như Trung Tâm Kỹ Thuật Phú Thọ, quận 10, Sài gòn, nay gọi là trường đại học bách khoa.) để tham mưu và hổ trợ về các mặt xây dựng và khoa học cơ bản.

Ngoài ra, VN  còn ở mức phôi thai hoặc chưa có các ngành cơ khí kỹ thuật tự động, cơ khí chính xác, luyện kim, kiến trúc, xây dựng các công trình có mức bền vững hàng trăm năm, khảo sát môi trường…các hãng xưởng VN cho đến nay chỉ làm gia công, và  không chế được 1 sợi sên xe đạp, một con ốc hay bù loong đạt đủ tiêu chuẩn đòi hỏi trong các ngành kỹ thuật cao…thì làm sao tính đến chuyện kỹ thuật xây dựng, điều hành nhà máy điện hạt nhân.

Ý tưởng điên rồ về xây dựng nhà máy điện hạt nhân là do 2 nhóm sau đây. Nhóm Việt kiều Nhật và nhóm cố vấn cho chính phủ.

Về ngành vật lý hạt nhân, ta có thể dùng tiêu chí ISI  (nguồn) để đánh giá khả năng các khoa học gia và kỹ thuật gia Việt Nam (ngành vật lý hạt nhân) hiện đang ở trong nước, hoặc nhóm Việt kiều Nhật chuyên về vật lý hạt nhân để xem họ đã có viết đề tài nghiên cứu, hay có đề xuất gì về các đề tài điện hạt nhân, được đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành của nước ngoài trong vòng 10-20 năm qua hay không? Các bạn có thể tự tìm hiểu khi vào website ISI nói trên để tìm xem thực hư thế nào.

Ai đã từng đọc qua các bài báo so sánh giữa VN, Thái Lan, Singapore, Nam Hàn, Mã Lai…về só lượng các đề tài nghiên cứu, phát minh, các bài báo khoa học, kỹ thuật chuyên ngành được các tạp chí nước ngoài đăng tải …có từng thấy đề tài nào liên quan  nghiên cứu về vật lý hạt nhân, xây dựng nhà máy điện hạt nhân của nhóm Việt kiều Nhật và các nhà vật lý hạt nhân trong nước hay của nhóm kỹ sư xây dựng nhà máy điện hạt nhân VN hay không?

Mấy năm qua, nhóm cố vấn cho chính quyền Hà Nội và nhóm khoa học gia và kỹ thuật gia (Việt kiều Nhật và trong nước) đã xúi dục các cán bộ cao cấp trong nước về việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Cả hai nhóm này quyết tâm làm vậy là vì tiền. Họ đã và đang được các nhóm sản suất nhà máy điện hạt nhân đút lót tiền bạc để có hợp đồng xây dựng. Hiện có 5 quốc gia chuyên sản suất và xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Đứng đầu là các công ty ở Mỹ, Nhật, Liên Xô, Nam Hàn; Trung Quốc mới học lóm xây dựng nhà máy điện HN.

Không một người nào trong 14 ủy viên bộ chính trị, 16 bộ trưởng cùng 64-70 thứ trưởng có đủ kiến thức để hiểu điện hạt nhân, chưa nói là về công nghệ làm nhà máy điện hạt nhân… nên chắc chắn nhóm cầm quyền phải dựa vào nhóm cố vấn khoảng 300 người đứng sau hậu trường giúp điều hành nền kinh tế, tài chánh,năng lượng, giáo dục…của cả nước trong hơn máy chục năm qua.

Các quyết định của các chính trị gia ở Hà Nội chịu ảnh hưởng bởi nhóm 300 người cố vấn khoa học, kỹ thuật, kinh tế, tài chánh này. Họ xúi gì thì các nhân vật chính trị nghe và làm theo. Khổ thay cho VN là nhóm cố vấn này đi học từ Nga và Đông Âu về, và họ hoàn toàn không thông thạo anh ngữ, pháp ngữ. Kiến thức của họ về khoa học, kỹ thuật, kinh tế, tài chánh khiếm khuyết rất lớn, nhưng họ là người được nhóm cầm quyền tin cậy. Các công ty nào muốn làm ăn trót lọt với VN thì cứ tìm cách tiếp xúc và tác động trực tiếp vào nhóm cố vấn này. Muốn cho chính sách nào được thông qua, cứ việc tìm nhóm cố vấn này nói chuyện là mọi chuyện thuận buồm xuôi gió.

Nếu nhóm cố vấn này giỏi, thì hơn 30 năm qua, VN đã thay đổi rất nhiều. Khả năng của nhóm cố vấn này như thế nào thì ta có thể so sánh số tiền đầu tư, thời gian đầu tư, giữa VN và Trung Quốc.

Với 200 tỷ đô la tư bản đầu tư vào VN  từ 1990-2011 (nguồn Foreign Direct Investment) và số tiền hàng chục tỷ đô la hổ trợ phát triển hành chánh official development assistance (ODA) , cùng với các khoản tiền mà ngân hàng thế giới (WB) và Ngân Hàng Phát triển Á Châu (ADB) cho VN mượn, cùng các nước âu châu như Bỉ, Thụy Điển, Úc viện trợ không hoàn lại hàng trăm triệu đô la hàng năm trong suốt hơn 30 năm qua…nhưng cấu trúc cơ sở hạ tầng của VN như đường sá, cầu cống, hải cảng, điện, nước, phi trường,…hiện nay vẫn còn rất tồi tệ.

Số tiền mà các nguồn trên viện trợ lẫn đầu tư vào VN bằng 1/3 hoặc 1/5 số tiền tư bản đầu tư vào Trung Quốc (654 tỷ đô la tính từ 1980-2006), nhưng xem ra VN không có cơ sở hạ tầng bằng 1/10 của Trung Quốc. Chỉ bao nhiêu đó thì đủ hiểu nhóm cố vấn này có khả năng ra làm sao. Nay nhóm cố vấn này đang đứng đàng sau lưng các nhân vật trong bộ chính trị và xúi họ làm điện hạt nhân, triển vọng VN tươi sáng sẽ càng xa dần. 

Tám lý do Việt Nam sẽ có lợi nếu chính phủ hoãn xây nhà máy điện hạt nhân

Phùng Liên Đoàn

22-05-2012

Chuyên viên an toàn, môi trường và kinh tế Điện hạt nhân đã làm việc tại Mỹ 40 năm

Nước Việt Nam đang đi ngược lại xu hướng trên thế giới là phải hết sức thận trọng trong việc xây nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) vì hai lý do chính: ĐHN có rủi ro gây tai nạn phóng xạ, và ĐHN rất đắt tiền. Việc đi ngược lại xu hướng này không phải vì ViệtNamcó một nền kinh tế mạnh hoặc một đội ngũ chuyên viên ĐHN chuyên nghiệp như Nga, Nhật, Đức, Mỹ, Pháp… mà vì lãnh đạo ta có một quyết tâm chính trị rất cao và có quyền không cần tham khảo ý dân. Quí vị lãnh đạo ta biết hết, lại tin vào lời báo cáo của cấp dưới là trong tương lai ta rất thiếu điện và ĐHN thế hệ lò thứ ba rất an toàn. Ngay sau biến cố Fukushima lãnh đạo ta vẫn khẳng định mạnh mẽ hơn thủ tướng Đức và thủ tướng Nhật là Việt Nam vẫn tiến tới việc xây nhà máy ĐHN.

 

Tôi mong mỏi quí vị lãnh đạo tìm hiểu kỹ càng thêm về kỹ thuật và kinh tế ĐHN cũng như quí vị đã để ý rất nhiều về thể diện quốc gia và vai trò chính trị của ĐHN.

Kinh nghiệm của nhiều nước tiên tiến cho biết việc xây nhà máy ĐHN Ninh Thuận và một chuỗi 6 lò ĐHN khác như dự tính không những sẽ không thành công, mà còn làm nước ta phụ thuộc vào nước ngoài nhiều hơn, con cháu ta sẽ còn phải đi làm lao công triền miên cho thiên hạ, và người trong nước thì vẫn thiếu điện để làm ăn. Khi việc này xảy ra vào những năm 2021 – 2030 thì quí vị lãnh đạo ngày nay không còn sống nữa hoặc không còn quyền hành gì nữa. Trách nhiệm về lỗi lầm ai sẽ gánh chịu? Mới 40-70 năm trước, lãnh đạo ta đã hi sinh nhiều triệu con dân Lạc Hồng để thực hiện một niềm tin tuyệt đối là Việt Nam đi đầu đem chủ nghĩa Marx-Lenin tạo hạnh phúc cho nhân loại. Hậu quả của niềm tin đó khiến nước ta tụt hậu, dân ta nghèo hèn, và còn đang gánh chịu đau thương nhiều thế kỷ. Nay ta đã biết gì về ĐHN? Và ta còn thì giờ không để sửa sai một quyết định chính trị rất phi kinh tế phi dân chủ này?

Tôi xin liệt kê dưới đây 8 lý do lãnh đạo Việt Nam nên hoãn xây ĐHN Ninh Thuận để có thì giờ nhìn vào tình hình ĐHN trên thế giới và lắng nghe lời can gián của người dân Việt không những trong nước mà còn rải rác khắp năm châu:

(1)  ĐHN rất cần thiết cho tương lai thế giới nhưng chưa cần thiết cho Việt Nam;

(2)  Ta đã làm quyết định quan trọng xây nhà máy ĐHN dựa trên phỏng tính thô sơ về nhu cầu điện;

(3)  Phỏng đoán giá nhà máy ĐHN quá thấp, ta sẽ phải chi tiền nhiều hơn nếu không bị kiện cáo hoặc bỏ rơi;

(4)  Ta tự chuốc lấy thất bại khi ta quyết định mua/xin nhà máy ĐHN của nhiều nước và huấn luyện nhân viên bởi nhiều nước;

(5)  Việc ta dùng hơn 150 triệu USD để đào tạo nhân sự ĐHN một mặt thì không đủ, một mặt thì rất phí phạm;

(6)  Làm ĐHN là đi ngược lại với nguyên tắc cạnh tranh do Thủ Tướng tuyên bố;

(7)  Ta nên dò xét ngay một nguồn năng lượng mới dưới lòng đất của ta;

(8)  Bỏ Ninh Thuân, cộng tác với Nga xây ĐHN nổi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, và hội nhập ĐHN đặc thù.

Tôi có tư cách gì bàn chuyện quốc gia đại sự này?

Tôi có cơ may tham gia vào các hoạt động hạt nhân của Mỹ trên 40 năm, từ những năm 1960s tới nay, kể cả việc tháo gỡ vũ khí nguyên tử, tẩy uế phóng xạ hậu quả của 50 năm chạy đua vũ khí hạt nhân, và thiết kế nhiều nhà máy ĐHN. Trong thời gian này tôi đã có mặt tại hầu hết các trung tâm nguyên tử của Mỹ, tham dự thiết kế xây dựng 6 nhà máy ĐHN và khảo sát hơn 50 nhà máy khác. Tôi đã tiếp xúc với các kỹ sư Nhật năm 1967 khi họ bắt đầu xây Fukushima Daiichi. Tôi đã học tập cùng với các kỹ sư Hàn Quốc, Đài Loan, Pakistan, Iran… khi những nước này chưa có một nhà máy ĐHN nào. Tôi đã làm việc tại United Engineers & Constructors năm 1967 khi công ty này xây dựng nhà máy Three Mile Island (TMI) tạiPennsylvania, rồi đến năm 1980 thì tôi lại khảo sát tai nạn nóng chảy TMI-2. Tôi đã từng khảo cứu hiện tượng China Syndrome (huyền thoại lò ĐHN nóng chảy tại Mỹ, chìm xuống đất và chui sang tận Tàu). Luận án tiến sĩ của tôi khảo cứu hiện tượng bình thép nặng 600 tấn của lò PWR 1000 MW bị bể, gây tai nạn nóng chảy “ghê gớm nhất”. Tôi là đồng tác giả khảo cứu WASH-1400 năm 1972-1975 là khảo cứu quan trọng nhất của Mỹ về các sự cố ghê gớm của ĐHN, dùng phương pháp rủi ro (probabilistic risk assessment) để làm luật Price Anderson bảo hiểm nhiễm xạ cho người dân. Ông Harold Denton, người được Tổng thống Jimmy Carter bổ nhiệm cứu nguy lò Three Mile Island trong cơn nguy biến tháng 3 năm 1979 là bạn của tôi tại cơ quan Định Chế ĐHN (U.S. Nuclear Regulatory Commission-USNRC) và đến năm 1995 lại là tư vấn trong công ty của tôi tại Oak Ridge, Tennessee. Tôi đã đánh cược 1 USD với ông Robert Bernero, người chuyên khảo cứu sự cố lò BWR (loại Fukushima) tại USNRC, là nhờ bài học TMI-2 Mỹ không thể có một tai nạn nóng chảy nữa tại một nhà máy nước nhẹ trước năm 2000. Tôi đã thắng cuộc; nhưng nếu tính cả tai nạnChernobylnăm 1986 (không phải loại lò nước nhẹ) và tai nạnFukushima(sau năm 2000) thì tuy không thua cuộc nhưng tôi cũng coi là thua, bởi vì tôi đã chủ quan quá lố. Tôi đã đặt giải thưởng lấy tên là Weinberg để phát 2 năm một lần tại American Nuclear Society cho một khoa học gia có tâm dùng năng lượng hạt nhân phụng sự xã hội.

Trong suốt 30 năm làm tư vấn nguyên tử tại Mỹ để sinh sống, tôi lại chuyên khá nhiều về kinh tế ĐHN so với các nguồn năng lượng khác.  Bài viết của tôi về ĐHN trình bày tại Việt Nam năm 1999 được USNRC lặp lại và kỹ sư Việt Nam tưởng là lý luận của Mỹ nên đã dùng để cổ võ cho việc xây ĐHN tại Việt Nam!

Với các kinh nghiệm thực tế trên, tôi có đôi chút hiểu biết về ĐHN và phải là người rất hăng hái trong việc xây dựng nhà máy ĐHN tại quê hương Việt Nam của tôi giống như một đồng nghiệp, ông Đinh Đức Hữu (nay đã qua đời), để ta có thể “ngang hàng” với các nước Á Châu tiên tiến như Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc,Trung Quốc.

(Xin xem phụ bản 1 phác họa quá trình làm việc của TS Phùng Liên Đoàn)

Nhưng không, với tất cả tâm tư ở tuổi 72 không vụ lợi, không tự ái, và đã nguyện đem hết tài sản của mình giúp trẻ em và người nghèo Việt Nam, tôi xin trình bày 8 lý do tại sao lãnh đạo Việt Nam nên nghĩ tới tương lai của con cháu mà hoãn việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận cho tới khi quí vị tổ chức cho người dân Việt Nam bàn bạc công khai về các lợi hại của chương trình ĐHN. Nếu người dân không có quyền được tham khảo, thì tôi nghĩ họ có quyền để di chúc cho con cháu không trả nợ cho các nước bán ĐHN cho Việt Nam khi mà các lãnh đạo ngày nay không còn sống mà nhận trách nhiệm đó.

