Bạn đọc yêu quý,
Như thông lệ của Bauxite Việt Nam, lẽ ra bản Kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay phải được gửi trước đến nhiều trí thức và đồng bào trong ngoài nước để thu thập chữ ký đến một số lượng nhất định rồi mới đăng lên. Nhưng vì mong muốn ra mắt kịp trong những ngày Quốc hội Việt Nam khoá XIII họp phiên đầu tiên, Nhóm soạn thảo quyết định cứ cho công bố sớm (ngày 14-7-2011) với 20 chữ ký mở đầu, sau đó sẽ xin tiếp tục trưng cầu ý kiến rộng rãi tất cả mọi người Việt quan tâm tới tình hình đất nước.
Nhóm soạn thảo lại có nhã ý mượn trang BVN làm nơi thâu nhận chữ ký của quý vị, vì thế, chúng tôi đã chuẩn bị sẵn hòm thư dành riêng cho việc này. Những ai tán thành và tự nguyện ghi danh vào văn bản Kiến nghị đăng dưới đây xin vui lòng gửi về địa chỉ: kiennghi1007@gmail.com, sẽ có người chuyên trách thâu nhận và lên danh sách. Kính mong quý vị ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, địa chỉ cư trú, địa chỉ e-mail và nếu có thể cả số điện thoại, để khi cần Nhóm soạn thảo có thể liên lạc. Cũng rất mong quý vị cố gắng ghi đủ dấu thanh tiếng Việt ở những phần tiếng Việt, giúp cho việc lên danh sách đỡ tình trạng nhầm lẫn.
Xin trân trọng chuyển lời cảm ơn chân thành của Nhóm soạn thảo đến toàn thể bạn đọc và bà con xa gần.
Bauxite Việt Nam

KIẾN NGHỊ
VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚC
TRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY
Kính gửi: Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam
và Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Chúng tôi, ký tên dưới đây, xin trân trọng gửi đến quý vị bản kiến nghị của chúng tôi trước tình hình hiện nay của Tổ quốc.
I- Độc lập, tự chủ và toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị uy hiếp, xâm phạm nghiêm trọng
1. Từ khát vọng trở thành siêu cường, với vai trò là “công xưởng thế giới” và chủ nợ lớn nhất của thế giới, dưới chiêu bài “trỗi dậy hòa bình”, Trung Quốc đang ra sức phát huy quyền lực dưới mọi hình thức, nhằm thâm nhập và lũng đoạn nhiều quốc gia trên khắp các châu lục. Một số nhà nghiên cứu trên thế giới cho rằng đến nay Trung Quốc đã vượt tất cả những gì chủ nghĩa thực dân mới làm được sau Chiến tranh thế giới II.
Thời gian gần đây, Trung Quốc đã có những bước leo thang nghiêm trọng trong việc thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông với nhiều hành động bất chấp luật pháp quốc tế, ngang nhiên xâm phạm chủ quyền quốc gia và toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải của các quốc gia giáp Biển Đông. Trung Quốc tự ý vạch ra cái gọi là “đường chữ U 9 đoạn”, thường được gọi là “đường lưỡi bò”, chiếm hơn 80% diện tích Biển Đông, nhiều lần tuyên bố trước thế giới toàn bộ vùng “lưỡi bò” này thuộc chủ quyền không thể tranh cãi của Trung Quốc và đã liên tục tiến hành nhiều hoạt động bất hợp pháp trên Biển Đông để khẳng định yêu sách trái luật quốc tế này.
Hiện nay Trung Quốc đang ráo riết tăng cường lực lượng hải quân, chuẩn bị giàn khoan lớn, tiến hành nhiều hoạt động quân sự hoặc phi quân sự ngày càng sâu vào vùng biển các quốc gia trong vùng này, gắn liền với những hoạt động chia rẽ các nước ASEAN trong quan hệ với Trung Quốc.
2. Trên vùng Biển Đông thuộc lãnh hải và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, năm 1974 Trung Quốc đã tấn công chiếm nốt các đảo ở Hoàng Sa, năm 1988 đánh chiếm thêm 7 đảo và bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa của ta; từ đó đến nay thường xuyên tiến hành các hoạt động uy hiếp và xâm phạm vùng biển thuộc chủ quyền của nước ta, như tự ý ra lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, xua đuổi, bắt giữ, cướp tài sản của các tàu đánh cá trên vùng này, gây sức ép để ngăn chặn hoặc đòi hủy bỏ các hợp đồng mà các tập đoàn kinh doanh dầu khí của nước ngoài đang hợp tác với Việt Nam, liên tục cho các tàu chiến hải giám đi tuần tra như đi trên biển riêng của nước mình. Gần đây nhất, tàu Trung Quốc cắt cáp quang và thực hiện nhiều hành động phá hoại khác đối với tàu Bình Minh 02 và tàu Viking II của ta đang hoạt động trong vùng thuộc đặc quyền kinh tế của Việt Nam; đó là những bước leo thang nghiêm trọng trong các chuỗi hoạt động uy hiếp, lấn chiếm vùng biển của nước ta.
Vị trí địa lý tự nhiên, vị thế địa chính trị và địa kinh tế trong bối cảnh quốc tế hiện nay khiến cho Việt Nam bị Trung Quốc coi là chướng ngại vật trên con đường tiến ra biển phía Nam để vươn lên thành siêu cường. Bằng mọi phương tiện và nhiều thủ đoạn từ tinh vi đến trắng trợn, Trung Quốc tìm mọi cách dụ dỗ, thâm nhập, lũng đoạn, uy hiếp, can thiệp nội bộ, lấn chiếm, và đã từng dùng hành động quân sự – tất cả đều trong mưu đồ lâu dài nhằm khiến cho Việt Nam suy yếu, chịu khuất phục hay lệ thuộc vào Trung Quốc.
Về phía ta, mặc dù đã có nhiều cố gắng và nhân nhượng để bình thường hóa và phát triển quan hệ hợp tác giữa hai nước, song cho đến nay cục diện cơ bản diễn ra trong quan hệ hai nước là: Việt Nam càng nhân nhượng, Trung Quốc càng lấn tới.
3. Xem xét cục diện quan hệ hai nước, phải nhìn nhận thẳng thắn rằng Trung Quốc đã đi được những bước quan trọng trong việc thực hiện ý đồ chiến lược của họ.
Dưới đây xin điểm những nét chính:
– Về kinh tế, nhập siêu của ta từ Trung Quốc mấy năm qua tăng rất nhanh (năm 2010 gấp 2,8 lần năm 2006) và từ năm 2009 xấp xỉ bằng kim ngạch xuất siêu của nước ta với toàn thế giới. Hiện nay, nước ta phải nhập khẩu từ Trung Quốc khoảng 80-90% nguyên vật liệu cho công nghiệp gia công của ta, một khối lượng khá lớn xăng dầu, điện, nguyên liệu và thiết bị cho những ngành kinh tế khác; khoảng 1/5 kim ngạch nhập khẩu từ Trung Quốc là hàng tiêu dùng, chưa kể một khối lượng tương đương như thế vào nước ta theo đường nhập lậu. Đặc biệt nghiêm trọng là trong những năm gần đây, 90% các công trình kinh tế quan trọng như các nhà máy điện, luyện kim, hóa chất, khai thác bô-xít, khai thác ti-tan… được xây dựng theo kiểu chìa khóa trao tay (EPC) rơi vào tay các nhà thầu Trung Quốc với nhiều hệ quả khôn lường. Trong khi đó Trung Quốc nhập khẩu từ nước ta chủ yếu dưới dạng vơ vét nguyên liệu, nông sản và khoáng sản, với nhiều hệ quả tàn phá môi trường. Ngoài ra còn nạn cho Trung Quốc thuê đất, thuê rừng ở vùng giáp biên giới, nạn tiền giả từ Trung Quốc tung vào. Sự yếu kém của nền kinh tế trong nước chính là mảnh đất màu mỡ cho sự xâm nhập, thậm chí có mặt chi phối, lũng đoạn về kinh tế của Trung Quốc. Chưa nói tới hệ quả khôn lường của việc Trung Quốc xây nhiều đập trên thượng nguồn hai con sông lớn chảy qua nước ta. Cũng không thể xem thường sự xâm nhập của Trung Quốc vào các nước xung quanh ta. Nếu Trung Quốc thực hiện được mưu đồ độc chiếm Biển Đông, Việt Nam coi như bị bịt đường đi ra thế giới bên ngoài.
– Về chính trị, những hiện tượng thâm nhập của Trung Quốc về kinh tế kéo dài nhiều năm, có nhiều sự việc nghiêm trọng và còn đang tiếp diễn, đặt ra câu hỏi: Phía Trung Quốc đã làm gì, bàn tay của quyền lực mềm của họ đã thọc sâu đến đâu? Nạn tham nhũng tràn lan và nhiều tha hóa khác ở nước ta hiện nay có sự tham gia như thế nào của bàn tay Trung Quốc?