Tám lý do đó như sau.

Lý do 1: ĐHN rất cần thiết cho tương lai thế giới nhưng chưa cần thiết cho Việt Nam

Nhiều người Việt cho rằng tai nạn Fukushima năm 2011 thật là khủng khiếp, cùng với tai nạn Chernobyl năm 1986 và TMI-2 năm 1979 chứng tỏ rằng ĐHN là một quái thai khoa học kỹ thuật có hại cho loài người, cần phải dẹp bỏ. Tôi không đồng ý với lý luận dựa trên cảm tính sợ hãi nhưng không thực tế này. Tuy ĐHN thoát thai từ vũ khí hạt nhân, Fukushima và Chernobyl đã làm cả ngàn người nhiễm xạ và gây thiệt hại đất đai trên cả trăm cây số, năng lượng hạt nhân cũng đã đem lại phúc lợi cho nhiều trăm triệu người qua y học, nông nghiệp, ngư nghiệp, cùng là đóng góp 14% điện trên thế giới (1660 tỉ kWh/ năm, đáng giá 100 tỉ USD mỗi năm, và đã như vậy trên 30 năm rồi). Nó cũng giảm thiểu hơn 6 tỉ tấn khí CO2 và cả triệu tấn chất độc hại như thủy ngân, arsenic, nhôm, lưu huỳnh… mỗi năm các nhà máy đốt than đốt dầu thải ra khí quyển, một sự kiện gây đau ốm cho nhiều triệu người, khí quyển hâm nóng, bão tố to hơn, nước biển dâng cao và do đó gây đói kém cho cả tỉ người. Ta không thể đem hiểu biết và kỹ thuật nguyên tử đóng vào chai để cất đi, cũng như ta không thể dẹp bỏ kỹ thuật xe hơi hằng năm giết hơn 300.000 người và làm bị thương nhiều triệu người.

Nhưng ĐHN khó làm, khó điều hành, chỉ khả thi tại các nước giàu dùng rất nhiều năng lượng, có hạ tầng cơ sở tốt, có nhân công với văn hóa kỹ thuật và an toàn ở trình độ cao, kinh tế mạnh. Nước ViệtNamta hoàn toàn khác. Ta có chiến tranh liên miên từ nhiều thế kỷ, mới hòa bình tương đối vài chục năm, hạ tầng cơ sở còn rất yếu kém, kinh nghiệm an dân tế thế còn rất mỏng manh. Dân ta nghèo, sức thu nhập thua dân các nước tiên tiến cả chục lần (3300 USD/ capita [tính trên đầu người] so với 32.000 -37.000 USD/capita tại Hàn Quốc và Đài Loan). “Rừng vàng biển bạc” của ta chưa được khai thác khoa học đúng mức. Ta còn phải xuất khẩu lao động (thực sự là nô lệ) kiếm ngoại tệ cho ta nhập khẩu các thiết bị cần thiết. Ta nên dùng ngân sách nhỏ bé của ta nâng cao dân trí và cơm no áo ấm cho người dân trước khi phiêu lưu vào ĐHN khó làm và rất đắt mà chỉ các nước có kinh tế mạnh và người dân đã no ấm mới có thể làm nổi. Các lý luận cường điệu “tại sao không?” phần lớn dựa trên những quyết đoán nông cạn và duy ý chí.

Lý do 2: Ta đã làm quyết định quan trọng xây nhà máy ĐHN dựa trên phỏng tính thô sơ về nhu cầu điện

Ngày 27 tháng 7/2011, Thủ tướng ViệtNamký quyết định phê duyệt quy hoạch phát triển điện lực quốc gia giai đoạn 2011-2020 có xét tới 2030. Theo quy hoạch này, Điện lực Việt Nam (EVN) phỏng tính rằng tới năm 1920 thì Việt Nam cần 330 tỉ kWh và 1930 thì cần 693 tỉ KWh. Như vậy là chỉ 8 năm nữa, năm 2020, ta dùng một số điện ngang với Anh Quốc ngày nay (345 tỉ kWh); và năm 2030, ta dùng một số điện ngang với Đài Loan và Hàn Quốc cộng lại (229 tỉ kWh + 460 tỉ kWh = 689 tỉ kWh). Trong khi đó, GDP ngày nay của Việt Nam là 299 tỉ USD – chỉ bằng 13% GDP của Anh hoặc Hàn Quốc cộng Đài Loan (xem bảng A).

Bảng A: Vài con số GDP và điện (tài liệu CIA WorldFactbook, circa 2011)

 

ViệtNam

Thái Lan

Mã Lai

Đài Loan

Hàn Quốc

Anh Quốc

Đức

Nhật

GDP (tỉ USD)

299

601

447

885

1549

2.250

3.085

4.389

USD/capita

3.300

9.700

15.600

37.900

31.700

35.900

37.900

34.300

E (tỉ kWh)

109,3

139,2

117,9

229,0

460,0

344,7

545,0

860,0

E/GDP (kWh/USD)

0,366

0,232

0,264

0,259

0,297

0,153

0,177

0,196

                 
Tỉ số dùng điện

1

0,63

0,72

0,71

0,81

0,42

0,48

0,54

.

Mặc dầu các con số trên có nhiều thành tố, ta vẫn có thể kết luận ta dùng điện rất phí phạm, tốn nhiều hơn 20-50% để sản xuất một đơn vị GDP khi so với các nước láng giềng và các nước tiên tiến. Số điện cần thiết cho năm 2020 và 2030 sẽ ít hơn khi ta học hỏi được cách dùng điện nhạy bén hơn. Rõ ràng đây là nhiệm vụ của giáo dục, của việc nâng cao dân trí, của trình độ kỹ thuật. Có người cường điệu cho rằng nhờ ĐHN ta sẽ có trình độ kỹ thuật cao hơn. Họ nên nhìn vào việc ta dùng xe Lexus, điện thoại di động, máy ảnh số… tràn lan trên khắp nẻo đường ViệtNamtrong khi ông đại sứ Nhật than phiền không công ty nào trong nước làm được chai thủy tinh theo chuẩn của rượu sake của Nhật sản xuất tại Huế! Kinh tế của ViệtNamsẽ không học hỏi được gì, hoặc chỉ học hỏi tí teo, nơi kỹ thuật ĐHN.

Chính phủ nên hoãn xây nhà máy ĐHN cho tới khi EVN và các nhà kinh tế xác định lại một cách công khai tại sao ta cần nhiều điện như trong quyết định Thủ tướng ký năm 2011.

Lý do 3: Phỏng đoán giá nhà máy ĐHN quá thấp, ta sẽ phải chi tiền nhiều hơn nếu không bị kiện cáo hoặc bỏ rơi

 Kinh nghiệm của thế giới là không có nhà máy ĐHN nào xây cất theo đúng giá dự kiến,thường sẽ đắt hơn 50% – 300%. Tôi đã theo dõi giá thành của hơn 30 nhà máy ĐHN tại Mỹ và thấy nhà máy nào cũng đắt hơn dự kiến ban đầu. Có nhiều lý do: (a) mỗi nhà máy là một sản phẩm đặc thù, phụ thuộc vào người xây, thời biểu xây, và các hãng cung cấp thiết bị và nhân sự; (b) luật lệ an toàn ngày một tăng và rắc rối, khiến cho việc xây cất phải sửa đổi, chờ đợi, tăng thêm thiết bị; (c) các hãng bán thiết bị ít khi cam đoan giá cả để còn phòng cơ hội tăng giá; (d) kiện tụng thường xảy ra trong bất cứ chương trình ĐHN nào; và (e) người cổ võ ĐHN thường dấu các cơ nguy tăng giá.

Tại Việt Nam, rủi ro giá thành tăng gấp 200%-300% hơn dự kiến là chắc chắn xảy ra, vì ta mắc phải hầu hết 5 nguyên nhân trên, mà còn mắc thêm hai nguyên nhân nữa; đó là (f) hạ tầng cơ sở của ta rất yếu (đường xá, cầu cống, cảng, vật liệu xây cất), và (g) nhân sự của ta chưa thấm nhuần văn hóa của công nghệ cao.Ta có nhiều ví dụ nhãn tiền các công trình lớn của ta đều đắt hơn dự tính mà lại không bền: nhà máy lọc dầu Dung Quất, đường dây 500 KV, đường Trường Sơn, thủy điện Lai Châu – Sơn La, xa lộ 1000 năm Thăng Long, đường hầm Thủ Thiêm…

Tiền nào của đó. Nếu rẻ thì ít tốt, ít an toàn hơn. Dù Nga có bán rẻ hơn Pháp, dù Nhật có viện trợ cho nhiều, thì nhà máy ĐHN Ninh Thuận cũng sẽ đắt hơn và xây lâu hơn dự tính, vì “đó là Việt Nam”! Ngân sách quốc gia sẽ bị vỡ nợ, không còn đủ tiền lo các vấn đề cấp bách hơn như giáo dục, y tế, quốc phòng, và cứu trợ trong trường hợp thiên tai. Chính phủ cần nhờ những nguồn độc lập đáng tin cậy tính lại cho thật kỹ và công khai giá thành và nguồn vốn xây ĐHN. Các kết quả có tính cách khoa học và thực tế sẽ giúp lãnh đạo quyết định sáng suốt hơn, thay vì “tới đâu hay nấy” theo cách hành xử thông thường tại ViệtNam.

Hầu hết các khảo sát trên thế giới đều kết luận giá thành nhà máy ĐHN là đắt hơn nhà máy đốt than, đốt khí thiên nhiên, và đập thủy điện. Nếu tính tổng thể cả nhiên liệu và điều hành thì điện từ nhà máy ĐHN chỉ kinh tế so với các dạng điện kia tại các nước tiên tiến như Nhật, Hàn, Mỹ, Pháp… Nhưng tại Việt Nam, tôi đã tính là ĐHN sẽ đắt gấp ba giá điện năm 2009, và vào năm 2020, sẽ vẫn đắt hơn điện từ đập nước, từ nhà máy đốt than và nhà máy đốt khí thiên nhiên.

Điện nào chẳng là điện. Lãnh đạo cần tìm đường dễ làm và rẻ tiền thay vì ĐHN để phục vụ người dân ViệtNamvốn đã rất nghèo và bị cúp điện kinh niên. Ta đã tuyên bố không làm bom nguyên tử, vậy thì ta càng nên tránh ĐHN rắc rối, đắt tiền, và có cơ nguy xảy ra tai nạn phóng xạ.

Lý do 4: Ta tự chuốc lấy thất bại khi ta quyết định mua/xin nhà máy ĐHN của nhiều nước và huấn luyện nhân viên bởi nhiều nước

Tại Mỹ, hãng máy bay Southwest Airline lớn mạnh và nổi tiếng làm ăn giỏi và an toàn là nhờ họ chỉ dùng một loại máy bay – Boeing 737; do đó huấn luyện phi công và nhân viên bảo trì một cách đồng nhất và có thể xoay sở dễ dàng khi có nhu cầu thay đổi chuyến bay. Các công ty lớn hơn như American Airlines, Delta Airline, United Airline… đều bị phá sản, vì nhiều lý do trong đó việc dùng nhiều loại máy bay cũng là một yếu tố quan trọng.

Vào những năm 1970-1980, các hãng điện lớn tại Mỹ như Commonwealth Edison, Duke, Tennessee Valley Authority… gặp rất nhiều khó khăn khi dùng nhiều loại nhà máy khác nhau như BWR của General Electric, PWR của Westinghouse, PWR của Babcock and Wilcox, và PWR của Combustion Engineering. Việc dùng nhiều loại lò và nhiều kiểu lớn nhỏ khác nhau khiến nhân viên phải được đào tạo đặc thù, giấy tờ kỹ thuật khác nhau giữa các nhà máy, và hệ thống an toàn khác nhau. Việc này phân tán và làm rối bời lực lượng nhân sự, khiến các nhà máy ĐHN chỉ sản xuất được 50 – 60% điện dự tính, và công ty bị thua lỗ. Ngoài ra, rủi ro có sự cố cũng rất cao. ViệtNamta đang mắc cái bệnh này, tự cho ta là “khôn” dùng nhiều kỹ thuật “hạng nhất” nhưng ta không biết là đã tự gieo cái mầm có nhiều sự cố trong tương lai. Với vài ngàn nhân viên ĐHN của ta dùng một ngoại ngữ cũng chưa thông, làm sao ta có thể đương đầu với tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Nhật, tiếng Hàn và các tập huấn và luật lệ của họ cùng một lúc? Nếu họ đưa tài liệu và tập huấn ta bằng tiếng Anh thì các huấn luyện viên người Nhật, người Nga, người Hàn có thực thông mấy ngàn dữ kiện bằng tiếng Anh không? Làm sao ta có thể luân chuyển nhân viên từ nhà máy này sang nhà máy khác khi cần thiết? Khi các thiết bị từ con ốc, từ cái máy đo lường đều phải nhập khẩu, thì nhà máy ĐHN không sản xuất điện khi chờ đợi thiết bị được bay tới. Ta đã có kinh nghiệm với Dung Quất rồi, với các xe Lexus, Peugeot, Mercedes rồi, với các máy fax và điện thoại di động rồi. Ta không nên lệ thuộc nước ngoài quá nhiều về các vấn đề sinh tử như điện.

Trong chiến tranh ta có thể sử dụng tinh nhuệ mọi thứ khí giới, nhưng trong hòa bình ta không thể sử dụng tinh nhuệ nhiều loại nhà máy ĐHN. Ta không thể cường điệu “tại sao không?” cho tới khi ta học hỏi thêm về các nhu cầu 100% an toàn và 100% đáng tin cậy của nhà máy ĐHN.

Hoãn xây nhà máy ĐHN trong lúc này khi ta mới tốn vài chục triệu USD là giúp ta không tốn kém nhiều trăm triệu USD vào năm 2013-2015 và nhiều tỷ USD vào những năm 2015-2020.

Lý do 5:  Việc ta dùng hơn 150 triệu USD để đào tạo nhân sự ĐHN một mặt thì không đủ, một mặt thì rất phí phạm

Theo chương trình, Việt Nam dự định đào tạo 2400 kỹ sư, 350 thạc sĩ và tiến sĩ từ 2010 tới 2020 để phục vụ nhà máy ĐHN. Đồng thời cũng đào tạo 650 kỹ sư, 250 thạc sĩ và tiến sĩ để phục vụ các ngành liên hệ. Khoảng 10% kỹ sư và 40% thạc sĩ/tiến sĩ là được đào tạo tại ngoại quốc. Ngân sách đào tạo đã được chuẩn y năm 2010 là khoảng 150 triệu USD.