Lãnh đạo nước ta đã quá dè dặt, không công khai minh bạch thực trạng nghiêm trọng trong quan hệ Việt – Trung để nhân dân ta biết và có thái độ ứng phó cần thiết. Thực trạng hiện nay làm cho dân bất bình, khó hiểu lãnh đạo nước mình trong quan hệ với Trung Quốc; về phía Đảng và Nhà nước thì lúng túng, không dựa vào sức mạnh của dân; còn bè bạn quốc tế thì lo lắng, thậm chí ngại ngùng ủng hộ chính nghĩa của Việt Nam.
– Về quan hệ đối ngoại Việt – Trung, cách ứng xử của phía ta gần đây nhất được thể hiện trong Thông tin báo chí chung (TTBCC) Việt Nam và Trung Quốc về cuộc gặp giữa hai Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam và Trung Quốc do Bộ Ngoại giao ta công bố ngày 26-06-2011. Thông tin này có những nội dung mập mờ, khó hiểu, gây ra nhiều điều băn khoăn, lo lắng cho dư luận trong nước và thế giới; ví dụ:
ü TTBCC hoàn toàn bỏ qua không nói gì tới những hành động gây hấn của Trung Quốc, xâm phạm chủ quyền của nước ta trên Biển Đông, lại nêu “Hai bên cho rằng, quan hệ Việt – Trung phát triển lành mạnh, ổn định, đáp ứng nguyện vọng chung và lợi ích căn bản của nhân dân hai nước Việt – Trung, có lợi cho hòa bình, ổn định và phát triển của khu vực”. Nếu câu này là nhận định thực trạng quan hệ hai nước hiện nay thì nguy hiểm và không đúng với sự thực đang diễn ra ngược lại. Phương châm “16 chữ” và tinh thần “bốn tốt” do chính lãnh đạo Trung Quốc đề ra; vì vậy ta đòi lãnh đạo Trung Quốc thực hiện đúng, chứ không thể xuê xoa bằng câu “hai bên nhấn mạnh cần kiên trì đưa quan hệ đối tác theo đúng phương châm 16 chữ và tinh thần bốn tốt”
ü TTBCC viết: “Hai bên khẳng định, cần tích cực thực hiện nhận thức chung của lãnh đạo hai nước, giải quyết hòa bình các bất đồng trên biển giữa hai nước thông qua đàm phán và hiệp thương hữu nghị”. Nội dung của “nhận thức chung” này giữa lãnh đạo hai nước là gì, phía ta chưa nói rõ mà chỉ có những giải thích một chiều của phía Trung Quốc theo cách có lợi cho Trung Quốc, như người phát ngôn Bộ Ngoại giao Trung Quốc ngày 29-06-2011 nhấn mạnh “phía Việt Nam cần thực hiện thỏa thuận chung của lãnh đạo hai nước về giải quyết những vấn đề Biển Đông” và nói rằng “Cả hai nước chống lại sự can thiệp của các lực lượng bên ngoài vào các vấn đề Biển Đông”. Trung Quốc liên tục có những phát ngôn từ chính khách và báo chí, coi nguyên nhân những căng thẳng mới trên Biển Đông hiện nay là do ta và các nước trong khu vực khiêu khích. Trong những phát ngôn đó, không ít ý kiến cho rằng về cơ bản đã chuẩn bị xong dư luận trong nhân dân Trung Quốc cho việc đánh Việt Nam và giành lại chuỗi ngọc “liên châu” (chỉ quần đảo Trường Sa)… Cách viết mập mờ, khó hiểu của TTBCC rất bất lợi và nguy hiểm cho nước ta, kể cả trên phương diện quan hệ quốc tế có liên quan đến những nước thứ ba.
ü TTBCC nêu “(Hai bên…) tăng cường định hướng đúng đắn dư luận, tránh lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước…”. Phía Trung Quốc dựa vào điều này để gây thêm sức ép kiềm chế dư luận nước ta trong khi báo chí Trung Quốc vẫn tiếp tục đăng những bài vu cáo, miệt thị nhân dân ta. Trước các hành vi trái luật pháp quốc tế do phía Trung Quốc gây ra trên Biển Đông, cần khẳng định việc dư luận nhân dân ta vạch ra và có những hoạt động biểu thị thái độ lên án các hành động đó, làm hậu thuẫn cho các hoạt động chính trị, ngoại giao của Nhà nước ta, không thể coi là những “lời nói và hành động làm tổn hại đến tình hữu nghị và lòng tin của nhân dân hai nước…” Nhân dân ta có truyền thống lịch sử và bản lĩnh kiên cường, thời nào cũng không tiếc sức mình chủ động tìm mọi cách xây dựng, gìn giữ, bảo vệ mối quan hệ hữu nghị với nước láng giềng này; cho đến nay không bao giờ tự mình gây hấn với Trung Quốc, mà chỉ có đứng lên chống Trung Quốc khi Tổ quốc bị xâm lược.
II- Trong khi đó tình hình đất nước lại có nhiều khó khăn và mối nguy lớn
1. Nền kinh tế nước ta đang ở trong tình trạng phát triển kém chất lượng, kém hiệu quả, và lâm vào khủng hoảng kéo dài.
Tất cả những cố gắng từ vài năm nay là tập trung “chữa cháy”, cố cứu vãn nền kinh tế ra khỏi khó khăn trước mắt, trước hết là chống lạm phát. Từ 2007 đến nay (trừ năm 2009) lạm phát liên tục ở mức 2 con số; dự báo năm 2011 vẫn là hai con số ở mức cao. Nguồn lực huy động được trong nước và từ bên ngoài cho nền kinh tế nước ta trong mấy năm qua cao chưa từng có, song hiệu quả kinh tế lại thấp kém với chỉ số ICOR (tỷ lệ nghịch với hiệu quả đầu tư) tăng nhanh, lên mức cao nhất từ trước đến nay và cũng là cao nhất trong khu vực. Nhập siêu đang ở mức cao. Thâm hụt ngân sách vượt quá ngưỡng báo động (5% GDP theo kinh nghiệm thế giới). Nền kinh tế vẫn trong tình trạng cơ cấu lạc hậu, hiệu quả kinh tế và sức cạnh tranh đều thấp, tăng trưởng chủ yếu nhờ vào vốn đầu tư, lao động trình độ thấp và khai thác đất đai, tài nguyên đến cạn kiệt. Môi trường tự nhiên bị tàn phá nghiêm trọng. Khoảng cách giàu nghèo bị nới rộng, phân phối thu nhập ngày càng trở nên bất công. Các vấn đề kinh tế lớn như: sự tích tụ / phân bổ của cải; tình hình chiếm hữu và sử dụng đất đai; trạng thái thực thi pháp luật; sự hình thành các nhóm đặc quyền, đặc lợi và các nhóm quyền lực mới, sự xuất hiện các giai tầng mới đi liền với những bất công mới…, đang diễn biến ngược lại với mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Kết quả cuối cùng là thu nhập danh nghĩa bình quân đầu người có tăng lên nhưng chất lượng cuộc sống xuống cấp trên nhiều mặt; sự bất an của người dân tăng lên; mức sống thực tế của phần lớn nông dân, của số đông công nhân và những người làm công ăn lương hiện nay giảm sút nhiều so với mấy năm trước.
2. Thực trạng văn hóa – xã hội của đất nước có quá nhiều mặt xuống cấp, cái mới và tiến bộ không đi kịp yêu cầu phát triển của đất nước và không đủ sức lấn át những cái hủ bại và tiêu cực; công bằng xã hội bị vi phạm nghiêm trọng, nguồn lực quý báu nhất của đất nước là con người chưa thực sự được giải phóng.
Trong nhiều vấn đề bức xúc, phải nói tới vấn đề hàng đầu là nền giáo dục của nước ta cho đến nay có nhiều mặt lạc hậu so với phần đông các nước trong khu vực, mặc dù nước ta thuộc số nước có tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục so với thu nhập (của cả nhà nước và nhân dân) ở mức cao nhất khu vực. Nội dung, cách dạy và học, cách quản lý trong nền giáo dục của nước ta quá lạc hậu, thậm chí có nhiều sai trái. Nguồn nhân lực nước ta có trình độ giáo dục phổ cập ở mức khá cao, tỷ lệ bằng cấp các loại trên số dân và số người lao động đều ở mức cao hay rất cao so với nhiều nước có mức thu nhập tương đương. Song trên thực tế chất lượng nguồn lực con người và năng suất lao động của nước ta vẫn thua kém nhiều nước, thấp xa so với yêu cầu đưa đất nước đi lên phát triển hiện đại. Nguyên nhân cơ bản là nền giáo dục trong môi trường chính trị – xã hội hiện nay của nước ta không nhằm đào tạo ra con người tự do và sáng tạo, con người làm chủ đất nước, mà là một nền giáo dục phát triển chạy theo thành tích và số lượng.
Trong đời sống văn hóa – tinh thần của đất nước, nhân dân thấy rõ và lên án hiện tượng giả dối và tình trạng tha hóa trong lối sống và trong đạo đức xã hội. Những cái xấu này, cùng với nạn tham nhũng tạo ra những bất công mới, đồng thời làm băng hoại nhiều giá trị truyền thống của dân tộc ta. Tình trạng thiếu vắng sự công khai minh bạch trong mọi mặt của đời sống xã hội đang làm cho mảnh đất nuôi dưỡng tham nhũng và tiêu cực ngày càng màu mỡ. Thực tế này cản trở nghiêm trọng việc xây dựng một xã hội lành mạnh, văn minh, đồng thời tạo ra một môi trường xói mòn luật pháp, rất thuận lợi cho việc dung dưỡng những yếu kém của chế độ chính trị.