Điện nào chẳng là điện, tại sao ta lại đặc biệt ưu ái đào tạo chuyên viên ĐHN? Tại sao họ lại được học bổng và được đi nước ngoài? Tại sao lương họ lại cao hơn lương kỹ sư tại nhà máy than, nhà máy đập nước? Trong lịch sử của ta gửi người đi du học tại các nước tự do, bao nhiêu người đã trở về làm việc tại ViệtNam? Trong số người trở về ViệtNam, bao nhiêu người còn giữ nghề nghiệp được đào tạo và bao nhiêu người đổi sang nghề khác hoặc lại đi ra nước ngoài làm việc? Nếu kinh tế ViệtNamkhông phát triển mạnh thì làm sao ta giữ được người tài? Nếu ngành nghề không được tự do thì đến khi nào chính phủ không còn thất bại vì đầu tư nhân sự mà không đạt được mục đích?

Kinh nghiệm tại các nước Âu châu và Mỹ là bằng cấp thạc sĩ tiến sĩ hoàn toàn không cần thiết cho việc điều hành ĐHN và các luật lệ dịch vụ phóng xạ. Thật ra, người ta rất e ngại các người ỷ mình có bằng cấp to mà không tuân thủ luật lệ hoặc làm sái đi vì cho rằng mình biết. Vì thế, ngân sách sẽ tiết kiệm được một số tiền lớn nếu có chính sách rõ ràng là đào tạo thực tập và tinh thần tuân thủ luật lệ chứ không đào tạo thạc sĩ tiến sĩ khảo cứu.

Nhưng với một ngân sách đào tạo như vậy trong một quốc gia mà rất nhiều trường mẫu giáo và tiểu học chưa có những phương tiện học hỏi tối thiểu, chưa có nước sạch và phương tiện vệ sinh tốt, thì ta tự hỏi có nên không? Tại sao ta không đào tạo như vậy đối với các nhân tài điều hành các nhà máy thủy điện, nhiệt điện để họ nâng năng suất và tạo thêm điện ở các dạng rẻ tiền và dễ dàng hơn ĐHN? Nếu ta cũng ưu ái các nhân viên tại các nhà máy sản xuất điện khác thì việc sản xuất thêm số điện 4-10% là rất khả thi thay cho chương trình ĐHN của EVN.

Lý do 6: Làm ĐHN là đi ngược lại với nguyên tắc cạnh tranh do Thủ tướng tuyên bố

Quyết định của Thủ tướng năm 2011 nói rõ chính phủ chỉ giữ độc quyền đường dây chuyển tải điện. Vậy mà chính phủ làm ngược lại chính sách này bằng cách chấp thuận cho EVN, một công ty quốc doanh, dùng quyền thế nhà nước đi vay một số tiền rất lớn để làm ĐHN chưa chắc thành công nhưng chắc chắn toàn thể con cháu ta phải trả nợ. Nếu EVN là công ty tư thì họ có dám phiêu lưu như vậy không? Nếu chính phủ dùng số tiền đào tạo nhân viên ĐHN mà giúp cho tư nhân sản xuất điện tự do thì họ có thể dùng phương pháp dễ hơn để sản xuất 4000 MW điện vào năm 2020-2022 thay cho bốn lò ĐHN không?

Ai cũng biết không tư nhân nào, kể cả các ông tỉ phú ngoại quốc, sẽ bỏ tiền ra xây lò ĐHN cho Việt Nam vì rủi ro rất lớn về đầu tư, kỹ thuật, an toàn, và luật lệ. Ngay các hăng điện lớn của Mỹ còn phải xin chính phủ bảo đảm giùm khi họ đi vay tiền để xây ĐHN. Nếu chính phủ bỏ ra một phần số tiền dành cho ĐHN để khuyến khích tư nhân sản xuất, thì chắc chắn họ sẽ làm điện nhanh hơn và rẻ hơn ĐHN Ninh Thuận. Tôi xin đề nghị một vài phương pháp làm điện rẻ tiền hơn ĐHN:

  • Bán rẻ các bóng đèn fluorescent [huỳnh quang] để thay cho các bóng đèn nóng đỏ (incandescent). Các nước tại Úc, Mỹ, Âu đã áp dụng chương trình này từ nhiều năm. Ta chỉ tốn khoảng 500 triệu USD để thay 500 triệu bóng đèn và giúp giảm số điện dùng thắp sáng 60%, không phải xây thêm 6000 MW hay 6 lò ĐHN. Tính ra thì tiền đầu tư “không cần xây thêm” chỉ khoảng 100 USD/kW thay vì 5000 USD/kW ĐHN. Mà việc này có thể làm ngay, kết thúc trong 5 năm, chứ không phải chờ đợi 10-12 năm như xây nhà máy ĐHN.
  • Đào tạo nhiều thợ điện chuyên nghiệp để thay các dây điện nhỏ bằng các dây lớn hơn, giảm bớt phí phạm truyền tải trong thành phố từ khoảng 5-7% xuống khoảng 2-4%. Tiền đầu tư này tương đương với khoảng 2000 USD/kW thay vì 5000 USD/kW ĐHN, và còn tạo được cả ngàn công nhân điện có tay nghề và tránh trước rất nhiều nạn cháy nhà cháy chợ.
  • Tăng giá điện khi dùng quá một mức tối thiểu. Ví dụ, một gia đình chỉ cần khoảng 100 kWh mỗi tháng để thắp đèn và chạy máy móc, nhưng nếu họ đun bếp bằng điện hoặc có máy làm không khí mát, thì họ có thể phải dùng tới 400-600 kWh mỗi tháng. Nếu giá điện trên 100 kWh mỗi tháng tăng gấp đôi, trên 500 kWh mỗi tháng tăng gấp ba, thì người tiêu thụ sẽ dùng điện ít đi, và người bán điện vẫn có thu nhập khá. Chính sách này có thể tương đương với xây nhà máy điện giá 1000-2000 USD/kW. Ta lại đào tạo được một đội ngũ công nhân làm máy lạnh hiệu quả hơn, bịt kín các phòng có máy lạnh một cách khoa học để không mất khí lạnh, và lắp ráp cửa kính cách nhiệt tốt hơn (hai lớp kính thay vì một).
  • Tăng giá thu mua thủy điện lên gần giá sản xuất của nhiệt điện (ví dụ, từ 200 VND/kwh lên 1000 VND/kWh) sẽ giúp bảo trì các đập thủy điện và môi trường rừng tốt hơn, cùng là xúc tác cho người dân làm thủy điện ngay tại các sông ngòi (gọi là thủy điện với thế nước thấp). Việc này có thể tương đương với giá 500-1000 USD/kW thay vì 5000 USD của ĐHN. Ta bảo vệ môi trường, nâng cao an toàn thủy điện, và tạo được việc làm trong nước thay vì cùng tiền đó nhập khẩu điện và nhiên liệu từ nước ngoài.
  • Khuyến khích tương tự với điện gió, nhưng không trợ giá cao hơn, vì ta không nên theo xu hướng chính trị của các nước giàu “khuyến khích” dùng năng lượng tái tạo khi giá điện gió không có sức cạnh tranh. Ngay ông Obama của Mỹ đã thực tế hơn, không cổ võ cho “năng lượng tái tạo” mạnh miệng như một sinh viên nữa, mà thực tế hơn về việc dùng khí đốt thiên nhiên có được nhờ kỹ thuật mới tôi sẽ bàn dưới đây.
  • Trong mọi cơ hội trên, và các cơ hội tương tự, chính phủ nên chỉ đạo và áp dụng luật một cách nghiêm khắc nhưng công bằng, chứ không nên bắt tay làm, ngay cả qua các công ty quốc doanh là nơi dùng tiền không biết tiếc. Nhất là chính phủ nên áp dụng triệt để các luật an toàn đồng nhất cho người dân và cho môi trường, để ta không còn tệ nạn “nói bẻm mép” về việc “bảo vệ” nhưng khi thực hành thì rất luộm thuộm. Các cơ hội trên có kinh tế không thì thị trường sẽ tự giải quyết một cách tối ưu. Chính phủ sẽ tùy cơ hiệu đính chính sách một cách khôn khéo với sự đóng góp công khai của người dân.

Hoãn xây nhà máy ĐHN và thực hiện các công tác dễ dàng hơn và ít tốn kém hơn như trên sẽ có lợi cho việc xử dụng ngân sách một cách hữu hiệu, tạo nhiều công ăn việc làm cho người dân, tránh không nhập khẩu những gì không cần thiết, do đó kinh tế có hiệu quả hơn và người dân hạnh phúc hơn. Làm ĐHN là phiêu lưu kinh tế và chính trị. Nó làm kinh tế ta kiệt quệ, người dân không có việc làm, xã hội không ổn định và ta luôn luôn lệ thuộc nước ngoài.

Lý do 7: Ta nên dò xét ngay một nguồn năng lượng mới dưới lòng đất của ta

Trong 5-10 năm qua một hiện tượng khoa học kỹ thuật mới tại Mỹ đã làm đảo lộn chính sách năng lượng của Mỹ. Người ta dùng phương pháp khoan ngang (horizontal drilling) và phương pháp ép vỡ (fracking) đá thủy tra tại dưới sâu 500-3000 m, để khai thác dầu hỏa và hơi khí. Nước Mỹ nay sản xuất thêm được 500.000 tấn dầu mỗi ngày quanh những giếng dầu trước kia tưởng đã cạn. Quan trọng hơn, nước Mỹ dùng cách này tìm được dự trữ khí thiên nhiên có thể dùng suốt 100 năm tới. Việc này khiến cho giá khí thiên nhiên, vốn là một nhiên liệu quí hơn dầu vì dùng dễ hơn và ít ô nhiễm hơn, lại rẻ bằng 20% giá dầu tính theo đơn vị USD/kC hay USD/kWh(nhiệt). Mỹ đang có phong trào dùng khí thiên nhiên chạy 20 triệu xe vận tải lớn, và tạo điện thay cho than và dầu. Xây mới ĐHN tại Mỹ gặp rất nhiều khó khăn vì người ta có thể làm điện bằng khí đốt nhanh hơn và rẻ bằng nửa ĐHN.

Xu hướng khoan ngang và ép vỡ đá cũng đang được xử dụng tại Âu Châu và Trung Quốc. ViệtNamcần thăm dò kỹ thuật này cấp tốc, vì nó có quyết định sống còn với chính sách năng lượng của ta trong vòng 10 năm. Tốn kém chỉ ngang với việc sửa soạn xây nhà máy ĐHN (khoảng 50-100 triệu USD) và cơ may là rất lớn tìm được nhiều khí đốt; ví dụ, tại “vựa than sông Hồng” và các vùng có đá thủy tra. Việc này lại tận dụng được trí tuệ ViệtNamvốn từ xưa tới nay không được trọng bằng trí tuệ nhập khẩu.

Có người cường điệu cho rằng ĐHN dùng rất ít nhiên liệu, ta có thể khai thác mỏ uranium và tự chế các thanh uranium, hoặc ta có thể mua dự trữ các thanh uranium cho các nhà máy ĐHN của ta. Những người này chưa thấu hiểu quá trình tốn kém và khó khăn sản xuất uranium có U-235 giàu hơn thiên nhiên (3-4% thay vì 0,7%). Sau khi có uranium giàu U-235 rồi, việc chế tạo các thanh nhiên liệu cho nhà máy ĐHN lại còn cần một công trình kỹ nghệ tinh vi chỉ vài nước trên thế giới có thể làm (nếu thanh nhiên liệu làm ẩu thì phóng xạ tuôn ra sẽ rất cao, ta không điều hành được nhà máy). Giá nhiên liệu ĐHN khoảng 0,02 USD/kWh, nghĩa là khoảng 140 triệu USD mỗi năm cho một nhà máy 1000 MW. Làm sao ta có tiền mua các nhiên liệu đó dự trữ 5-10 năm?

Nếu Việt Nam có tiền bây giờ để “cam đoan” mua khí thiên nhiên của Mỹ trong 30 năm tới, thì giá khí thiên nhiên ngày nay rất rẻ và xây nhà máy đốt khí thiên nhiên chỉ mất 3 năm. Ta có thể sản xuất điện rẻ bằng 50% điện từ nhà máy ĐHN Ninh Thuận. Tôi đề nghị ta theo chiều hướng này, nhưng tìm khí thiên nhiên ngay trong nước ta thay vì “cam đoan” mua của Mỹ.

(Xin xem phụ bản 2 phác họa kỹ thuật khoan ngang và ép bể đá thủy tra)

Lý do 8: Bỏ Ninh Thuận, cộng tác với Nga xây ĐHN nổi, tạo được công ăn việc làm cho người dân, và hội nhập ĐHN đặc thù

Sau khi lắng nghe các ý kiến công khai về ĐHN, nếu ViệtNamvẫn còn muốn có kỹ nghệ ĐHN cho 30-100 năm tới, thì ta nên tìm phương pháp đặc thù có lợi cho kinh tế Việt Nam.

Một trong các phương pháp đặc thù là xây các nhà máy ĐHN nhỏ trên bè, có thể làm tại một cảng như Cam Ranh rồi kéo tới nơi có nhu cầu điện. Kỹ thuật làm ĐHN trên mặt nước hoặc dưới nước đã chín muồi vì đã thực hiện an toàn tại các tàu ngầm nguyên tử, hàng không mẫu hạm nguyên tử, tàu chở hàng Savannah, và tàu xẻ băng Lenin, và 5-6 nhà máy ĐHN nổi loại Lomonosov đang xây tại Nga. Xây lò ĐHN trên bè thì không sợ động đất. Sóng thần cũng không làm hại được lò vì sóng thần chưa hề phá vỡ các công trình to lớn có tường xi măng cốt sắt bảo vệ.  Các lò nhỏ từ 100 tới 300 MW lại rất cần thiết cho các xứ đang mở mang có nhiều bờ biển, như Nhật, Phi Luật Tân, Nam Dương, các nước Phi Châu, các nước Nam Mỹ. Việt Nam có thể điều đình với Nga xây 10 nhà máy ĐHN nổi 200 MW thay vì 2 nhà máy Ninh Thuận. Ta làm dịch vụ đóng bè, tạo công ăn việc làm cho cả chục ngàn người. Nga làm các lò từng loạt trong công xưởng, như vậy giá sẽ rẻ tính theo USD/kW. Các lò này lại có thể thiết kế chỉ thay nhiên liệu 4-5 năm một lần, thay vì 1-2 năm như các lò lớn. Khi ta neo hai nhà máy này gần các nơi cần điện như Hải Phòng, Đà Nẵng, Cần Thơ… thì độ tin cậy luôn luôn có điện (reliability) cao hơn, sự mất điện do truyền tải đi xa cũng ít hơn.