3. Chế độ chính trị còn nhiều bất cập, cản trở sự phát triển của đất nước.
Thực trạng kinh tế – văn hóa – xã hội hiện nay của đất nước phản ánh rõ nét sự bất cập và xuống cấp ngày càng gia tăng của hệ thống chính trị – xã hội và bộ máy nhà nước ta. Nền kinh tế nước ta đứng trước yêu cầu bức thiết phải chuyển đổi cơ cấu và mô hình phát triển (chuyển từ phát triển chủ yếu theo chiều rộng sang phát triển dựa nhiều vào các yếu tố chiều sâu) để đi vào thời kỳ phát triển bền vững với chất lượng cao hơn. Giai đoạn mới hiện nay đòi hỏi phải cải cách hệ thống chính trị để xóa bỏ mọi trở ngại, phát huy và sử dụng tốt mọi nguồn lực nhằm đổi mới và phát triển nền kinh tế. Nhiệm vụ đổi mới chính trị tuy đã được đặt ra nhưng chưa có mục tiêu, biện pháp và hành động thiết thực.
Đặc biệt nghiêm trọng là tệ quan liêu tham nhũng, tình trạng tha hóa phẩm chất, đạo đức đang tiếp tục gia tăng trong bộ máy và đội ngũ cán bộ công chức và viên chức của hệ thống chính trị và nhà nước. Bộ máy này ngày càng phình to, tình trạng bất cập và nạn tham nhũng nặng nề hơn, gây tổn thất ngày càng lớn hơn cho đất nước. Thực trạng này cùng với những sai lầm trong cơ cấu tổ chức và trong cơ cấu đội ngũ cán bộ khiến cho các nỗ lực đổi mới hệ thống chính trị không đem lại kết quả thực tế, mặc dù tốn kém nhiều tiền của, công sức. Trong những việc đã làm có quá nhiều cái phô diễn, mang tính hình thức, giả dối. Trong đời sống thực tế, nhiều quyền dân chủ của dân tiếp tục bị vi phạm nghiêm trọng. Việc ứng cử, bầu cử các cơ quan quyền lực chưa bảo đảm dân chủ thực chất. Nhiều quyền công dân đã được Hiến pháp quy định nhưng vẫn chưa trở thành hiện thực trong cuộc sống, đặc biệt là quyền tự do ngôn luận, quyền được thông tin, quyền lập hội, quyền biểu tình…
Có thể đánh giá tổng quát rằng đất nước ta đang đứng trước mâu thuẫn giữa một bên là khát vọng của dân tộc ta muốn sống trong một quốc gia “hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh”, cùng đi với trào lưu tiến bộ của cả nhân loại, và một bên là sự tha hóa và bất cập ngày càng trầm trọng của hệ thống chính trị. Mâu thuẫn nguy hiểm này đang ngày càng trở nên gay gắt do sự uy hiếp của Trung Quốc đối với nước ta và kích thích thêm khát vọng bành trướng của Trung Quốc.
Vị trí địa lý nước ta không thể chuyển dịch đi nơi khác, nên toàn bộ thực tế hiện nay buộc dân tộc ta phải tạo được bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh của đất nước: Là nước láng giềng bên cạnh Trung Quốc đầy tham vọng đang trên đường trở thành siêu cường, Việt Nam phải bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền quốc gia, trở thành một đối tác được Trung Quốc tôn trọng, tạo ra một mối quan hệ song phương thật sự vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Mặt trận gìn giữ lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, biển đảo, vùng trời của nước ta trong Biển Đông đang rất nóng do các bước leo thang lấn chiếm ngày càng nghiêm trọng của Trung Quốc, thậm chí những cuộc tấn công quân sự trực tiếp đang được để ngỏ. Tuy nhiên, mặt trận nguy hiểm nhất đối với nước ta mà Trung Quốc muốn dồn quyền lực và ảnh hưởng để thực hiện, đó là: thâm nhập, lũng đoạn mọi mặt đời sống kinh tế, chính trị, văn hóa của nước ta. Đó là mặt trận vừa uy hiếp vừa dụ dỗ nước ta nhân danh cùng nhau gìn giữ ý thức hệ xã hội chủ nghĩa, gây chia rẽ giữa nhân dân ta và chế độ chính trị của đất nước, vừa lũng đoạn nội bộ lãnh đạo nước ta, làm suy yếu khối đoàn kết thống nhất của dân tộc ta, làm giảm sút khả năng gìn giữ an ninh và quốc phòng của nước ta. Đánh thắng nước ta trên mặt trận nguy hiểm nhất này, Trung Quốc sẽ đánh thắng tất cả!
Sự xuất hiện một Trung Quốc đang cố trở thành siêu cường với nhiều mưu đồ và hành động trái luật pháp quốc tế, bất chấp đạo lý, gây nhiều tác động xáo trộn thế giới, tạo ra một cục diện mới đối với nước ta trong quan hệ quốc tế: Hầu hết mọi quốc gia trên thế giới, có lẽ ngoại trừ Trung Quốc, đều mong muốn có một Việt Nam độc lập tự chủ, giàu mạnh, phát triển, có khả năng góp phần xứng đáng vào gìn giữ hòa bình và ổn định trong khu vực, thúc đẩy những mối quan hệ hữu nghị, hợp tác vì sự bình yên và phồn vinh của tất các các nước hữu quan trong khu vực và trên thế giới. Có thể nói cục diện thế giới mới này là cơ hội lớn, mở ra cho đất nước ta khả năng chưa từng có trong công cuộc phát triển và bảo vệ Tổ quốc, qua đó giành được cho nước ta vị thế quốc tế xứng đáng trong thế giới văn minh ngày nay. Để vươn lên giành thời cơ, thoát hiểm họa, cả dân tộc ta, từ người lãnh đạo, cầm quyền đến người dân thường phải dấn thân cùng với cả nhân loại tiến bộ đấu tranh cho những giá trị đang là nền tảng cho một thế giới tiến bộ, đó là hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường
III- Kiến nghị của chúng tôi
Trước tình hình đó, chúng tôi khẩn thiết kiến nghị với Quốc hội và Bộ Chính trị:
1. Công bố trước toàn thể nhân dân ta và nhân dân toàn thế giới thực trạng quan hệ Việt – Trung; nêu rõ những căn cứ phù hợp với luật pháp quốc tế, có sức thuyết phục về chủ quyền của Việt Nam đối với biển đảo ở vùng Biển Đông để làm sáng tỏ chính nghĩa của nước ta; khẳng định thiện chí trước sau như một của nước ta xây dựng, gìn giữ quan hệ hữu nghị, hợp tác láng giềng tốt với Trung Quốc, nhưng quyết tâm bảo vệ độc lập, chủ quyền và sự toàn vẹn lãnh thổ quốc gia của mình. Nhân dịp này, Nhà nước ta cần chủ động giải thích trước toàn dân và dư luận thế giới bối cảnh ra đời, nội dung thực chất và giá trị pháp lý của công hàm mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng gửi Thủ tướng Chu Ân Lai năm 1958 về Biển Đông, để bác bỏ dứt khoát mọi xuyên tạc từ phía Trung Quốc. Chúng ta luôn phân biệt những mưu đồ và hành động phi đạo lý và trái luật pháp quốc tế của một bộ phận giới lãnh đạo Trung quốc, khác với tình cảm và thái độ thân thiện của đông đảo nhân dân Trung quốc đối với nhân dân Việt Nam. Chúng ta sẵn sàng là bạn và đối tác tin cậy của tất cả các nước, đặc biệt coi trọng quan hệ hữu nghị, hợp tác với các nước Đông Nam Á và các nước lớn, cùng với các nước có liên quan giải quyết hoà bình các vấn đề tranh chấp ở Biển Đông.
2. Trình bày rõ với toàn dân thực trạng đất nước hiện nay, thức tỉnh mọi người về những nguy cơ đang đe dọa vận mệnh của Tổ quốc, dấy lên sự đồng lòng và quyết tâm của toàn dân đem hết sức mạnh vật chất, tinh thần, trí tuệ để bảo vệ và phát triển đất nước. Cải cách sâu sắc, toàn diện về giáo dục và kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu cấp thiết, là kế sâu rễ bền gốc để nâng cao dân trí, dân tâm, dân sinh làm cơ sở cho quá trình tự cường dân tộc và nền tảng cho sự nghiệp bảo vệ và xây dựng đất nước. Muốn vậy, trước hết phải khắc phục tình trạng nền giáo dục và kinh tế của đất nước bị chi phối bởi ý thức hệ giáo điều. Cải cách chính trị, vì vậy, là tiền đề không thể thiếu cho những cải cách sâu rộng khác.
3. Tìm mọi cách thực hiện đầy đủ các quyền tự do, dân chủ của nhân dân đã được Hiến pháp quy định, nhằm giải phóng và phát huy ý chí và năng lực của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tận dụng được cơ hội mới, đáp ứng được những đòi hỏi và thách thức mới của tình hình khu vực và thế giới hiện nay. Trong thực hiện những quyền tự do dân chủ của nhân dân đã ghi trong Hiến pháp, cần đặc biệt thực hiện nghiêm túc quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, quyền được tự do bày tỏ thái độ chính trị thông qua các cuộc biểu tình ôn hòa, quyền lập hội, quyền đòi hỏi công khai minh bạch trong mọi lĩnh vực của cuộc sống đất nước.
4. Ra lời kêu gọi toàn thể quốc dân đồng bào, mọi người Việt Nam ở trong nước và ở nước ngoài, không phân biệt chính kiến, tôn giáo, dân tộc, địa vị xã hội, hãy cùng nhau thực hiện hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc với lòng yêu nước, tinh thần vị tha và khoan dung. Tất cả hãy cùng nhau khép lại quá khứ, đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, để từ nay tất cả mọi người đều một lòng một dạ cùng nắm tay nhau đứng chung trên một trận tuyến vì sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cùng nhau dốc lòng đem hết trí tuệ, nghị lực sáng tạo và nhiệt tình yêu nước xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của chúng ta.
5. Lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam với tính cách là đảng cầm quyền duy nhất và cũng là người chịu trách nhiệm toàn diện về tình hình đất nước hiện nay, hãy đặt lợi ích quốc gia lên trên hết, giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ đẩy mạnh cuộc cải cách chính trị, giải phóng mọi tiềm năng của nhân dân cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đẩy lùi mọi tệ nạn tham nhũng và tha hóa, đưa đất nước thoát ra khỏi tình trạng yếu kém và lệ thuộc hiện nay, chuyển sang thời kỳ phát triển bền vững, đưa dân tộc ta đồng hành với cả nhân loại tiến bộ vì hòa bình, tự do dân chủ, quyền con người, bảo vệ môi trường.
Cuối cùng, chúng tôi thiết tha mong đồng bào sống trong nước và ở nước ngoài hưởng ứng và ký tên vào bản kiến nghị này. Bằng việc đó và bằng những hành động thiết thực, mọi người Việt Nam biểu thị ý chí sắt đá của dân tộc ta, quyết ngăn chặn, đẩy lùi mọi âm mưu và hành động xâm phạm độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ nước ta, xóa bỏ bất công, nghèo nàn, lạc hậu trong nước mình, xây dựng và gìn giữ non sông đất nước xứng đáng với truyền thống vẻ vang của dân tộc, không hổ thẹn với các thế hệ mai sau và với các dân tộc khác trên thế giới.
Giành thời cơ, đưa Tổ quốc chúng ta thoát khỏi hiểm họa, phát triển bền vững trong hòa bình là trách nhiệm thiêng liêng của mọi người Việt Nam ta.
Làm tại Hà Nội, ngày 10 tháng 7 năm 2011



Biên nhận chuyển phát nhanh gửi văn bản Kiến nghị đến Văn phòng Trung ương Đảng chiều 13.7.2011
Danh sách ký tên vào bản kiến nghị
về bảo vệ và phát triển đất nước
trong tình hình nóng bỏng hiện nay
(Cập nhật đến 23 giờ 40 ngày 16-7-2011)
| STT |
HỌ TÊN |
NGHỀ NGHIỆP
|
NƠI CƯ TRÚ |
| 1 |
PGS TS Hồ Uy Liêm |
|
Hà Nội |
| 2 |
Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh |
|
Hà Nội |
| 3 |
Trần Việt Phương |
|
Hà Nội |
| 4 |
GS Hoàng Tụy |
|
Hà Nội |
| 5 |
Trần Đức Nguyên |
|
Hà Nội |
| 6 |
GS Nguyễn Huệ Chi |
|
Hà Nội |
| 7 |
Nguyễn Trung |
|
Hà Nội |
| 8 |
Phạm Chi Lan |
|
Hà Nội |
| 9 |
Chu Hảo |
|
Hà Nội |
| 10 |
TS Nguyễn Xuân Diện |
|
Hà Nội |
| 11 |
Nguyễn Đình Đầu |
|
TP.HCM |
| 12 |
Linh mục Huỳnh Công Minh |
|
TP.HCM |
| 13 |
Lê Hiếu Đằng |
|
TP.HCM |
| 14 |
GS Tương Lai |
|
TP.HCM |
| 15 |
Luật sư Trần Quốc Thuận |
|
TP.HCM |
| 16 |
Vũ Thành Tự Anh |
|
TP.HCM |
| 17 |
Lê Mạnh Thát |
|
TP.HCM |
| 18 |
Nhà văn Nguyên Ngọc |
|
TP.HCM |
| 19 |
Nguyễn Hữu Châu Phan |
|
Huế |
| 20 |
Nguyễn Đình An |
|
Đà Nẵng |
| 21 |
Nhà giáo Phạm Toàn |
|
Hà Nội |
| 22 |
Nguyễn Thế Hùng |
Vice-President of Vietnam Association of Fluid Mechanics. Head of Division of Water Resources Engineering Fundamentals. University of Danang, Vietnam |
Đà Nẵng |
| 23 |
TS Nguyễn Quang A |
|
Hà Nội |
| 24 |
PGS TS Hoàng Dũng |
Đại học Sư phạm TP HCM |
TP.HCM |
| 25 |
TS Phan Thị Hoàng Oanh |
TS Hóa học, Giảng viên Đại học |
TP.HCM |
| 26 |
BS Nguyễn Đình Nguyên |
TS Y khoa, Viện nghiên cứu Y khoa Garvan, Sydney, Australia |
Úc |
| 27 |
BS Nguyễn Đắc Diên |
Nha khoa |
TP.HCM |
| 28 |
Đặng Thị Hảo |
Viện văn học |
Hà Nội |
| 29 |
André Menras Hồ Cương Quyết |
Công dân Việt Nam |
Pháp |
| 30 |
Nhà văn Phạm Xuân Nguyên |
Phó Chủ tịch Liên hiệp các hội Văn học Nghệ thuật Hà Nội, Chủ tịch Hội Nhà văn Hà Nội. |
Hà Nội |
| 31 |
Lữ Phương |
Nhà nghiên cứu, nguyên Thứ trưởng Bộ Văn hoá, chính phủ Cộng hoà miền Nam Việt Nam |
TP.HCM |
| 32 |
Trần Văn Long |
Nguyên Phó Bí thư Thành đoàn TP HCM, nguyên Phó Tổng Giám đốc Saigonntourist |
TP.HCM |
| 33 |
Đỗ Đăng Giu |
Nguyên Giám đốc nghiên cứu CNRS, chuyên ngành Vật Lý Đaị học Paris XI |
Pháp |
| 34 |
Phạm Xuân Yêm |
|
Pháp |
| 35 |
BS Huỳnh Tấn Mẫm |
Nguyên Đại biểu Quốc hội khoá 6, nguyên Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn trước năm 1975 |
TP.HCM |
| 36 |
Trần Thức |
Nguyên cán bộ giảng dạy trường Đại học Sư phạm Huế |
TP.HCM |
| 37 |
Nhà thơ Hoàng Hưng |
Viết báo, dịch sách |
TP.HCM |
| 38 |
Nguyễn Thị Mười |
Nội trợ |
TP.HCM |
| 39 |
Nhà báo Tống Văn Công |
|
TP.HCM |
| 40 |
Phan Thị Ngọc Mai |