Cơ hội này giúp Việt Nam hội nhập thế giới ĐHN một cách đặc thù, và lại có một kỹ nghệ xuất khẩu ra thế giới thay vì hoàn toàn lệ thuộc vào nhập khẩu. Nhiều chục ngàn người sẽ có công ăn việc làm từ việc xây bè và các phụ sản của lò ĐHN. Nếu lãnh đạo Việt Nam thấy cơ hội này là có lý hơn ĐHN Ninh Thuận, tôi xin xung phong làm việc không lương (dùng lương tương xứng làm học bổng cho sinh viên Việt Nam), trong 3 năm để khởi đầu kỹ nghệ tương lai này cho Việt Nam trước khi chuyển giao cho một đội ngũ lành nghề tiếp tục. Nếu Việt Nam và Nhật bỏ 30 triệu USD để khảo sát địa điểm xây nhà máy Ninh Thuận 2, thì với một số tiền tương tự tôi có thể làm việc với Nhật, với Nga gây dựng kỹ nghệ ĐHN nổi rất an toàn và có triển vọng bán ra khắp thế giới. Tôi có thể hướng dẫn giới trẻ tuổi ViệtNamhọc hỏi các kinh nghiệm và luật lệ hạt nhân để trở thành tay nghề hàng đầu về ĐHN nổi. Như vậy thì ViệtNammới có thể tự hào là tiên tiến và có khả năng cạnh tranh kinh tế với kỹ thuật đặc thù.

(Xin xem phụ bản 3, hình TS Phùng Liên Đoàn bàn luận với các khoa học gia Mỹ và Nga năm 2010 về ĐHN nổi.)

Kết luận

Trong thời buổi khó khăn về chính trị, quân sự, kinh tế và ngân sách hiện tại của đất nước, lãnh đạo có cơ hội chuyển đổi tình hình và lòng ưu ái của người dân bằng một quyết định ngoạn mục là hoãn xây nhà máy ĐHN, trưng cầu dân ý theo những ý kiến tôi đề nghị (và nhiều ý kiến khác của trí thức Việt Nam và quốc tế), để hoạch định tương lai ĐHN tại Việt Nam nói riêng, kinh tế Việt Nam nói chung, và xa hơn là tương lai 100 năm của nước Việt Nam. Sự đóng góp của quí vị là ngay bây giờ. Quí vị anh minh thì con cháu ta sau này sẽ nở mày nở mặt. Còn như tiếp tục thiển cận, chậm chạp và độc tài thì quí vị sẽ làm người dân Việt Nam luôn luôn thua kém người dân các nước khác. Quí vị đâu có muốn như thế.

 P.L.Đ.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

Nguồn: Boxitvn

nguồn anhbasam.wordpress.com

Phụ bản 1: Quá trình làm việc của TS Phùng Liên Đoàn

Phụ bản 2: Minh họa kỹ thuật khoan ngang và ép đá dưới sâu cho nứt để lấy dầu, lấy khí thiên nhiên

Phụ bản 3: Hình TS Phùng Liên Đoàn bàn luận với các khoa học gia Mỹ và Nga năm 2010 về ĐHN nổi

Chú thích ảnh: Chụp ngày 10/11/ 2010 tại cuộc họp quốc tế của Hội American Nuclear Society 

Ngồi, từ trái qua:

Chú thích ảnh: Chụp ngày 10/11/ 2010 tại cuộc họp quốc tế của Hội American Nuclear Society 

Ngồi, từ trái qua:

TS Charles Newstead, viên chức cao cấp về nguyên tử của Bộ Ngoại giao Mỹ.

TS Phùng Liên Đoàn, Chủ tịch công ty nguyên tử và môi trường Professional Analysis, Inc.

Đứng, từ trái qua:

TS Alvin Trivelpiece, nguyên Thứ trưởng Bộ Năng lượng Mỹ về khoa học kỹ thuật, nguyên Tổng giám đốc Trung tâm Nguyên tử 5000 người Oak Ridge National Laboratory, Tennessee.

Viện sĩ Evgeniy Velikhov, TGĐ Viện Nghiên Cứu Kurchatov, Moskva. Ông Velikhov chúc Việt Nam và Nga có thể xây 1000 nhà máy ĐHN trên bè (công suất khoảng 300 MWe mỗi bè) tại bờ bể các nước đang mở mang, với sự bảo đảm an toàn và nhiên liệu bởi các cường quốc.

TS Andrew Kadak, nguyên Hội Trưởng Hội Nguyên Tử Mỹ (20.000 hội viên), bạn học của PLĐ.

Đăng trong Năng Lượng và Mỏ | Leave a Comment »

Đảng chống tham nhũng ra sao từ 2001 đến 2012

Posted by hoangtran204 on Thứ Ba, Tháng Năm 22, 2012

Tham nhũng là quốc nạn, và ta thử coi đảng chống tham nhũng như thế nào nha.

Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam các khóa

I | II | III | IV | V | VI | VII | VIII | IX | X | XI

Vấn đề tham nhũng trong giới đảng viên được chính thức đề cập trong giai đoạn 1996-2001, khóa VIII

*Ban Chấp hành Trung Ương đảng Khóa 8, nhiệm kỳ 1996-2001, đã họp và ra:

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay

Trích:

    “5. Tập trung chỉ đạo cuộc đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu có hiệu quả.
– Các cấp uỷ đảng và người đứng đầu các cấp, các ngành từ Trung ương đến cơ sở phải chịu trách nhiệm chống tham nhũng ở nơi mình phụ trách. Bộ Chính trị phân công một số Uỷ viên Bộ Chính trị, các cấp uỷ phân công uỷ viên ban thường vụ trực tiếp chỉ đạo chống tham nhũng, lãng phí quan liêu.
Khi xảy ra tham nhũng, lãng phí và các hiện tượng tiêu cực ở địa phương, ngành cơ quan, đơn vị mình phụ trách thì tuỳ theo mức độ và tính chất vi phạm của vụ việc mà xem xét hình thức kỷ luật đối với cấp uỷ và người đứng đầu về chế độ trách nhiệm.
- Cấp uỷ và uỷ ban kiểm tra các cấp cùng với các cơ quan thanh tra, điều tra, kiểm sát, toà án phải nắm chắc tình hình và khẩn trương kiểm tra, kết luận, xử lý kịp thời đúng pháp luật những đơn tố cáo về đạo đức, lối sống tiêu cực của cấp uỷ viên và người đứng đầu các cơ quan, trước hết đối với Uỷ viên Trung ương, trưởng ban, bộ trưởng, bí thư cấp uỷ, chủ tịch uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố, trực thuộc Trung ương và cán bộ chủ chốt trong hệ thống chính trị. (nguồn)

Chắc hẳn khi phát hiện ra có sự kiện tham nhũng bên trong hàng ngũ đảng viên đảng cộng sản vào năm 2001, thì vấn nạn này đã nghiêm trọng lâu lắm rồi. Bởi vậy, cứ mỗi 2 năm một lần, vấn đề này lại được BCH Trung Ương đảng  nhắc đi nhắc lại từ khóa 8 đến khóa 11 (mỗi khóa là 5 năm). Sau mỗi lần nhắc nhỡ, là có nghị quyết đề ra, và cứ thế mà đảng viên học tập liên tục, liên tục.

Học chẵn chòi 11 năm qua, nhưng xem ra các đảng viên không hề thông! Việc phòng chống tham nhũng chẳng những không có gì giảm sút, mà lại còn gia tăng với mức độ “khủng”

Trên báo đảng, dấu tích rành rành về chống tham nhũng:

_Ngày 7 tháng 6 năm 2001, Bộ Chính trị đã ra Chỉ thị số 03-CT/TW về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khóa VIII. (nguồn)

_2003 Sợ đảng viên sao nhãng, nên 2 năm sau, báo của đảng nhắc lại: Nghị quyết Hội nghị lần thứ 6 (lần 2) Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá VIII) Về một số vấn đề cơ bản và cấp bách trong công tác xây dựng Đảng hiện nay (nguồn)

_2005, Chắc tham nhũng ngày càng tăng, nên Đại hội IX Ban Chấp hành Trung Ương Đảng lại ra nghị quyết: Chỉ thị của Bộ Chính trị Về việc tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (lần 2) khoá VIII (nguồn).

_2006

Chắc tình trạng tham nhũng gia tăng cực độ, nên  Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá X  đã nêu ra các vấn đề cụ thể như sau:

        Hướng dẫn số 04-HD/TTVH, ngày 25-9-2006, của Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương về Tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”

        Hội nghị lần thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khoá X đã ra Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21 tháng 8 năm 2006 về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.

Đây là một nghị quyết rất quan trọng, cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đại hội X, thể hiện vai trò và quyết tâm chính trị của Đảng trong việc lãnh đạo toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta quyết tâm ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng, lãng phí trong xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội X của Đảng.

Thực hiện Công văn số 35 ngày 08 tháng 9 năm 2006 của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương thống nhất với Ban Nội chính Trung ương hướng dẫn việc phổ biến, quán triệt và tổ chức triển khai thực hiện Nghị quyết trong Đảng và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân như sau:

I. Yêu cầu

– Tổ chức phổ biến, quán triệt sâu sắc nội dung Nghị quyết trong các tổ chức đảng, đoàn thể, cơ quan quản lý hành chính nhà nước và tuyên truyền sâu rộng trong nhân dân.

– Gắn việc phổ biến, quán triệt nghị quyết với việc kiểm điểm, đánh giá tình hình, chỉ ra những biểu hiện của tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, địa phương, đơn vị. Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết một cách cụ thể, thiết thực, trong đó xác định những công việc trọng tâm, những vấn đề bức xúc mà dư luận ở địa phương, cơ quan, đơn vị đang quan tâm, để chung sức giải quyết kịp thời, hiệu quả.

– Gắn việc quán triệt, triển khai thực hiện Nghị quyết với việc triển khai chương trình hành động của tổ chức đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội X, coi đây là một nội dung quan trọng nhằm thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội X ngành, địa phương, cơ sở.

– Trong nhiệm vụ phòng, chống tham nhũng, lãng phí cần quán triệt quan điểm kết hợp xây và chống. Gắn việc triển khai thực hiện Nghị quyết với cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” sẽ được phát động vào đầu năm 2007.

II. Nội dung và các bước tiến hành

1. Nội dung

– Các cấp uỷ đảng tổ chức hội nghị phổ biến, quán triệt Nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí đến tất cả cán bộ, đảng viên, công chức thuộc các cơ quan nhà nước, chú trọng các cán bộ chủ chốt, các cơ quan, đơn vị quản lý kính tế, những nơi đang có vấn đề bức xúc mà cán bộ, nhân dân và dư luận đang quan tâm, để lãnh đạo, chỉ đạo triển khai Nghị quyết một cách cụ thể.

– Xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết gắn với chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội X đã được thông qua, thực hiện Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, gắn với việc chuẩn bị và triển khai cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”.

– Phổ biến Nghị quyết đến tất cả các đoàn thể chính trị, các tổ chức chính trị – xã hội, vận động quần chúng nhân dân, lãnh đạo và phát huy vai trò của nhân dân tham gia phòng, chống tham nhũng, lãng phí.

– Lãnh đạo và thực hiện việc tuyên truyền liên tục, sâu rộng trong xã hội về nội dung, chương trình, kế hoạch thực hiện nghị quyết trên các phương tiện thông tin đại chúng và qua đội ngũ báo cáo viên, tuyên truyền viên.

2. Các bước tiến hành

– Ban Bí thư Trung ương Đảng tổ chức Hội nghị cán bộ toàn quốc phổ biến Nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và hướng dẫn triển khai Nghị quyết tại các ngành, địa phương, cơ sở.

– Thời gian: 1,5 ngày, từ 12 đến 13- 10 – 2006

– Thành phần:

+ Ở các tỉnh, thành phố: Đồng chí Phó Bí thư thường trực; Phó Bí thư, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân; Trưởng Ban Tuyên giáo; Trưởng Ban Tổ chức; Chủ nhiệm Uỷ ban kiểm tra.

+ Ở các bộ, ngành Trung ương: Đồng chí Thứ trưởng thường trực; Bí thư Đảng ủy cơ quan; Phó Bí thư thường trực Đảng uỷ khối các cơ quan Trung ương.

+ Ở các tổng công ty: Chủ tịch Hội đồng quản trị, hoặc Tổng Giám đốc.

– Các tỉnh, thành uỷ, đảng uỷ khối cơ quan Trung ương tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt phổ biến, quán triệt Nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và thông qua chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết trên phạm vi ngành, địa phương; hướng dẫn việc phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết ở các địa phương, cơ sở.

Thời gian: 1,5 ngày, hoàn thành trong tháng 11-2006.

– Cấp uỷ các cấp quận, huyện, thị xã, tổ chức Hội nghị cán bộ chủ chốt phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và thông qua chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết trên phạm vi quận, huyện, thị xã; hướng dẫn triển khai quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết tại xã, phường, thị trấn.

Thời gian: 1 ngày, hoàn thành trong tháng 12 năm 2006

– Đảng uỷ cấp cơ sở tổ chức phổ biến, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết đến toàn thể cán bộ, đảng viên, công chức, các đoàn thể chính trị.

Thời gian: 1 ngày, hoàn thành trong tháng 12 năm 2006.

– Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị phổ biến nội dung Nghị quyết đến từng hội viên, đoàn viên.

Thời gian: hoàn thành trong tháng 12- 2006.

III. Tổ chức thực hiện

– Ban Tư tưởng – Văn hoá Trung ương phối hợp với các cơ quan liên quan xuất bản Tài liệu học tập Nghị quyết, bao gồm toàn văn Nghị quyết, Luật phòng, chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí, các nghị định thực hiện luật của Chính phủ. Biên soạn và phát hành tài liệu tham khảo dành cho việc nghiên cứu, quán triệt Nghị quyết của cán bộ, đảng viên và nhân dân.

– Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương, Ban Nội chính Trung ương, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Văn phòng Trung ương giúp Ban Bí thư chủ trì Hội nghị cán bộ toàn quốc quán triệt Nghị quyết và Luật phòng chống tham nhũng, Luật thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và hướng dẫn triển khai Nghị quyết ở địa phương và cơ sở.

– Ban Chỉ đạo Trung ương phòng chống tham nhũng xây dựng chương trình kế hoạch thực hiện Nghị quyết; chỉ đạo các ngành, địa phương sớm hoàn thiện tổ chức và xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết tại ngành, địa phương. Ban Cán sự đảng, Đảng đoàn các cơ quan Trung ương xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết và giúp các ngành, địa phương triển khai thực hiện nghị quyết ở ngành, địa phương.

– Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương phối hợp với Ban Cán sự đảng Bộ Văn hoá – Thông tin chỉ đạo các cơ quan thông tin đại chúng, đội ngũ báo cáo viên đẩy mạnh tuyên truyền về Nghị quyết và phản ánh kịp thời khí thế thực hiện Nghị quyết các ngành, địa phương và cơ sở.

Tổ chức nghiên cứu, quán triệt và tuyên truyền Nghị quyết “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” là một nội dung quan trọng hiện nay. Do vậy, cấp uỷ đảng và chính quyền các cấp cần chỉ đạo chặt chẽ việc xây dựng chương trình kế hoạch, tổ chức thực hiện nghiêm túc các bước theo Hướng dẫn, tăng cường kiểm tra, đôn đốc, rút kinh nghiệm, kịp thời báo cáo cấp uỷ cấp trên.

Báo cáo gửi về Ban Tư tưởng – Văn hóa Trung ương để tổng hợp báo cáo Bộ Chính trị, Ban Bí thư theo tiến độ.

TRƯỞNG BAN
Đã ký
Tô Huy Rứa

(nguồn)

Sau khi có nghị quyết trên, có các động tác giả nai như sau: ai là trưởng ban phòng chống tham nhũng (PCTN)? Có ý kiến nói là nên giao cho quốc hội, có ý kiến đề ra là giao cho bộ chính trị, lại có ý kiến là thủ tướng làm trưởng ban chỉ đạo PCTN. Sau cùng, thì thủ tướng Ng Tấn Dũng làm trưởng ban.

2007

Ban chỉ đạo trung ương về phòng, chống tham nhũng do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu có trách nhiệm chỉ đạo, phối hợp, kiểm tra, đôn đốc

Có luật phòng chống tham nhũng của quốc hội, do Nguyễn Phú Trọng ký (nguồn)

Trong thời gian này, Vinashin thua lỗ hơn 4,6 tỷ đô la 2010, kế đó có tin tất cả 81/91 tập đoàn và tổng công ty đều thua lỗ (10 tập đoàn còn lại chưa báo cáo); và chỉ cách đây 3 tuần, Vinalines thua lỗ 1 tỷ đô la.

2012

Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị.

Vào tháng 4 năm nay, theo sơ kết 5 năm phòng chống tham nhũng do TT Nguyễn Tấn Dũng chỉ đạo:

Cụ thể là, năm năm qua, công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với các hành vi tham nhũng có tiến bộ. Các vụ án tham nhũng được phát hiện, xử lý với số lượng lớn. Ðã khởi tố 1.458 vụ án tham nhũng với 3.151 bị can; truy tố 1.603 vụ, 3.889 bị can; xét xử 1.455 vụ, 3.387 bị cáo.

Ðối với tám vụ án tham nhũng trọng điểm xảy ra từ 2006 trở về trước mà Ban Chỉ đạo T.Ư lựa chọn để chỉ đạo ngay sau khi thành lập đều đã được đưa ra xét xử dứt điểm.

Ðối với 21 vụ án tham nhũng nghiêm trọng, phức tạp khác mà Ban Chỉ đạo T.Ư lựa chọn để chỉ đạo đã xét xử năm vụ, Tòa án đang thụ lý hai vụ, Viện Kiểm sát thụ lý ba vụ, đình chỉ và tạm đình chỉ điều tra bốn vụ, đang điều tra bảy vụ.

Ðối với 20 vụ án mà Ban Chỉ đạo T.Ư giao Văn phòng Ban Chỉ đạo T.Ư theo dõi, đôn đốc đã xét xử 12 vụ, Tòa án đang thụ lý hai vụ, Viện Kiểm sát đang thụ lý hai vụ, đình chỉ điều tra hai vụ, đang điều tra hai vụ.

Công tác điều tra, truy tố, xét xử của các cơ quan tiến hành tố tụng đối với các tội phạm tham nhũng trong năm năm qua có tiến bộ so với trước.” (hết trích)

Tuy nói thế, nhưng thực tế tham nhũng trong đảng có mòi trầm trọng lắm, và coi bộ không hiệu quả, nên kỳ này Bộ Chính Trị phải ra tay. Báo viết như sau: 

Ngày 15-5-2012

“Ban Chấp hành Trung ương thống nhất chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng trực thuộc Bộ Chính trị; lập lại Ban Nội chính Trung ương, vừa thực hiện chức năng một ban đảng, đồng thời là cơ quan thường trực của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng.” (nguồn)

————-

Chỉ một tuần sau, khi Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Tham Nhũng trực thuộc Bộ Chính trị, thì có tin:

…Cách nơi họp phòng chống tham nhũng không xa, ở tỉnh Hải Dương, bí thư tỉnh ủy lương chỉ có 12 triệu/ tháng, đang xây nhà. Quần chúng ở đấy đang vô cùng ngưỡng mộ, bàn tán xôn xao về căn nhà, cả ngợi khen lẫn thích thú với các lời bàn về đức tính chí công vô tư cần kiệm liêm chính của ông chủ tỉnh nhỏ. Lời bàn đến tai Báo Giáo Dục. 

3 phóng viên của báo Giáo Dục được cử xuống hiện trường xem thực hư thế nào và họ đang tá hỏa… 

Lần tận mắt khối tài sản kếch xù trên đất của Bí thư tỉnh Hải Dương

(GDVN) – Thời gian gần đây người dân ở xã Ninh Thành, huyện Ninh Giang – Hải Dương đang đồn thổi nhau và không tiếc lời khen ngợi, ngưỡng mộ đối với độ hoành tráng và kiến trúc tuyệt đẹp của khu nhà vườn trên diện tích đất hơn 5.000 m2 được người dân địa phương xác định là của gia đình ông Bùi Thanh Quyến – Bí thư tỉnh Hải Dương.

Khu nhà vườn này tọa lạc ở một vùng quê nghèo của huyện Ninh Giang – Hải Dương nhưng không vì thế mà nó thiếu đi những nét đặc trưng của một khu nhà vườn hiện đại, ngược lại khu nhà này đã được thiết kế thành một quần thể nhà vườn hoành tráng với những kiến trúc lạ mắt những sẽ khiến cho những ai lần đầu đến đây phải ngỡ ngàng và “choáng ngợp”…

Khu nhà đang xây dựng của ông Bùi Thanh Quyến ở thôn Đông Tân – xã Ninh Thành – Ninh Giang – Hải Dương

Từ thông tin phản ánh qua đường dây nóng của người dân xã Ninh Thành (huyện Ninh Giang – tỉnh Hải Dương) có nội dung: Công trình nhà vườn có diện tích khoảng hơn 5.000 m2 ở thôn Đông Tân (xã Ninh Thành) đang tiến hành xây dựng trên đất nông nghiệp trái phép (đất chưa được chuyển đổi)? Và cũng theo phản ánh của người dân thì khu nhà vườn đang xây dựng trên diện tích đất thuộc sở hữu của gia đình ông Bùi Thanh Quyến – Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương?

Phóng viên Báo Giáo dục Việt Nam đã về thôn Đông Tân, xã Ninh Thành (Ninh Giang – Hải Dương) để xác minh thông tin này.

Khối “tài sản kếch xù” trong khu nhà vườn

Khi chúng tôi có mặt tại đây, điều dễ dàng nhận thấy đó là những tiếng nổ của các loại máy cẩu, máy xây dựng công trình nơi được coi như một “đại công trường” đang thi công.

Đi từ con đường trải bê tông dẫn vào làng hiện ra một “tư dinh” rất hoành tráng bởi hệ thống tường rào được xây kiên cố cao chừng 3m cùng một hàng cây xanh nhấp nhô chạy song song sát bên tường.

Vào bên trong khu nhà vườn đang xây dựng này thực sự khiến chúng tôi bị “choáng ngợp” trước những gì được “mắt thấy tai nghe”. Và chính xác hơn, nó giống như một khu nghỉ dưỡng sinh thái lý tưởng ở những khu du lịch nổi tiếng.

Theo điều tra của phóng viên và thông tin của một số người dân địa phương, công nhân xây dựng ở đây cho biết, toàn bộ khuôn viên khu nhà vườn này có tổng diện tích khoảng trên 5.000 m2 bao gồm một ngôi nhà 3 tầng (1 tầng hầm và 2 tầng nổi – PV) được thiết kế theo phong cách hiện đại và khác lạ (tức là, ngoài tầng hầm và tầng 1 được xây bình thường thì tầng 2 của ngôi nhà sẽ được làm hoàn toàn bằng gỗ, mái cong hình mái chùa); hệ thống dẫn nước đến 2 hòn non bộ “khổng lồ” bằng đá xanh được thiết kế công phu, đẹp mắt để điều hòa sinh thái cho khu nhà; một “rừng” cây cảnh thuộc dạng quý hiếm cũng khiến mọi người phải ao ước được sở hữu…

Theo chỉ dẫn của những người thợ xây dựng ở đây, tầng hầm nằm sâu dưới lòng đất khoảng 3m. Theo sơ đồ thiết kế hệ thống phòng sẽ có 4 phòng nhỏ và 1 phòng lớn, trong đó, có 3 phòng ngủ, 1 phòng khách và 1 phòng hát?

Cũng theo những người công nhân xây dựng ở đây cho biết, từ khởi công đến khi hoàn thành, chủ nhà phải bỏ ra khoảng nhiều tỷ đồng cho phần chi phí xây dựng. Chưa hết, để trang trí cho ngôi nhà này, trong bản thiết kế xây dựng còn được ốp lát bằng các loại gỗ quý và ước tính cũng phải “ngốn” hết khoảng nhiều tỷ đồng nữa. Như vậy, nếu các thông tin mà những người công nhân này cận kề với giá trị thực và chỉ nhẩm tính thì chi phí xây dựng ngôi nhà sẽ là một con số không hề nhỏ chút nào…?

 

Tầng 1 của ngôi nhà Sự kỳ công, đắt đỏ của khu nhà vườn này còn phải kể đến một hệ thống đường dẫn nước từ bên ngoài vào rồi cung cấp cho các hòn non bộ “khổng lồ” ở trước và sau khu nhà, góp phần tô điểm cho khuôn viên của khu nhà vườn thêm lộng lẫy. Theo những người thợ tại đây, những loại đá xanh, đá đỏ quý được đưa từ vùng đất Ninh Bình, Thanh Hóa và một số nơi khác về.

Theo tìm hiểu của PV, và thông tin của những công nhân xây dựng ở đây cho biết: toàn bộ các loại đá được đưa về đây lên đến hàng chục tỷ đồng, trong đó, riêng tổ hợp hòn non bộ ở phía sau nhà ước khoảng vài trăm triệu đồng. “Tất cả tiền đá mua về cũng hết nhiều tỷ đồng, nhưng đắt nhất là loại đá đỏ được đặt ở cổng chính vào và một hòn khác ở trên đồi” – ông K, một công nhân xây dựng ở đây cho biết.

Và “rừng” cây, gỗ quý…

Tất cả những con số trên là những điều có thể đánh giá được bằng phép tính đơn giản, nhưng những cây xanh quý hiếm được coi là “tài sản” vô giá trong khu vườn này. Đó là một “rừng” cây, gỗ quý được trồng ngay hàng, thẳng lối để “trang điểm” cho khu nhà vườn này như: cây sưa hàng trăm năm tuổi, tùng la hán, gốc thị lâu năm… và một số cây quý có nguồn gốc từ nước ngoài. Đặc biệt là sự có mặt của gốc cây sưa hơn 1 vòng tay người ôm và cây tùng la hán ước tính khoảng vài trăm năm tuổi. Theo như đánh giá của những nghệ nhân, những chuyên gia về cây thì có thể những loại cây kể trên có giá trị một vài trăm triệu cho đến vài tỷ, thậm chí có những cây đặc biệt quý có thể có giá vài chục tỷ…

 

Cây sưa và đá ở trong khu nhà vườn “Nói chung cây cảnh là vô giá và nó phụ thuộc vào sở thích của mỗi người nên đắt hay rẻ cũng khó nói lắm. Nhưng ở đây có hai cây có giá vài tỷ đồng là cây tùng la hán ở phía trước nhà và cây sưa. Vào thời điểm đắt nhất, năm 2010, thì cây tùng la hán có giá hơn nhiều tỷ đồng, cây sưa ở trên đồi kia đâu như cũng có giá cả triệu đô (USD). Còn lại những cây khác từ vài triệu đến vài trăm triệu đồng…” – ông K chỉ tay về hướng cây sưa ở trên đồi (đồi nhân tạo trong khu nhà vườn – PV) nói.

“Khu nhà vườn của bác Quyến Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương đấy. Đẹp lắm, muốn xem thì cứ vào trong sẽ biết” – bà T. T. N, trầm trồ khi phóng viên GDVN hỏi về khu nhà vườn đang xây tại thôn Đông Tân là của gia đình nào?

Cán bộ UBND đi nghỉ mát vào ngày làm việc?

Khi PV đến UBND xã Ninh Thành (ngày 16/5) để liên hệ công tác báo chí và xác minh nguồn gốc đất như theo phản ánh của người dân thì ông Vũ Thành Lượng Chủ tịch UBND xã Ninh Thành từ chối không hợp tác: “Chủ tịch đi vắng không tiếp được”.

Trong khi đó, ông chủ tịch xã vẫn ngồi chễm chệ trong phòng kế toán? Thậm chí, ông chủ tịch xã còn tuôn ra những ngôn ngữ hơi khiếm nhã và “lệnh” cho CA xã “mời” PV ra khỏi ủy ban(!?).

Trước đó, thứ 2, ngày 14/5, phóng viên đã điện thoại để đặt lịch làm việc với UBND xã nhưng điện thoại bàn Văn phòng ủy ban chỉ có chuông và không ai nhấc máy. Sau đó, PV tiếp tục điện thoại cho ông Vũ Thành Lượng Chủ tịch xã nhưng đầu dây bên kia chỉ tiếng thuê bao hiện giờ không liên lạc được?

Theo ông Nguyễn Văn Kiệt Chánh Văn phòng UBND xã Ninh Thành cho biết: “Hôm đó (14/5), chúng tôi đang đi du lịch ở Huế?”.

Qua nhiều lần liên lạc bằng điện thoại, phóng viên đã gặp được ông Bùi Thanh Quyến. Trao đổi với phóng viên báo điện tử Giáo dục Việt Nam, ông Bùi Thanh Quyến, Bí thư tỉnh ủy Hải Dương đã khẳng định:

Thông tin về việc ông xây nhà trên đất nông nghiệp (đất chưa chuyển đổi) là không chính xác. “Khu đất này đã được mua của các hộ dân ở địa phương và cách đây gần chục năm, đây là đất đã được chuyển đổi, hợp pháp…” Ông Quyến xác nhận.