Nguyên Tổng biên tập báo Phụ Nữ TP.HCM |
TP.HCM |
| 41 |
Đặng Minh Điệp |
|
TP.HCM |
| 42 |
Hoàng Ngọc Lễ |
|
USA |
| 43 |
KS Hoàng Ngọc Sơn |
|
Hà Nội |
| 44 |
Huy Đức |
Nhà báo (Blog Osin) |
Hà Nội |
| 45 |
Nhà văn nhà thơ Thế Dũng |
Công dân Việt Nam đang sống tại CHLB Đức |
Germany |
| 46 |
Quỳnh Liên |
Giáo viên |
Hà Nội |
| 47 |
Nhà văn Nguyễn Quang Lập |
|
TP.HCM |
| 48 |
GS TSKH Hoàng Xuân Phú |
Viện Toán học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam |
Hà Nội |
| 49 |
Nhà thơ Đỗ Trung Quân |
|
TP.HCM |
| 50 |
PGS TS Ngô Đức Thọ |
Đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 51 |
Luật sư Trịnh Đình Ban |
Nguyên Phó Chủ tịch Hội Luật gia TP HCM, nguyên thành viên Tổ Tư vấn của Chính phủ |
TP.HCM |
| 52 |
Lê Đăng Doanh |
Nhà nghiên cứu kinh tế |
Hà Nội |
| 53 |
TS Đặng Nguyệt Ánh |
Nguyên cán bộ Nghiên cứu của Viện Năng lượng Nguyên tử Việt Nam |
|
| 54 |
Đỗ Duy Văn |
Nhà nghiên cứu Văn hóa – Văn nghệ dân gian Việt Nam |
Hà Nội |
| 55 |
Bùi Việt Hà |
GĐ Công ty Công nghệ Tin học Nhà trường |
Hà Nội |
| 56 |
Phạm Xuân Huy |
|
Hà Nội |
| 57 |
PGS TS Trần Minh Thế |
Nguyên Viện trưởng Viện Thông tin Tư liệu Địa chất, hiện nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 58 |
TS Phan Hồng Giang |
Nguyên Viện trưởng Viện Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam |
Hà Nội |
| 59 |
Đỗ Thanh Thảo |
|
Đà Lạt |
| 60 |
Đại Tá Pham Xuan Phuong |
Cuu chien binh |
Hà Nội |
| 61 |
Nguyễn Bá Dũng |
Công dân Việt Nam |
Hà Nội |
| 62 |
Đặng Ngọc Lan |
Giảng viên |
Hà Nội |
| 63 |
Tô Quang Vinh |
|
Hà Nội |
| 64 |
Do Dinh Bang |
Công dân Việt Nam |
Nha Trang |
| 65 |
Nguyễn Văn Học |
Kiểm toán viên Bộ Tài chính |
Hà Nội |
| 66 |
TS Nguyễn Thạch Cương |
|
Hà Nội |
| 67 |
KS Lê Ngọc Anh |
|
Hà Nội |
| 68 |
Đồng Xuân Đảm |
NCS Tiến sĩ ngành Quản trị kinh doanh, Đại học Quebec tại Montreal (UQAM) Canada |
Canada |
| 69 |
PGS TS Nguyễn Anh Tuấn |
Cán bộ nghiên cứu khoa học và giảng dạy đại học |
Hà Nội |
| 70 |
PGS TS Hoàng Xuân Huấn |
Giảng dạy tại Đại học quốc gia Hà Nội |
Hà Nội |
| 71 |
Lê Văn Cát |
|
Germany |
| 72 |
ThS Nguyen Ba Anh |
Kinh tế |
Nga |
| 73 |
Lê Dũng |
|
Hà Nội |
| 74 |
Đỗ Vân Anh |
|
Hà Nội |
| 75 |
Trần Đức Độ |
Giảng viên đại học TP. HCM |
TP.HCM |
| 76 |
Nguyễn Thị Khánh Trâm |
Nghiên cứu viên văn hóa – Phân Viện VHNT VN tại TP HCM |
TP.HCM |
| 77 |
KS Nguyễn Thế Hùng |
Tin học, Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam |
Hà Nội |
| 78 |
Nguyễn Tiến Bính |
|
Hà Nội |
| 79 |
Dương Thanh Sơn |
Công dân Việt Nam |
Hà Nội |
| 80 |
Vũ Ngọc Tiến |
Viết văn, viết báo tại Hà Nội |
Hà Nội |
| 81 |
Thủy Nguyên |
|
Hà Nội |
| 82 |
Nguyễn Khánh Việt |
Cục Phục vụ Ngoại giao Đoàn, Bộ Ngoại giao |
Hà Nội |
| 83 |
Trần Nhu |
|
USA |
| 84 |
Tống Sơn Lương |
Cựu giáo viên trường Cao đẳng Sư phạm Nam Định |
Nam Định |
| 85 |
Đỗ Thịnh |
Hưu trí |
Hà Nội |
| 86 |
KTS Trần Thanh Vân |
Kiến trúc sư cảnh quan |
Hà Nội |
| 87 |
Đào Tiến Thi |
Biên tập viên Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam |
Hà Nội |
| 88 |
Đặng Quang Vinh |
Sinh viên Đại học GTVT – TP.HCM |
TP.HCM |
| 89 |
Võ Văn Tạo |
Nhà báo, thường trú tại Nha Trang (học sinh miền Nam tập kết, chiến sĩ C23, F304 – mặt trận Quảng Trị 1972 |
Nha Trang |
| 90 |
Le Dinh Vu |
|
Nga |
| 91 |
Nguyễn Ngọc Giao |
|
Pháp |
| 92 |
Ngô Thái Văn |
|
TP.HCM |
| 93 |
KS Nguyễn Thanh Xuân |
Công nghệ thông tin |
TP.HCM |
| 94 |
Trần Minh Thảo |
Công dân Việt Nam, viết văn |
Bảo Lộc |
| 95 |
KS Bùi Đình Giáp |
Công dân Việt Nam hiện đang sống tại Nhật Bản, cơ điện tử |
Nhật Bản |
| 96 |
Trịnh Hồng Trang |
|
Hà Nội |
| 97 |
KS Nguyễn Xuân Thọ |
Truyền thông |
Germany |
| 98 |
Quảng Trọng Nhân |
Nhân viên |
TP.HCM |
| 99 |
Nguyễn Hữu Chuyên |
Giáo viên |
Thái Bình |
| 100 |
Hà Văn Thịnh |
Giảng viên khoa Sử, Đại học Khoa học Huế |
Huế |
| 101 |
KS Trần Văn Lạc |
Địa chất – Công ty CP Tư vấn Xây dựng điện 2 |
TP.HCM |
| 102 |
Nguyễn Ái Chi |
Cán bộ hưu trí |
TP.HCM |
| 103 |
Dang Van Lap |
|
Hà Nội |
| 104 |
Dao Duy Dong |
Nhân viên |
Hà Nội |
| 105 |
Dao Duy Chu |
|
Hà Nội |
| 106 |
Nguyễn Thiết Thạch |
Công dân Việt Nam, lao động tự do |
TP.HCM |
| 107 |
Nguyễn Thiện Nhân |
Nhân viên ngân hàng |
Bình Dương |
| 108 |
Lê Hồng Oanh |
Công dân Việt Nam |
Hà Nội |
| 109 |
Vũ Anh Minh |
|
Úc |
| 110 |
Cao Thị Nhung |
Giảng viên khoa Hóa trường Đại học Bách khoa TP Hồ Chí Minh |
TP.HCM |
| 111 |
KS Vũ Văn Luân |
Công nghệ thông tin |
Pháp |
| 112 |
Nguyễn Cường |
|
CH SEC |
| 113 |
KS Nguyễn Văn Dũng |
|
Đồng Nai |
| 114 |
TS Đoàn Hòa |
|
CH SEC |
| 115 |
KS Phan Quốc Tuyên |
Công tác tại Liên Minh Viễn Thông Quốc Tế (ITU), Genève, Thuỵ Sĩ |
Thụy Sĩ |
| 116 |
Nguyễn Trang Nhung |
Sinh viên |
Hà Nội |
| 117 |
Trần Tuấn Dũng |
Hưu trí |
Canada |
| 118 |
Nguyễn Hùng |
Cử nhân CNTT |
Đồng Nai |
| 119 |
Nguyễn Đăng Hoàng |
|
Hà Nội |
| 120 |
Trần Đông A |
Kinh doanh |
Hà Nội |
| 121 |
KS Trần Quang Anh |
Tin học |
TP.HCM |
| 122 |
Lê Hải |
Trưởng đại diện tạp chí “Nhiếp Ảnh” tại miền Trung – Tây Nguyên |
Đà Nẵng |
| 123 |
Nguyễn Quốc Sơn |
Sĩ quan QĐ nghỉ hưu, hội viên CCB VN, nhiếp ảnh gia |
Hà Nội |
| 124 |
Nguyễn Quang Trung |
|
Germany |
| 125 |
KS Nguyễn Vĩnh Nguyên |
Công tác tại Ban Cơ yếu Chính phủ |
Hà Nội |
| 126 |
Phan Le Thuy |
|
Pháp |
| 127 |
Nguyễn Đông Khê |
Công dân Việt Nam |
Đắk Nông |
| 128 |
Nguyễn Lương Quang |
Service d’Astrophysique |
Pháp |
| 129 |
TS Nguyễn Văn Phú |