Báo Giáo dục Việt Nam sẽ tiếp tục thông tin này đến bạn đọc…

Nguồn: Báo Giáo dục Việt Nam

—————————————-

Cận cảnh khối tài sản ‘kếch xù’ trên khu đất của Bí thư tỉnh Hải Dương

21-5-2012

(GDVN) – Đó là những tài sản đắt tiền, cực kì đắt tiền bên trong khu đất rộng đến 5000m2 mà người dân ở đây xác định là của gia đình ông Bùi Thanh Quyến – Bí thư tỉnh ủy Hải Dương.

Theo như thiết kế, tổng thể một khu nhà vườn đã được quy hoạch và đang được xây dựng trên khu đất với tổng diện tích lên đến hơn 5000m2 của gia đình ông Bùi Thanh Quyến (Bí thư tỉnh ủy Hải Dương), hiện đang được gấp rút thi công tại xã Ninh Thành – Ninh Giang – Hải Dương. Theo ước tính của những công nhân xây dựng ở công trình này thì tổng giá trị tài sản của toàn bộ diện tích đất và khối tài sản trên khu nhà vườn này có giá trị lên đến cả gần trăm tỷ đồng?

Mặc dù hiện nay công trình này vẫn đang được thi công, nhiều hạng mục vẫn còn dang dở nhưng nếu một lần bạn được đặt chân đến đây, bạn không chỉ cảm nhận được sự sang trọng, quyền quý bởi những gì đập vào mắt mình ở trong khu nhà vườn này mà bạn còn có thể nhìn tận mắt và cầm nắm được những khối tài sàn bạc tỷ ở đây.

Qua đoạn video dưới đây, bạn đọc có thể mường tượng ra phần nào sự hoành tráng trong khu nhà vườn rất “hút mắt” này:

 

http://www.youtube.com/watch?v=MJpmwuDvNzw

“Giá trị thực của khu nhà vườn này sẽ còn là dấu chấm hỏi cần có một cuộc kỳ công để tính toán, và theo ước tính nó sẽ là những con số ‘ấn tượng’ không hề nhỏ. Nhưng chỉ cần ‘chiêm ngưỡng’ những cây gỗ quý hàng trăm năm tuổi có giá trị rất ‘khủng’ la và những khối đá quý có kích thước cũng ‘khủng’ không kém và quý hiếm cũng đủ để mọi người bị… lóa mắt”. Đó là những khẳng định và lời đánh giá về khối tài sản của toàn bộ khu nhà vườn mà những công nhân xây dựng ở đây và người dân địa phương cho biết.

bt1.jpg

Vào bên trong khu nhà vườn đang xây dựng được người dân địa phương xác nhận là của gia đình ông Bùi Thanh Quyến – Bí thư Tỉnh ủy Hải Dương tại thôn Đông Tân, xã Ninh Thành, huyện Ninh Giang, tỉnh Hải Dương thực sự sẽ khiến bạn phải.. hoa mắt.

bt6.jpg

Để làm nên các hòn non bộ phải cần đến sự trợ giúp của máy cẩu (phía xa)

bt9.jpg

Công nhân vẫn hối hả thi côngbt10.jpg

Hòn non bộ này khi hoàn thành có giá cũng khá đắt.bt11.jpg

Hệ thống cây xanh được trồng quanh khu nhàbt12.jpg

phía trước cổng vàobt14.jpgCây Tùng La hán hàng trăm năm tuổi cũng có giá trị thành tiền cao ngất ngưởngbt15.jpgTheo lời kể của các công nhân xây dựng ở đây cho biết thì cây Thị này khó mà ước lượng được giá trị thành tiền của nó.

bt16.jpg

Cùng nhiều cây gỗ quý khác

Hải Sơn

danluan_00268.jpgÔng Bùi Thanh Quyến, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND, Trưởng Đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hải Dương

danluan_00266.jpgdanluan_00267.jpg

bt17.jpg

nguồn hình: danluan.org

Điều cần nói thêm là trong tổng số 175  ủy viên trung ương đảng, thì bí thư tỉnh ủy là thuộc hàng cao cấp nhất. Sau thời gian 5-7 năm, họ sẽ được bầu vào bộ chính trị. Theo website này, ông Bùi Thanh Quyến là UV Trung Ương Đảng, (số 119)

Trưởng Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng thành lập vào 2007, và đang báo cáo sơ kết 5 năm phòng chống tham nhũng trước 170 ủy viên trung ương đảng, trong đó có ông Bùi Thanh Quyến bí thư tỉnh ủy Hải Dương đang ngồi dự:

ngày 15-5-2012, “Các đồng chí chủ trì Hội nghị Sơ kết Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X)” (nguồn)

http://cema.gov.vn/modules.php?mid=4668&name=Content&op=details

Trong khi ông đảng viên Ủy viên Trung ương đảng, đại diện cho lực lượng tiền phong của giai cấp công nhân, đang xây nhà 5000 mét vuông với chi phí xây nhà và vườn hàng trăm tỷ như thế, thì nhan nhản công nhân VN thâm niên 10-15 năm có đời sống thực sự ra sao?

Báo Sài Gòn Tiếp Thị ngày 21-5-2012 có phóng sự trả lời câu hỏi trên qua bài sau: 

Phóng sự: Tạm bợ đời thợ

LTS: Dù nhan nhản người đã 10, 15 lăm năm làm công nhân, chỉ phải mất thêm chừng nửa số thời gian đã tích luỹ bảo hiểm là có thể hưởng lương hưu.

Cũng không ít người đưa cả đại gia đình dài đến bốn thế hệ với hàng chục con người, từ bỏ ruộng vườn, mồ mả tổ tiên lên sống tại những đô thị, cha mẹ, con cái cùng sóng bước vào cổng xí nghiệp.

Có kẻ đã tha hương đến quá nửa tuổi đời, bỏ phần nhiều sức khoẻ, tuổi xuân ở các khu công nghiệp, thành vợ – chồng, sinh con đẻ cái. Nhưng hình như với họ, đời công nhân vẫn chỉ là tạm bợ. Tạm bợ từ miếng ăn, chỗ ở, công việc đến tình yêu, lẽ sống và kiếp người. Đặc biệt, trong thời điểm kinh tế khó khăn này, sự tạm bợ đó càng trở nên mong manh hơn bao giờ hết.

Sau đây là ghi nhận của phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị sau những ngày làm công nhân cùng với hơn 1.000 con người khác tại doanh nghiệp sản xuất đồ gỗ tên L. ở một khu công nghiệp thuộc tỉnh Bình Dương.

Bài 1: Những bữa ăn cầm hơi

21-5-2012

SGTT.VN – Đúng 11 giờ 30, tiếng còi hơi réo lên inh tai như còi tàu thuỷ báo hiệu đến giờ nghỉ trưa, gần 200 con người đổ xô ra cổng, họ chen vai nhau, bước tất bật, vội vàng. Bốn tiếng rưỡi lao động buổi sáng đã xong, công nhân được nghỉ một tiếng ăn trưa.

 

Tôm rim – bữa ăn trưa sang và hiếm hoi của công nhân.

Ăn dưới 10.000 đồng

Trong xưởng giờ chỉ còn lại gần chục người, hầu hết là phụ nữ. Uể oải, bà Thành ngồi bệt xuống nền, bật nắp hộp cơm bằng nhựa mang theo, bên trong, chừng hai lưng cơm và miếng cá khô chiên cháy bằng ba ngón tay. Ít nhất, đã ba ngày nay, phần ăn của bà không thay đổi. Cạnh đó, phần ăn của bà Ba sang hơn, hai trái trứng vịt luộc, thêm chén canh suông. Hảo, người dân tộc thiểu số, chạy đi múc miếng nước đổ vào ấm điện (xưởng dùng để nấu nước sôi tẩy rửa) và bóc mì gói làm canh. Trong gần chục gô cơm trưa hôm đó, chỉ duy nhất một phần có thịt, bốn miếng nhỏ cỡ ngón tay cái. Một người biết đi chợ cũng tính ngay được không phần ăn nào quá 10.000 đồng, cho dù, công ty trả tiền ăn 13.000 đồng/bữa.

Chỉ chừng năm phút, tất cả đã nuốt xong cơm. Bà Thành bước ra bình nước, cầm ca, ngửa cổ uống đến “ực” một cái. Trước cái nhìn tò mò của một công nhân mới, bà cười ngượng: “Hôm nay lại cá khô”. Bốn tiếng rưỡi toàn đứng và đi, bước thêm vài ba trăm mét về phòng trọ dưới trời nắng như đổ lửa cũng trở nên nặng nhọc với người đã ngoài 40 tuổi.

Cách đó ngoài trăm bước chân, quán cơm bụi cũng tấp nập, nhưng toàn là dân phụ hồ. Dù xưởng có gần 200 công nhân, chỉ có hai người ghé ăn, một đang bệnh nặng, một bị hỏng xe. 15.000 đồng một phần, cơm thêm, trà đá thoải mái. Người bệnh tên Diễm An xuýt xoa: “Mắc hơn nấu nhưng em đi không nổi”. Cuối năm ngoái, cô bị tai nạn, tưởng chết, một mảng hộp sọ còn đang gửi ở bệnh viện chờ khi có đủ tiền mới lắp vô. Trưa nay không thấy cô “tự bồi dưỡng” bằng một hộp sữa tươi Vinamilk như mấy ngày trước vì buổi sáng, cô đã uống nó thay ăn.

Bữa sang

Thường lệ, cứ gần 6 giờ sáng, Tráng đi chợ mua đồ ăn cho cả ngày. Mang tiếng là “đi chợ” nhưng chỉ là bước ra cái quán tạp hoá gần đó. Rau: bữa thì bó muống già, khi lại cây cải thảo bằng bắp tay, hoặc mấy trái cà chua, dưa leo… Tất cả đều chia đôi, bữa trưa nhiều hơn chút. Mặn: vài ba quả trứng vịt, đậu hũ hoặc cá khô. Ngày hôm trước, sau khi cho tôi, người mới ở cùng phòng được nếm bữa trưa bằng hai quả trứng chiên mặn chát cộng nửa lon cá hộp và bữa tối bằng tô mì gói một trứng vào 9 giờ đêm (sau khi tăng ca về), nên hôm nay Tráng đãi tôi món tôm rim. Hành trình đi mua tôm sáng hôm đó lại phức tạp, cửa hàng tạp hoá không bán đồ tươi sống (thịt, cá) nên Tráng phải gửi 40.000 đồng để chủ quán mua giúp, trưa ghé lấy. Vừa đảo 15 con tôm sú nhỉnh hơn đầu đũa trong cái chảo đã cụt cán, người thanh niên 25 tuổi này chặc lưỡi: “Tôm to ghê!” “Hôm nay ăn sang thế?”, tôi hỏi. “Đãi anh đấy! Lâu lâu mà”, Tráng nói. Vào bữa, cả chủ và khách cùng để ý nhau “gắp đi anh”, mỗi chén cơm một con, khách ăn ba, chủ ăn hai. Số tôm còn lại ăn đến tối hôm sau mới hết.

Đã bảy năm bám trụ ở công ty, Tráng đã có tiền trách nhiệm, tháng nào thấp nhất cũng lãnh được 3,5 triệu đồng, khi nào có tăng ca, tiền lương tăng thêm khoảng 1 triệu đồng nữa. Kế hoạch chi tiêu của chàng thanh niên chỉ nặng 45kg này gói khá gọn: ăn một ngày (hai bữa) tối đa 20.000 đồng, kể cả mắm muối. Mỗi tháng, tiền phòng trọ cộng tiền điện nước: 400.000 đồng, ăn sáng: 250.000 đồng, mọi thứ lặt vặt khác: 100.000 – 200.000 đồng nữa. Không càphê, quán xá, một ngày hút ba điếu thuốc loại rẻ nhất, thỉnh thoảng nhậu tại phòng với mấy bạn trong khu trọ, tiền rượu là chính, 12.000 đồng/lít. Chấm hết. Nhẩm tính, mỗi tháng một công nhân chỉ xài hết 1/3 thu nhập của mình.

Tuy đi chợ từ sáng sớm, nhưng không ai nấu ăn sáng, họ chỉ cắm nồi cơm, rửa rau, ướp đồ ăn để trưa về nấu cho nhanh. Như hầu hết công nhân ở đây, cả hai anh em chúng tôi ghé vào xe bánh mì ngay cổng xưởng mua hai ổ, loại lớn 8.000 đồng, nhỏ 7.000 đồng. Đồ ăn sáng có năm loại: xôi (rẻ nhất), bánh mì, bún, mì – hủ tíu gõ, phở. Giá cao nhất 10.000 đồng/tô. Tráng chậm rãi gặm, vừa đến nửa ổ, cậu ta gói lại “để dành đến nửa buổi ăn tiếp” vì lúc đó ai cũng đói. Tráng hay ăn bánh mì vì vừa đỡ 3.000 đồng, vừa để dành được.

Bồi dưỡng mì gói

Tối nay tăng ca, công nhân được nghỉ nửa tiếng đi ăn, từ 6 – 6 giờ 30 phút. Chẳng ai về nhà ăn cơm kịp vì thời gian ngắn quá, mọi người ra quán hoặc nhịn. Lại những món buổi sáng, có thêm cháo vịt. Ngoài Tráng, tôi rủ thêm hai vợ chồng công nhân, bốn tô cháo dọn ra, rau trộn sẵn, kèm ba miếng thịt vịt mỏng và miếng tiết heo. Bàn bên cạnh, mấy cô cậu công nhân trẻ, vừa ăn vừa tán tỉnh nhau, nhưng khi tính tiền cũng phần ai nấy trả. Góc bên kia, Hảo đang đứng một mình, cô nhịn. Bà Thành ngồi lại trong xưởng, sáng nay bà mang thêm hai củ khoai lang luộc.

8 giờ 30 tối, ngày làm việc đã cạn. Sau 12 tiếng đồng hồ chỉ đứng và đi, đôi chân bây giờ như muốn rụng ra. Cả hai ghé vô quán mua ba gói mì, hai quả trứng gà công nghiệp (một gói mua giùm cho một công nhân đang có bầu ở cùng dãy trọ) và hai bịch dầu gội. “Sao không mua luôn cả thùng mì, vừa rẻ hơn vừa đỡ mất công”, tôi hỏi. “Mua nhiều sẽ ăn nhiều, nhanh hết”, Tráng nói. Khát nước quá, tôi lấy thêm hai chai nước Trà xanh không độ trước sự can ngăn của Tráng. Tu được nửa chai, cậu ta dừng lại, vặn nắp “để dành buổi tối”. Ở phòng, bình nước 20 lít giá 7.000 đồng sau ba tháng uống đã cạn trơ từ hai hôm trước, nhưng phải đợi chủ nhật, Tráng mới đi mua vì “giờ chưa đến tháng”.