Nghiên cứu và giảng dạy ở CNRS (Pháp) |
Pháp |
| 130 |
Hoàng Thị Thanh Hà |
|
Hà Nội |
| 131 |
Lê Trần Anh |
Chủ tịch Công ty TNHH Kỹ thuật MEA |
Thái Nguyên |
| 132 |
Nguyễn Thị Phương Hoa |
Cử nhân Vật lý |
TP.HCM |
| 133 |
Nguyễn Quý Kiên |
KTV Tin học |
Hà Nội |
| 134 |
Hoàng Thị Nhật Lệ |
|
TP.HCM |
| 135 |
Hoàng Nguyễn Thụy Khê |
Công dân Việt Nam |
TP.HCM |
| 136 |
Bùi Thu Trang |
Dịch thuật |
Hà Nội |
| 137 |
Phan Thế Vấn |
|
TP.HCM |
| 138 |
Le Thanh Thien Nga |
Bac si |
TP.HCM |
| 139 |
Nhà Thơ Nguyễn Duy |
|
TP.HCM |
| 140 |
Nguyễn Thu Hảo |
Nhân viên dự án ODA |
Hà Nội |
| 141 |
Lê Viết Huấn |
|
TP.HCM |
| 142 |
KS Vũ Văn Quyết |
Xây dựng |
Vĩnh Phúc |
| 143 |
LS Bùi Trần Đăng Khoa |
Công ty Jipyong & Jisung Vietnam |
TP.HCM |
| 144 |
TS Nguyễn Thăng Long |
|
Hà Nội |
| 145 |
Đỗ Thị Ngọc Quyên |
Higher Education Quality Assurance & Accreditation |
Hà Nội |
| 146 |
Bùi Nhật Ánh |
|
Hà Nội |
| 147 |
Nguyễn Thị Kim Phú |
|
Hà Nội |
| 148 |
GS Ngô Thúc Lanh |
Nhà giáo nhân dân đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 149 |
Nguyễn Minh Thi |
Cán bộ hưu trí |
Hà Nội |
| 150 |
Quản Tuấn Ngụ |
Cựu chiến binh chống Pôn Pốt, hiện đang công tác tại Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long – Cần Thơ |
Cần Thơ |
| 151 |
KS Trần Minh Khôi |
Điện toán |
Germany |
| 152 |
Nguyễn Văn Quyết |
|
Hà Nội |
| 153 |
Phạm Như Hiển |
Giáo viên Toán, trường THPT Bắc Kiến Xương, Thái Bình |
Thái Bình |
| 154 |
Bùi Minh Quốc |
|
Đà Lạt |
| 155 |
Hoàng Thiên Sơn |
Nhân viên kinh doanh |
Bình Dương |
| 156 |
Nguyễn Đức Huy |
|
Quảng Bình |
| 157 |
KS Nguyễn Quốc Bình |
|
TP.HCM |
| 158 |
Nguyen Le Hieu |
|
USA |
| 159 |
Trần Văn Vinh |
Cán bộ nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 160 |
Đinh Trinh Vân |
Giáo viên |
Thái Lan |
| 161 |
TS Lê Văn Điền |
Ngành toán học |
Ba Lan |
| 162 |
Nguyễn Văn Tạc |
Giáo học hưu trí |
Hà Nội |
| 163 |
Vũ Minh Tiến |
|
Hà Nội |
| 164 |
GS TSKH Nguyễn Đăng Hưng |
Giáo sư Danh dự Thực thụ trường Đại học Liège, Bỉ |
TP.HCM |
| 165 |
ThS Lê Hữu Hoàng Lộc |
Tài chính |
Vĩnh Long |
| 166 |
Nhà văn Thùy Linh |
|
Hà Nội |
| 167 |
ThS Vũ Quốc Ngữ |
Nhà báo |
Hà Nội |
| 168 |
Nguyễn Đức Hiệp |
Bộ Môi trường và Thay đổi Khí hậu, NSW |
Úc |
| 169 |
PGS TS Hoàng Quý Thân |
Hưu trí |
Hà Nội |
| 170 |
KS Nguyen D Hoa |
Xây dựng |
USA |
| 171 |
Nguyễn Sỹ Hùng |
Cựu chiến binh |
Hà Nội |
| 172 |
Nguyễn Phạm Điền |
|
Úc |
| 173 |
Lương Châu Phước |
Cư sĩ Phật giáo |
Canada |
| 174 |
KS Triệu Bình |
Cơ khí |
Hà Nội |
| 175 |
Nguyen Ba Thuan |
Thay giao Dai hoc ve huu |
Đan Mạch |
| 176 |
KS Đỗ Toàn Quyền |
|
TP.HCM |
| 177 |
Nguyễn Anh Thông |
|
Bình Dương |
| 178 |
Vo Anh Khoa |
|
USA |
| 179 |
Đàm Văn Vĩ |
Phòng sản xuất, công ty cổ phần Silkroad Hà Nội |
Hà Nội |
| 180 |
Trần Văn Ninh |
Giáo viên trung học |
Phú Yên |
| 181 |
KS Huỳnh Trọng Lương |
Công nghệ thông tin |
Bình Định |
| 182 |
Đỗ Chí Kiên |
|
Hưng Yên |
| 183 |
Đào Thanh Thủy |
cán bộ hưu trí |
Hà Nội |
| 184 |
Trần Quý Huy |
cán bộ hưu trí |
Hà Nội |
| 185 |
TS Vũ Quang Việt |
Nguyên chuyên gia cao cấp của Liên Hợp Quốc |
USA |
| 186 |
KS Tran Hoa Binh |
Giao vien Tin Hoc, cong tac tai Trung tam Tin hoc Bach Khoa Tp.HCM |
TP.HCM |
| 187 |
TS Nguyễn Thị Thúy Loan |
Ngôn ngữ học, Giảng viên chính Khoa Tiếng Pháp trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng |
Đà Nẵng |
| 188 |
Nguyễn Gia Hảo |
Cử nhân ngoại thương, chuyên gia tư vấn độc lập (lĩnh vực kinh tế đối ngoại) |
Hà Nội |
| 189 |
TS Phùng Liên Đoàn |
Tổng Giám đốc Công ty Tư vấn Nguyên tử và Môi trường PAI Corporation, Chủ tịch sáng lập Hội Khuyến khích Tự Lập và Hội Khuyến học Việt-Mỹ |
USA |
| 190 |
TS BS Trần Tuấn |
|
Hà Nội |
| 191 |
Kha Lương Ngãi |
Nguyên Phó Tổng Biên Tập báo Sài Gòn Gỉai Phóng thuộc Thành Uỷ TP.HCM |
TP.HCM |
| 192 |
Trịnh Hồng Kỳ |
Cựu chiến binh |
TP.HCM |
| 193 |
KS Trần Kim Long |
|
USA |
| 194 |
Nguyễn Hữu Tùng |
Quản trị mạng máy tính |
Đà Nẵng |
| 195 |
Khuất Đăng Khoa |
Sinh viên CNTT |
TP.HCM |
| 196 |
Tran Luong Son |
|
Hà Nội |
| 197 |
BS Nguyễn Trong Hoàng |
|
Pháp |
| 198 |
Đỗ Minh Đức |
Nhân viên văn phòng |
Hà Nội |
| 199 |
Hà Quang Vinh |
Hưu trí, công dân Việt Nam |
TP.HCM |
| 200 |
Đặng Kim Toàn |
Tư doanh |
USA |
| 201 |
Lê Thúy |
|
Ba Lan |
| 202 |
Hoang Dinh Minh Long |
|
USA |
| 203 |
PHAN Antoinette |
Chu nha hang |
Pháp |
| 204 |
Bùi Văn Đạo |
|
USA |
| 205 |
Ngô Anh Văn |
nghiên cứu sinh tiến sĩ tại Mỹ, đại học Nam California |
USA |
| 206 |
Tran Tinh – Le |
|
Germany |
| 207 |
Vũ Ngọc Thăng |
|
Canada |
| 208 |
Nguyễn Quang Việt |
Cựu TNXP trước 1975, công dân Hà nội |
Hà Nội |
| 209 |
KS Lê Viết Hải |
|
Hà Nội |
| 210 |
BS Hung Le |
|
USA |
| 211 |
Đỗ Thanh Tùng |
Người thanh niên đã tự châm lửa đốt chiếc xe máy của mình rồi tung biểu ngữ phản đối lệnh cấm đánh bắt và chiếm giữ trái phép Biển, Đảo của Việt Nam trước cửa ĐSQ Trung Quốc ngày 10/4/2011 |
Hà Nội |
| 212 |
KS Tô Tuấn Lưu |
Software |
Germany |
| 213 |
Truong Quyet Chien |
|
Germany |
| 214 |
Nguyen Quang Tuyen |
Nghe si thi giac |
USA |
| 215 |
Phạm Hoàng Kim Trang |
|
Thụy Sĩ |
| 216 |
KS Nguyển Minh Khanh |
CNTT Ngân hàng LCL |
Pháp |
| 217 |
KS Nguyễn Hải Tùng |
Điện tử |
USA |
| 218 |
Bùi Hồng Mạnh |
Cử nhân Hoá học, Sỹ quan Quân đội Nhân dân Việt Nam (CCB), cán bộ nghiên cứu Đại học Bách khoa Hà Nội; hiện nghĩ hưu và làm việc biên dịch tự do. |
Germany |
| 219 |
Lê Dinh Hong |
|
Canada |
| 220 |
Nguyễn Hữu Tấn Đức |
Công chức về hưu |
Pháp |
| 221 |
Tô Oanh |
Thày giáo THPT đã nghỉ hưu |
Bắc Giang |
| 222 |
Thích Nguyên Hùng |
Tu hành, nghiên cứu, dịch thuật, giảng dạy Phật học |
Pháp |
| 223 |
Nguyễn Thanh Ý |
Cán bộ thư viện đã nghỉ hưu |
Bắc Giang |
| 224 |
Nguyễn Đức Việt |
IT professional |
Úc |
| 225 |
KTS Đinh Khắc Giao |
|
Pháp |
| 226 |
Nhà văn Nguyễn Tiến Lộc |
Chủ nhiệm tạp chí Người Việt Hải Ngoại Canada |
Canada |
| 227 |
Nguyễn Tiến Đạt |
Học sinh hết lớp 12 |
Bắc Giang |
| 228 |
Đặng Lợi Minh |
Giáo viên cấp 3 về hưu |
Hải Phòng |
| 229 |
Phạm Thị Ngọc Trâm |
|
Hà Nội |
| 230 |
Nhà giáo nhà thơ Tạ Đức Phương |
|
Hải Phòng |
| 231 |
Hà Văn Thùy |
Nhà nghiên cứu văn hóa |
TP.HCM |
| 232 |
GS BS Nguyễn Thị Ngọc Toản |
Ủy viên Trung ương Hội Nạn nhân chất độc da cam/Dioxin |
TP.HCM |
| 233 |
Nguyễn Lâm Duy Quí |
Sinh viên Đại học Hoa Sen |
Tiền Giang |
| 234 |
TS Nguyễn Cao Thắng |
Nghỉ chế độ |
TP.HCM |
| 235 |
Đào Minh Châu |
Chuyên viên Cơ quan Hợp tác Phát triển Thuỵ Sỹ tại Việt Nam |
Hà Nội |
| 236 |
KS Đỗ Nam Hải |
Phó tổng giám đốc Công ty CP May Ha, cựu Sỹ quan Quân đội |
Hải Phòng |
| 237 |
Nguyễn Thành Long |
Giáo viên |
Hà Nội |
| 238 |
Nguyễn Hòa Bình |
|
TP.HCM |
| 239 |
Nguyễn Văn Hùng |
|
Ninh Thuận |
| 240 |
TS Lê Hoàng Lan |
Ngành Hóa học, cán bộ về hưu |
Hà Nội |
| 241 |
Nguyễn Quang Khải |
70 tuổi, 42 năm tuổi Đảng |
Thanh Hóa |
| 242 |
Lâm Văn Lẫy |
Doanh nhân |
Ninh Thuận |
| 243 |
Hoàng Sơn Tùng |
Sales manager |
Hà Nội |
| 244 |
Bui Huy Long |
|
USA |
| 245 |
Nguyễn Việt Vương |
Sinh viên ĐHXD |
Hải Phòng |
| 246 |
Trần Quốc Thành |
|
TP.HCM |
| 247 |
Lê Thị Thu Hương |
Nghiên cứu sinh tại Hoa Kỳ |
USA |
| 248 |
Kevin Nguyen |
Oklahoma City University |
USA |
| 249 |
Nguyễn Hoàng Dũng |
|
TP.HCM |
| 250 |
Nguyễn Trung Thành |
|
Hà Nội |
| 251 |
Hồ Kim Nhân |
Profession: Dentist |
USA |
| 252 |
Vũ Quang Chính |
Nhà lý luận phê bình điện ảnh |
Hà Nội |
| 253 |
Phan-Bá Phi |
Cao học tin học, chuyên viên cấp cao King County, TB Washington |
USA |
| 254 |
KS Lê Mạnh Đức |
Hưu trí |
TP.HCM |
| 255 |
Lại Gia Định |
Luật sư Luật Sáng chế, Kỹ sư Cơ khí |
USA |
| 256 |
Nguyen Huu Thia |
|
Hải Phòng |
| 257 |
Chu Giang Sơn |
|
Hưng Yên |
| 258 |
Phùng Hồng Kổn |
Giáo viên THPT |
Hà Nội |
| 259 |
Michael Nguyễn Hưng |
Cao học Kế toán (Master in Accounting) và là một kiểm toán viên |
USA |
| 260 |
Hồ Quang Huy |
|
Nha Trang |
| 261 |
Đỗ Quốc Minh |
|
Đồng Nai |
| 262 |
Trần Đình Dũng |
Hội sinh thái Việt http://www.vietecology.org/ |
USA |
| 263 |
Nguyễn Minh Tiến |
|
Hải Phòng |
| 264 |
GS TS Nguyễn Trọng Nhân |
Nguyên Chủ tịch Hội Chữ thập đỏ VN, nguyên Bộ trưởng Bộ Y tế, nguyên đại biểu Quốc hội khoá IX và X |
Hà Nội |
| 265 |
Nguyến Đức Cường |
|
Hà Nội |
| 266 |
Nguyễn Hải Thanh |
Công dân Việt Nam |
Hải Phòng |
| 267 |
Hồ Quang Tây |
|
TP.HCM |
| 268 |
Nguyễn Quốc |
|
USA |
| 269 |
Trần Minh Phương |
|
USA |
| 270 |
Huỳnh Ngọc Đăng Trình |
Sinh viên cao học tại trường University of Washington, Seattle |
USA |
| 271 |
PGS TS Phan Văn Hiến |
Giảng viên cao cấp |
Hà Nội |
| 272 |
Phùng Hoài Ngọc |
Giảng viên đại học Đại học An Giang |
An Giang |
| 273 |
Trương Minh Quý |
Nghề nghiệp: tự do |
Đắk Lắk |
| 274 |
TS Phạm Quỳnh Anh |
Đại học Quốc gia Hà Nội |
Hà Nội |
| 275 |
TS Lê Thị Thanh Tâm |
|
TP.HCM |
| 276 |
Nguyễn Ngọc Long |
Lao động tư nhân |
Hà Nội |
| 277 |
KS Đỗ Hoàng Điệp |
Xây dựng |
Hà Nội |
| 278 |
Ha Duong Duc |
|
USA |
| 279 |
Phan Nguyên |
Sinh viên ĐH Văn Lang |
TP.HCM |
| 280 |
Phạm Sỹ Hưng |
|
Hà Nội |
| 281 |
Nguyễn Vĩnh Tuyên |
Sinh viên Đ1 Đại học Điện lực Hà Nội |
Tuyên Quang |
| 282 |
TS Phạm Hoài Đức |
TS Sinh học, CB hưu trí |
Hà Nội |
| 283 |
KTS Cao Quốc Tuấn |
|
Hà Nội |
| 284 |
Đoàn Lâm Tất Linh |
Kỹ thuật viên phòng thu |
Kiên Giang |
| 285 |
Phạm Lâm |
Cán bộ, Đảng viên hưu trí |
Hà Nội |
| 286 |
Cao Lập |
Cựu tù Côn Đảo, cựu cán bộ Thành đoàn TP Hồ chí Minh, nguyên giám đốc Làng Du lịch Bình Qưới – Saigontourist |
TP.HCM |
| 287 |
PGS TS Nguyễn Hoàng Lê |
Sử học, Đại học Quốc gia Hà Nội |
Hà Nội |
| 288 |
Pham Anh Sy |
|
Hà Nội |
| 289 |
Trịnh Quốc Việt |
Lập trình viên |
Hà Nội |
| 290 |
Nhà thơ nhà báo Nguyễn Quốc Minh |
Công dân Việt Nam. |
TP.HCM |
| 291 |
Nguyen Ha |
|
TP.HCM |
| 292 |
Xà Quế Châu |
Đầu bếp |
TP.HCM |
| 293 |
Lê Lan Chi |
Nhân viên thư viện |
Canada |
| 294 |
Giang Thanh Tung |
|
Quảng Ninh |
| 295 |
Nguyễn Hữu Hùng |
Giáo viên đã nghỉ hưu |
Đà Nẵng |
| 296 |
Luật gia Nguyễn Tường Tâm |
|
USA |
| 297 |
Nguyễn Bắc Hà |
Đảng viên |
Huế |
| 298 |
Nguyễn Quang Thạch |
|
Hà Nội |
| 299 |
Nguyễn Hải Đăng |
Kinh doanh phần mềm |
Hà Nội |
| 300 |
Nguyễn Hồng Khoái |
Cán bộ hưu trí, cử nhân kinh tế |
Hà Nội |
| 301 |
Dương Tấn Trung |
Chuyên gia điện toán |
Úc |
| 302 |
Lê Văn Tâm |
|
Nhật Bản |
| 303 |
Nguyễn Lê Thu Mỹ |
Hưu trí – CCB |
TP.HCM |
| 304 |
Nguyễn Quang Đồng |
Công tác phát triển (development) |
Hà Nội |
| 305 |
Nhà văn Trần Thùy Mai |
|
Huế |
| 306 |
Kỹ sư Ngô Duy Quyền |
Cơ khí |
Hà Nội |
| 307 |
Luong Thi Truong |
|
Hà Nội |
| 308 |
TS Vũ Hoàng Minh |
Ngành Hóa học, chuyên gia giáo dục tại nước Cộng hòa Angola |
Angola |
| 309 |
Phạm Văn Khoa |
|
Thái Bình |
| 310 |
Phạm Văn Tuyên |
|
Hưng Yên |
| 311 |
Đỗ Trọng Luyện |
|
Quảng Bình |
| 312 |
Trần Ngọc Nhi |
|
Hưng Yên |
| 313 |
Nghiêm Ngọc Trai |
|
Hà Nội |