Tôi cầm gói mì mua giùm sang phòng trọ kế đó cho bà bầu, tên Hoa Định, vừa để làm quen. Năm nay cô 38 tuổi, người ngoài Bắc, đã làm cho công ty 11 năm. Vừa vác bụng bầu bảy tháng, vừa pha mì, Hoa Định kể: “Bây giờ có thai em còn ăn, ngày trước em nhịn luôn”. Tô mì gói và vài lát dưa leo nghi ngút khói, cô ăn uể oải, hết một nửa thì dừng lại, có lẽ vì ngán. 12 tiếng đứng máy khoan đã vắt kiệt sức của người sắp làm mẹ này, nhưng trong ánh mắt cô, luôn đau đáu một nỗi giày vò “chẳng có ai bên cạnh khi em chuyển dạ…”

bài và ảnh: Vĩnh Hoà

————————————————————————————————

Báo Giáo dục đăng bài

Bí thư tỉnh ủy nhận bao nhiêu lương/ 1 tháng?

Thứ ba 22/05/2012

Trả lời nhanh là 12 triệu đồng/ 1 tháng.

Tính trong một năm số tiền mà cán bộ này có thể nhận được là 12.012.000 x 12 tháng = 144.144.000 đồng.

Và nếu với mức lương này được giữ nguyên trong vòng 1 nhiệm kỳ được bầu là 5 năm thì tổng số lương được nhận ở đây sẽ là 720.720.000 đồng và nếu tái cử tiếp thì con số này là gấp đôi.

Chi tiết đọc ở đây:

http://giaoduc.net.vn/Ban-doc/Bi-thu-tinh-uy-nhan-bao-nhieu-luong-1-thang/167191.gd

Các bạn vào google.com.vn, viết câu: Cán bộ đi trước, làng nước theo sau, và search sẽ thấy :

Bác Hồ dạy chúng ta “Cán bộ là người đày tớ trung thành của nhân dân”.  “ Khó trăm lần không dân cũng chịu, khó vạn lần dân liệu cũng xong”…

Không có một suy nghĩ ,phương châm ,hành động nào vượt lên được những lời căn dặn ân cần của Bác, đại ý là : Đảng viên ,cán bộ đi trước, làng nước đi sau…

Cán bộ phải nêu cao sự hy sinh những quyền lợi ích kỷ, nhỏ nhen của đời thường, gác lại những tư tưởng hẹp hòi, lạc hậu, xoá bỏ những ranh giới  làng , xã để tận tâm, tận lực với những con người đã ngưỡng mộ,tôn vinh mình làm bậc cha, bậc mẹ…”

Hai bài báo trên làm ta gợi nhớ đến lời nói của cố TT Nguyễn Văn Thiệu: Đừng nghe những gì cs nói, mà hãy nhìn kỹ những gì cs làm. Hơn 40 năm trôi qua lời nói của cố TT Nguyễn Văn Thiệu vẫn chính xác, và xem ra không ai có thể phủ nhận được điều này.

Chưa từng có đảng viên nào khai và tự khai họ đã tham nhũng. Bởi vậy Đừng tố giác tham nhũng. Gương của các nhà báo chống tham nhũng bị ngồi tù là rất nhiều. Bởi vậy, đảng kêu gọi chống tham nhũng thì cứ để đảng làm một mình.

Tiền đâu mà đảng tham nhũng?

Hóa ra, trong thời gian 1990-2010, các nước ngoại quốc đầu tư vào VN gần 200 tỷ đô la USD, chính xác là 192 tỷ 920 triệu đô la, theo chương trình FDI (Foreign Direct Investment)

FDI in Vietnam from 1990 – 2010

FDI Vietnam 1990-2010

http://www.vietpartners.com/images/Vietnam-FDI-H1-2010.jpg

(http://www.vietpartners.com/images/Vietnam-FDI-H1-2010.jpg)

Chỉ tính riêng năm 2010, FDI đầu tư vào Việt Nam là gần 8 tỷ đô la. Hòa Lan (Netherland) đầu tư vào VN nhiều nhất trong năm 2010. Bởi vậy, gần đây có vụ Hòa Lan tố cáo đảng viên tham nhũng, nhưng nay thì mọi việc êm xuôi. Vì họ không muốn mất quyền lợi ở VN. Vụ PMU làm rùm beng ở Nhật, nhưng Nhật không bao giờ đưa bằng chứng đảng viên nào nhận hối lộ, hối lộ bao nhiêu cho phía tòa án VN, vì Nhật là nước đứng hàng đầu trong việc đầu tư vào VN. Nhật mua hết dầu ngọt ở giếng dầu Bạch Hổ trong mấy chục năm qua.

*Ở Việt Nam, trong thời gian từ 1990-2010, các nước ngoại quốc đã đầu tư vào Việt Nam gần 200 tỷ đô la (chính xác là 192,8 tỷ đô la) Số giải ngân thật sự là chưa biết bao nhiêu.

*Bên Trung Quốc, trong thời gian từ 1980-2006, các nước ngoại quốc đã đầu tư vào TQ 622,4 tỷ đô la. (nguồn). 

*Đường dây tham nhũng ở Bộ Thương Mại 2004


Đăng trong Tham Nhung, Đảng CSVN-Hành vi của những đảng viên | Leave a Comment »

“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất qua hợp đồng ăn chia 10/90

Posted by hoangtran204 on Thứ Ba, Tháng Năm 22, 2012

Lời tựa: Khi bên có của, bên có công hợp tác làm ăn chung với nhau thường có hợp đồng rõ ràng. Hợp đồng kiểu  thường ăn chia theo kiểu  4/6 hoặc 3/7 hoặc 5/5. Nhưng đối với các mỏ khoáng sản, thường thì bên có của được 51%, bên có công khai thác là 49%.

Cụ thể khi Petrovietnam hợp tác với nước ngoài từ 1980s, tập đoàn này được hưởng 51%, còn các đối tác nước ngoài được 49%.

Bất cứ ai từng làm ăn đều phải biết qui luật ăn chia nói trên. Vậy tại sao có chuyện hợp đồng than giữa công ty quốc doanh VN và công ty Indonesia mà trong đó VN chỉ được hưởng 10%, còn Indonesia được hưởng 90%? 

Chuyện này ắt có khuất tất. Báo chí cần điều tra để làm sáng tỏ thêm một bước nữa: ai, người nào đã chỉ đạo việc ký hợp đồng? Tài sản của người nầy từ 1980s đến nay có thay đổi ra sao? Viện kiểm sát và tòa án VN có quyền nhờ chính phủ Indonesia coi tài chánh và thuế của công ty Indonesia, xem có khoản chi nào đáng bị nghi ngờ là money laudering (back salaries) không?

Hay đây là một kịch bản, trong đó hợp đồng này là một cách của các giới chức cao cấp trong đảng và nhà nước ăn chia với công ty Indonesia để chuyển tiền ra nước ngoài? Công ty Indonesia chia sẻ lợi nhuận theo % với một nhóm đảng viên cao cấp, và một phần của số tiền bán than  thu được đã và đang được gởi vào một tài khoản đứng tên ai đó, trong một ngân hàng nước ngoài nào đó ở Indonesia? 

Thời giá 1 triệu tấn than đá xuất khẩu là 91 triệu đô la (nguồn). Vậy Indonesia mỗi năm xuất khẩu được 800.000 tấn than thì được bao nhiêu tiền? 72,8 triệu đô la! Trong đó, Việt Nam được chia 10%, là 7,28 triệu đô la. 

” Quy định của hợp đồng hợp tác khống chế mỗi năm VMD chỉ được phép khai thác 500.000 tấn than thương phẩm, tương đương khoảng 750.000 tấn than nguyên khai. Trên thực tế, nhiều năm qua VMD luôn khai thác vượt con số nói trên. Đơn cử năm 2010, VMD đã khai thác khoảng 750.000 tấn than thương phẩm, năm 2011 là trên 800.000 tấn.”

Biết rõ ràng công ty Indonesia ngang nhiên chở quá 300.000 tấn than vào năm 2011, nhưng đảng và nhà nước đã làm lơ…lý do nào họ làm ngơ? Các bạn tự đoán ra.

Cần ghi lại ở đây: báo Hà Nội Mới là cơ quan ngôn luận của đảng bộ thành phố Hà Nội. Đừng nói là đảng không biết.

“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất

Báo Hà Nội Mới

21/05/2012 4:34

Một mỏ than lộ thiên với chất lượng than tốt nhất ở Việt Nam đang là “lãnh địa riêng” của một công ty Indonesia. Mỗi năm, công ty này hưởng 90% lợi nhuận trong khi phía Việt Nam chỉ được hưởng 10%.

Nghịch lý

Ngày 19.4.1991, Công ty than Uông Bí (TUB), đơn vị thành viên của Tập đoàn Than khoáng sản Việt Nam (Vinacomin) ký hợp đồng hợp tác kinh doanh với Công ty Pt.Vietmindo Energitama, 100% vốn Indonesia (VMD). Theo đó, VMD sẽ đầu tư toàn bộ máy móc, công nghệ để khai thác trong 30 năm mỏ than Uông Thượng, Đồng Vông. Lợi nhuận được chia theo tỷ lệ 90% cho VMD và 10% còn lại là của TUB. Đây là mỏ than lộ thiên có diện tích trên 1.000 ha, nằm trên địa bàn P.Vàng Danh, TP.Uông Bí và cũng là nơi có vỉa than tốt hạng nhất ở Quảng Ninh.

“Biếu không” nước ngoài mỏ than tốt nhất
Các bãi chứa than của Vietmindo – Ảnh: Thái Uyên

VMD chỉ việc khai thác trên mặt đất là đã dễ dàng thu được than cám 4, cám 5, là những loại than có chất lượng tốt nhất hiện nay. Trong khi đó, các doanh nghiệp (DN) thành viên Vinacomin như Công ty than Mạo Khê, than Núi Béo, thậm chí cả TUB phải đầu tư hàng ngàn tỉ đồng vào công nghệ khai thác hầm lò và dùng sức người đào sâu vào lòng đất cả trăm mét mới lấy lên được than.

Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, hợp đồng hợp tác và luận chứng kinh tế kỹ thuật quy định VMD chỉ được phép khai thác than nhằm mục đích duy nhất là xuất khẩu. Quy định của hợp đồng hợp tác khống chế mỗi năm VMD chỉ được phép khai thác 500.000 tấn than thương phẩm, tương đương khoảng 750.000 tấn than nguyên khai. Trên thực tế, nhiều năm qua VMD luôn khai thác vượt con số nói trên. Đơn cử năm 2010, VMD đã khai thác khoảng 750.000 tấn than thương phẩm, năm 2011 là trên 800.000 tấn.

 

Có thể Việt nam đang phải nhập khẩu than của chính mìnhTheo Vinacomin, ước tính vào năm 2014, 2015 Việt Nam sẽ nhập khẩu khoảng 1-6 triệu tấn than. Lượng than nhập khẩu sẽ tăng lên hằng năm. Dự kiến đến năm 2025, lượng than nhập khẩu lên tới 40 triệu tấn. Than nhập khẩu chủ yếu sẽ được cung cấp cho các nhà máy nhiệt điện. Giữa năm 2011, lần đầu tiên Việt Nam đã nhập khẩu thí điểm 9.500 tấn than từ chính Indonesia với giá 100,6 USD/tấn than (tính cả cước vận tải). Lãnh đạo Vinacomin khẳng định việc nhập khẩu là để thăm dò thị trường, làm quen với phương thức nhập khẩu, vận chuyển. Rất có thể, Việt Nam đang phải nhập khẩu than của chính mình. Vinacomin chọn Indonesia để “thí điểm” bởi đây là một trong những nguồn cung phù hợp nhất với Việt Nam hiện nay, cả về quãng đường vận chuyển, loại than lẫn giá thành. (Thái Uyên)
 

Cũng theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, toàn bộ các công đoạn sản xuất, khai thác và kinh doanh than được VMD thực hiện theo dây chuyền khép kín. Khai trường cũng như nơi sàng tuyển than của VMD luôn đặt trong tình trạng “nội bất xuất ngoại bất nhập”. VMD còn có cả một cảng riêng để xuất khẩu than mà muốn xuất hiện tại đây để kiểm tra hay thực hiện công tác về chuyên môn, các cơ quan chức năng Việt Nam cũng như đối tác TUB phải được sự cho phép của VMD (?!).

Còn chịu thiệt dài dài

Trao đổi với PV Thanh Niên, ông Phạm Văn Tứ, Phó tổng giám đốc TUB, thừa nhận tình trạng trên là có thật, nhưng “nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do lịch sử để lại” và “bản thân chúng tôi là những người đi sau, thừa kế”. Theo ông Tứ, bản hợp đồng liên doanh trên danh nghĩa là do TUB ký kết với VMD nhưng thực tế TUB không được quyết định mà do Bộ Công nghiệp thời đó trực tiếp phê duyệt.

“Có thể nói, VMD là DN nước ngoài đầu tiên và cũng là duy nhất hợp tác kinh doanh với ngành than cho đến nay. Trong quá trình hợp tác chúng tôi thấy rằng việc ký kết hợp đồng thời điểm đó chưa tính toán hết những vấn đề phát sinh hay nói đúng hơn là có nhiều kẽ hở khiến mình phải chịu thiệt thòi”, ông Tứ nói.

Theo tìm hiểu của PV Thanh Niên, hợp đồng ký kết giữa hai bên không hề có một điều khoản nào tạm dừng hoạt động của VMD kể cả trong trường hợp DN này vi phạm hợp đồng. Mặt khác, toàn bộ hoạt động khai thác, sản xuất kinh doanh đều ghi rõ VMD là người điều hành. TUB không được phép kiểm tra, thậm chí việc rót than xuống cảng đưa lên tàu nước ngoài cũng do VMD trực tiếp thực hiện và TUB không được phép can thiệp.

Đối với việc kiểm soát số lượng than do VMD sản xuất hằng năm, ông Phạm Văn Tứ cũng cho rằng chỉ được biết qua khâu hậu kiểm, bởi than từ mỏ lấy lên, sàng tuyển cho đến khâu vận chuyển ra cảng bán đều do VMD thực hiện, TUB không được phép kiểm tra trực tiếp. Mặc dù pháp luật Việt Nam bắt buộc việc khai thác khoáng sản hiện nay phải có giấy phép quy định về sản lượng theo hằng năm nhưng tại các mỏ của VMD, giấy phép khai khoáng không có hiệu lực, bởi hợp đồng liên doanh được ký trước thời điểm quy định về giấy phép khai thác khoáng sản.

Đánh giá về vai trò đối tác của TUB, ông Tứ cay đắng: “Chúng tôi chỉ biết đi vào đi ra và nghiên cứu khoa học mà thôi. Trước tình trạng này, chúng tôi đã nhiều lần đề nghị VMD đàm phán lại hợp đồng với các điều khoản công bằng hơn cho đối tác nhưng đến nay họ chưa đồng ý. Điều này cũng đồng nghĩa với những thiệt thòi của chúng ta sẽ tiếp tục kéo dài cho đến khi hết hạn hợp đồng (tức năm 2021 – PV)”.

Trong khi đó, theo nhiều thông tin PV Thanh Niên có được, trong quá trình khai thác, VMD đã nhiều lần có văn bản đề nghị các cơ quan chức năng cho phép nâng sản lượng khai thác; đồng thời xin gia hạn kéo dài hợp đồng hợp tác kinh doanh. Ông Phạm Văn Tứ cho biết thêm: “Than ở Uông Bí ngày càng cạn kiệt, chúng tôi cũng muốn giữ một phần tài nguyên để cho công ty mình khai thác nhưng bây giờ họ đang tiếp tục lập các dự án mới khai thác 1-2 triệu tấn. Việc này TUB không thể can thiệp được mà phải do các cơ quan khác cao hơn”.

 

Thất thoát, lãng phí rất lớnNhìn từ bên ngoài, khai trường mênh mông của VMD là một khu vực biệt lập được bảo vệ bởi hệ thống barie có gắn các thiết bị giám sát điện tử cực kỳ hiện đại. Thế nhưng, đi sâu vào bên trong là cảnh tượng hàng trăm người dân thường trực mót than rất lộn xộn, nguy hiểm. Tại khu vực chứa bãi thải của VMD rộng tương đương một sân bóng đá nằm trên một triền núi, mỗi khi một chiếc xe tải vừa nghiêng thùng đổ đất đá, xít (bã thải sau khi sàng tuyển than) xuống thì từng đoàn người xông vào tranh cướp mót than. Mỗi người cầm theo một bao tải dứa và cào sắt nhẫn nại nhặt từng cục than cho vào bao. Chị Lê, một người mót than cho biết: “Nếu chăm chỉ thì mỗi ngày cũng được vài ba tạ than, bán được cỡ dăm trăm ngàn đồng, hơn hẳn làm nông ở nhà”. 


Than tạp bị bóc tách rất lãng phí, người dân vào “mót” thoải mái – Ảnh: T.U

Thượng tá Nguyễn Quang Thành, Trưởng công an TX.Uông Bí, cho biết khai trường của VMD là khu vực cực kỳ phức tạp về tình hình an ninh trật tự. Tại đây luôn có khoảng 500 – 600 người dân túc trực mót than, không ít đối tượng lợi dụng vào việc này để ăn cắp than. Căn cứ theo các điều khoản hợp đồng ký với Công ty than Uông Bí, VMD đã thuê một số DN bên ngoài vào tham gia bóc tách lớp đất đá bên trên để họ lấy than phía bên dưới. Tuy nhiên, phía VMD lại không quản lý được mà để cho một số đơn vị này tự tung tự tác, múc cả đất đá lẫn than lên để ăn cắp, hoặc bật đèn xanh cho người dân vào lấy than còn họ thu tiền “tô”. Thượng tá Thành còn cho biết: “Theo hợp đồng, mỗi năm VMD chỉ được khai thác một số lượng than nhất định, do đó họ sẵn sàng bóc tách lớp than tạp để khai thác vỉa than đẹp nhất. Điều này gây lãng phí cực lớn về tài nguyên quốc gia, gây bất ổn về an ninh trật tự, an toàn lao động”.

Đáng lưu ý, vào tháng 5.2010, khi kiểm tra tại khu vực các DN khai thác, cơ quan công an đã phát hiện, thu giữ 19 khẩu súng các loại, 6 áo giáp chống đạn, 109 viên đạn cùng nhiều dao kiếm. Đầu năm 2011, lực lượng chức năng qua kiểm tra tiếp tục phát hiện, thu giữ được 7 khẩu súng, 30 viên đạn, cùng nhiều dao kiếm các loại.

Thái Sơn – Káp Long

http://www.baomoi.com/Home/ThiTruong/www.thanhnien.com.vn/Bieu-khong-nuoc-ngoai-mo-than-tot-nhat/8508513.epi

Báo Hà Nội Mới là tiếng nói của đảng bộ Hà Nội. Các viên chức cao cấp và trung cấp của đảng và nhà nước đọc báo này hàng ngày. 

Đăng trong Bán Tài Nguyên Khoa'ng Sản- Cho Nước Ngoài Thuê Đất 50 năm | Leave a Comment »

Khi nhà nước và đảng trả Thù…

Posted by hoangtran204 on Thứ Ba, Tháng Năm 22, 2012

Nếu bạn bị xếp hạng “phản động”

Người Buôn Gió

Đây là câu chuyện được viết bằng ngôn ngữ Việt Nam, hình ảnh chỉ có tính chất minh hoạ. Không nhất thiết bạn đọc đủ cơ sở để đánh giá rằng nó xảy ra ở nước CHXHCNVN.

Nếu bạn bị liệt vào hạng phản động của nhà cầm quyền thì cuộc đời của bạn sẽ ra sao?

Trước hết tiêu chí để xếp loại phản động là vô cùng phong phú. Ví dụ bạn chỉ trích một chính sách nào đó của nhà cầm quyền về giao thông, thuế, giáo dục….

Hay bạn phản đối nước láng giềng xâm lược, bắn giết đồng bào của bạn.

Hoặc bạn bày tỏ sự thông cảm với những người “phản động” khác bị xét xử, tù đày.

Như thế bạn sẽ là phản động với một cụm từ đầy ngôn ngữ luật như “xâm hại an ninh quốc gia”.

Tuy nhiên nếu bạn nợ hàng nghìn người nông dân hàng chục nghìn tỉ và trốn biệt ra nước ngoài bạn chỉ cùng lắm mang tội với nông dân như tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản công dân”.

Nếu bạn làm thiệt hại cho ngân sách hàng chục nghìn tỷ đồng, ngân sách của một đất nước khốn khổ mà học sinh đến trường bằng cách bơi qua sông, đu dây qua vách đá thì bạn chỉ bị kết tội “thiếu tinh thần trách nhiệm”.

Còn chức bạn to hơn nữa, gây thiệt hại hơn nữa thì sẽ bị kiểm điểm nội bộ.

Nếu bạn đánh chết người bằng dùi cui, dây điện, gậy, giầy đinh, bắn chết trẻ em bằng súng nhưng bạn là người nhà nước. Bạn nếu không may mắn sẽ bị kết tội là “làm chết người khi thi công vụ”.

Làm chết người, nghĩa là không phải bạn giết người. Làm chết người có thể là bạn sơ ý, cẩu thả để súng cướp cò, dui cui rơi vào sọ người khác khiến họ chết.

Nhưng nếu bạn phản đối một chính sách, bạn sẽ là kẻ trọng tội với đất nước, nhân dân. Bạn sẽ bị kết vào loại phản động, hại dân, hại nước. Sẽ có hàng loạt nhân dân đóng vai nhân chứng lên phản đối bạn ầm ĩ ở phường, ở trên báo chí, họ sẽ (khóc lóc) thảm thiết, giận giữ như chính bạn đã quỵt tiền họ trốn ra nước ngoài, giết chết người thân của họ, làm thất thoát ngân sách hàng ngìn tỉ đồng, và bạn chính là kẻ đã đẩy trẻ em phải đi học bằng đò qua sông dẫn đến chết đuối. Họ sẽ đòi hỏi phải nghiêm trị, trừng trị thích đáng…và họ hả hê khi thấy bạn bị kết án nhiều năm tù.

Và bạn là loại tội phạm “xâm hại an ninh quốc gia”.

Bạn có thể là trí thức, công nhân, cán bộ về hưu, cựu chiến binh.

Đôi khi bạn là kẻ vô học, tiền án, tiền sự và cuộc đời đầy những năm tháng đen tối trong vũng bùn của giới hạ lưu. Một ngày nào đó bạn được làm bố, bạn say sưa với sinh linh bé bỏng ấy quên cả tháng ngày, bỗng nhiên ngày nào đó gió mưa bạn ngồi ở nhà ngắm thấy nụ cười trên miệng con trai vừa đầy tháng, bởi óc tưởng tượng phong phú bạn hình dung con trai bạn hai mươi năm sau sẽ sống trong một xã hội thế nào. Bạn bắt đầu tìm hiểu xã hội.

Và con đường thành phản động của bạn bắt đầu được cơ quan an ninh ghi nhận, theo dõi và đưa ra cách xử lý.

Ngày nào đó công ty bạn đang làm bị công an đến hỏi về thuế, về nhân lực, về bảo hiểm, tiền lương, phòng cháy chữa cháy, về đăng ky kinh doanh…giám đốc của bạn nơm nớp lo sợ không biết chuyện gì. Vì người ta cứ đến từng tốp và lạnh lùng sát khí gườm gườm chất vấn. Đến lúc giám đốc bạn hoảng lắm rồi, người ta mới hỏi về bạn làm gì ở công ty, bạn được nhận vào thế nào, ngày nọ ngày kia bạn làm gì, công ty có bố trí đi đâu ….

Bạn sẽ làm tiếp để công ty hàng ngày có công an đến làm việc như thế chứ?

Tất nhiên là không rồi. Bạn sẽ đi tìm việc khác.

Lần này bạn làm cho một nơi khác, ở đây tài chính sạch sẽ lắm. Nhưng giám đốc bạn vẫn có người tìm đến giới thiệu là an ninh cấp cao hỏi về bạn. Giám đốc bạn lần này là người mạnh mẽ, anh ta có thể thoái thác không hợp tác trả lời. Nhưng anh ta có thể mạnh mẽ, còn bố mẹ anh ta ở quê thì không sao mà yên tâm khi có người của nhà chức trách đến nhà tìm và thông báo con họ đang dung túng, tiếp tay cho một đối tượng “phản động”. Rồi bố mẹ anh ta hoang mang, lo lắng liên tục hỏi anh ta, thậm chí họ thay phiên nhau từ quê lên thành phố để xem thằng phản động đang làm gì ảnh hưởng đến con mình.

Bạn lại thất nghiệp, giờ bạn hiểu đi tìm công việc ở nơi khác nữa là điều vô ích.

Bạn chọn công việc gì làm trong vài ngày, nhanh chóng, tiền trao cháo múc như việc đóng một cái tủ nhôm kính, hàn một cái chuồng cọp phơi quần áo, làm một tấm biển quảng cáo cho cửa hiệu mới mở hoặc viết một bài cho một cá nhân, công ty nào đó muốn quảng cáo. Kiếm chút tiền không nhiều, nhưng nhanh chóng vào túi khi những điều khác chưa đến.

Nhưng cuộc đời không hẳn đã đen tối với bạn. Có những người hiểu bạn, họ lặng lẽ gửi bạn chút quà nuôi con. Những giúp đỡ đó làm bạn cầm cự được với cuộc sống khó khăn. Đôi khi bạn chẳng biết là ai giúp bạn nữa, vì họ sợ liên luỵ, sợ nhà chức trách nên không muốn ra mặt.

Các nhà chức trách thêm bạn tội nữa “nhận tiền của các thế lực thù địch làm phương tiện hoạt động chống phá nhà nước nhân dân”.

Những món tiền nhỏ này thật sự bạn không bao giờ biết nó đến với bạn lúc nào, không bao giờ bạn biết nó còn đến nữa hay không. Bởi sự giúp đỡ là tự nguyện, bột phát. Không phải là trả lương, thế nên có người gửi bạn 1 triệu từ năm này, đến 3 năm sau họ gửi lần nữa, tuỳ theo khả năng của họ.

Nếu bạn muốn sắm một cái điều hoà, bạn không thể yêu cầu người ta cho bạn tiền để sắm một cái điều hoà. Vì họ không có trách nhiệm ràng buộc nào phải giúp bạn cả.

Một ngày nào đó, cuộc sống mở cho bạn một thay đổi, chẳng hạn một chính phủ nào đó vô tình biết được bạn có khả năng về văn hoá, nghệ thuật nào đó. Họ cho bạn một suất học bổng, khi học xong họ sẽ có việc làm cho bạn. Cuộc đời bạn bỗng nhiên tươi tắn như loài cây trên sa mạc gặp mưa. Bạn có kiến thức, có việc làm, một việc làm tốt như dịch sách, đồng lương đủ cho gia đình bạn sống tươm tất. Và hơn nữa bạn từ một thằng lưu manh ở đường phố trở thành một người làm văn hoá. Đó là ước mơ và đích đến là một cuộc mưu cầu hạnh phúc mà bất kỳ ai cũng muốn.

Nhưng nhà chức trách sẽ ngăn ước mơ của bạn lại. Bởi trong quan điểm của họ thì ước mơ của một kẻ có vấn đề về an ninh quốc gia thì kiểu gì cũng có vấn đề về an ninh quốc gia.

Bạn sẽ gào lên ư, đừng! Hãy chấp nhận vui vẻ, điều quan trọng là đừng bao giờ buồn, lo, sợ vì những việc mà họ gây ra cho bạn. Bởi mục đích chính của họ là làm bạn đau khổ  những thứ như nhà tù, công việc, cấm đi lại, hàng xóm hậm hực dòm ngó, bạn bè cũ xa lánh…tất cả những điều đó họ làm cốt để bạn phải đau khổ. Để họ chứng minh họ có quyền tước đoạt ước mơ, cuộc sống, huỷ hoại hay ban phát cho ai đó.

Đừng nghĩ họ nhân đạo không bỏ tù bạn. Chẳng qua vì cuộc sống của bạn bây giờ và nhà tù không khác nhau là mấy về vật chất cũng như tinh thần. Nếu bạn là tiến sĩ, có nhà to, xe hơi, nhà cho thuê họ sẵn sàng quẳng những thứ rác rưởi để làm cớ bắt bạn, hay bạn đang có bệnh trong người họ mới giam cầm bạn. Còn khi bạn chả còn gì để mất, người ta làm mọi cách để tước đoạt tinh thần bạn, khiến bạn khiếp sợ, hãi hùng và ngày nào đó bạn lê lết đến van xin họ, cam đoan, cam kết, lạy lục thề thốt, khai báo lập công…lúc đó chưa chắc họ đã buông tha cho bạn.

Hãy gắng tìm những niềm vui ngay cả trong những lúc tồi tệ nhất. Hãy gắng đọc khi có thể những tác phẩm như Quần Đảo Ngục Tù, Lửa Yêu Thương Lửa Ngục Tù, Một Ngày Trong Đời Của I Van, Bá Tước Mông Tơ Crit To, Pa Pi Lon, Đêm Giữa Ban Ngày, Chuyện Kể Năm 2000.

Hãy tìm lối thoát trong cuộc sống trắc trở ở ngay trái tim mình.

nbg1.jpg
nbg2.jpg
nbg3.jpg
ngb4.jpg

nbg5.jpg

Đăng trong Uncategorized | Leave a Comment »

 
Follow

Get every new post delivered to your Inbox.