| 314 |
Nguyễn Đức Phổ |
Lão nông |
TP.HCM |
| 315 |
Lê Mai Tùng |
Nghiên cứu sinh tiến sĩ |
Úc |
| 316 |
Nguyên-Phu-Binh |
Doanh nhân |
Thụy Sĩ |
| 317 |
Linh mục Antôn Lê Ngọc Thanh |
Thường trực Truyền thông Chúa Cứu Thế, hiện đang làm việc tại Dòng Chúa Cứu Thế Sài Gòn |
TP.HCM |
| 318 |
Bùi Anh Tuấn |
Phó phòng kế toán công ty TNHH Tân Mỹ – chi nhánh Quốc Oai |
Hà Nội |
| 319 |
Nguyễn Tuấn Thi |
|
Hà Nội |
| 320 |
KS Phạm Hoàng Cầm |
Điện tử |
Nhật Bản |
| 321 |
TS Phan Dao |
|
CH SEC |
| 322 |
Nguyễn Trọng Khôi |
Cựu chiến binh chống Mỹ, công dân đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 323 |
KS Nguyễn Thanh Minh |
Cử nhân Anh ngữ |
TP.HCM |
| 324 |
Nhà văn Nhật Tuấn |
|
TP.HCM |
| 325 |
KS Doãn Mạnh Dũng |
Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Khoa học Kỹ thuật và Kinh tế Biển Tp HCM, đảng viên Đảng CS VN |
TP.HCM |
| 326 |
Nguyen Minh Diep |
Logistic Officer |
Úc |
| 327 |
Dr Thục-Quyên |
|
Germany |
| 328 |
KS Trần Xuân Đàm |
Cơ khí |
TP.HCM |
| 329 |
Trịnh Văn Toàn |
|
Nam Định |
| 330 |
Lê Anh Hùng |
|
Quảng Bình |
| 331 |
Trương Đình Ngộ |
Chuyên Viên Ngân Hàng (Master) |
Thụy Sĩ |
| 332 |
Phạm Thanh Sơn |
Kinh doanh |
Hà Nội |
| 333 |
Dương Văn Nam |
Viễn thông |
Nam Định |
| 334 |
Võ Hữu An Khương |
Sinh viên đang học MBA |
USA |
| 335 |
Trương Tấn Phát |
Kinh doanh |
Úc |
| 336 |
Tran Quoc Viet |
Kinh doanh tu do |
TP.HCM |
| 337 |
Ts Vũ Minh Tâm |
|
Đồng Nai |
| 338 |
TS Nguyễn Hồng Kiên |
Sử học (Viện Khảo cổ học Việt Nam) |
Hà Nội |
| 339 |
Bùi Đức Viên |
Biên tập viên |
Hà Nội |
| 340 |
KS Trần Anh Tuấn |
|
Vũng Tàu |
| 341 |
Tống Đình Huân |
Công nhân |
Bình Thuận |
| 342 |
Lê Sơn Anh Hoàng |
Alliances Manager |
TP.HCM |
| 343 |
Đỗ Thành Long |
Giáo viên Anh Văn |
TP.HCM |
| 344 |
Hồ Trung Tính |
Học viên cao học ĐH KHTN TP HCM |
TP.HCM |
| 345 |
TS Lê Viết Bình |
Hóa học, nghỉ hưu |
TP.HCM |
| 346 |
Nguyễn Thanh Tùng |
Chuyên viên Văn phòng |
TP.HCM |
| 347 |
Nguyễn Thu Nguyệt |
Giảng viên đại học, hưu trí |
TP.HCM |
| 348 |
Phạm Kỳ Đăng |
Làm thơ, dịch thuật |
Germany |
| 349 |
Lê Đình Ty |
Thi sỹ – Nhiếp ảnh gia, hội viên Hội VHNT Quảng Bình |
Quảng Bình |
| 350 |
Nguyễn Công Dinh |
Công chức (cán bộ Hội Văn học Nghệ thuật Bình Dương) |
Bình Dương |
| 351 |
Trần Đức Hiếu |
Sinh viên |
Huế |
| 352 |
Nguyễn Văn Lịch |
Cựu sinh viên Đại học Kinh tế Kế hoạch, Hà Nội |
TP.HCM |
| 353 |
Nhà báo tự do Bùi Tín |
|
Pháp |
| 354 |
Nguyễn Quang Huân |
Tổng giám đốc, Infra-Thanglong |
Hà Nội |
| 355 |
Hoàng Mạnh Đễ |
Nguyên dạy Toán Lycèe Marie Curie – Đại học Khoa học Saigon |
TP.HCM |
| 356 |
Nguyễn-Phước Hí |
Cựu cán sự Biologie về hưu |
Germany |
| 357 |
Nguyễn Đình Đồng |
Cử nhân KHXH |
TP.HCM |
| 358 |
Nguyen Long |
Sinh vien |
Germany |
| 359 |
Phung Dinh Khai |
|
Germany |
| 360 |
TS Âu Dương Thệ |
|
Germany |
| 361 |
Nguyễn Đức Quỳnh |
Kinh doanh |
TP.HCM |
| 362 |
Cao Ngọc Chuyết |
Cử nhân |
Hà Nội |
| 363 |
Tô Văn Hai |
|
Đồng Nai |
| 364 |
Nguyễn Tiến Tài |
Nhà giáo hưu trí |
Hà Nội |
| 365 |
Le Than |
Cuu tu chinh tri Con Dao truoc 1975, nguyen Tong giam doc cong ty lien doanh Riveside |
Nha Trang |
| 366 |
Lê Hiền Đức |
Nhà giáo hưu trí (Giải thưởng Liêm chính năm 2007 của Tổ chức Minh bạch Quốc tế) |
Hà Nội |
| 367 |
Trần Thị Hồng |
Nghiên cứu khoa học |
Bỉ |
| 368 |
Đặng Trung Việt |
|
Quảng Nam |
| 369 |
Nguyễn Văn Nhẫn |
|
Đồng Nai |
| 370 |
Nguyen Van Lich |
|
Hà Nội |
| 371 |
KS Hồ Trọng Để |
Cơ khí |
TP.HCM |
| 372 |
Assoc. Prof. Phạm Quang Tuấn |
School of Chemical Engineering, University of New South Wales, Sydney 2052, AUSTRALIA |
Úc |
| 373 |
KS Cao Viết Cường |
Tự động hóa |
TP.HCM |
| 374 |
Trần Văn Toàn |
|
Pháp |
| 375 |
Tạ Thế Hùng |
Sinh viên sau đại học |
Hàn Quốc |
| 376 |
Nguyễn Thị Ánh Tuyết |
|
Úc |
| 377 |
Võ Đoàn Phong |
Công chức |
TP.HCM |
| 378 |
TSKH Phạm Văn Đỉnh |
|
Pháp |
| 379 |
Nhà văn Phạm Đình Trọng |
|
TP.HCM |
| 380 |
Nguyễn Phương Anh |
Sinh viên |
Hà Nội |
| 381 |
TS Phạm Gia Minh |
Kinh tế |
Hà Nội |
| 382 |
Nhà báo Phạm Thành |
Công tác tại Đài TNVN |
Hà Nội |
| 383 |
Nguyễn Mạnh Thành |
Công dân Hà Nội |
Hà Nội |
| 384 |
Khải Nguyên |
Dạy học (hưu), viết văn |
Hải Phòng |
| 385 |
Đinh Quang Minh |
Cử nhân Kinh tế |
Hà Nội |
| 386 |
Vu Ngoc Yen |
|
Germany |
| 387 |
Nguyễn Phước Khải Hưng |
|
TP.HCM |
| 388 |
Nguyễn Kỳ Hoàng |
Giáo Viên |
Đà Nẵng |
| 389 |
La Khanh Lan |
Thuong gia |
CH SEC |
| 390 |
Nguyễn Cảnh Hoàn |
Cử nhân Hóa ; Nguyên chủ tịch hội người Việt vùng Mansfeld – Südharz , Bang Sachsen – Anhalt |
Germany |
| 391 |
Vũ Đình Hưng |
Vẽ sơn mài |
Hà Nội |
| 392 |
PGS TS Nghiêm Hữu Hạnh |
Nghiên cứu khoa học |
Hà Nội |
| 393 |
Phan Tinh |
Electrification Railway Consultant MSc, BEng, CEng, MIET |
Anh |
| 394 |
KS Trần Viết Dung |
|
Úc |
| 395 |
Tô Hoài Nam |
|
Khánh Hòa |
| 396 |
Hồ Đại Đồng |
cựu chiến binh |
Hà Nội |
| 397 |
Lâm Hữu Lộc |
cựu chiến binh |
Hà Nội |
| 398 |
ThS Lê Đức Tuấn |
Thạc sỹ nghệ thuật |
Hà Nội |
| 399 |
Hồ Sỹ Lâm |
|
Hà Nội |
| 400 |
Trần Kim Anh |
Nguyên cán bộ viện nghiên cứu Hán Nôm |
Hà Nội |
| 401 |
KS Khổng Hy Thiêm |
Điện |
Khánh Hòa |
| 402 |
Đình Chẩn |
Sinh viên du học, Università Urbaniana |
Italia |
| 403 |
Bùi Đức Lai |
|
Hà Nội |
| 404 |
Vũ Văn Hoàng |
|
Hà Nội |
| 405 |
KS Lã Việt Dũng |
Công nghệ thông tin |
Hà Nội |
| 406 |
Nhà báo Nguyễn Thượng Long |
|
Hà Nội |
| 407 |
PGS TS Nguyễn Gia Định |
Khoa Toán, trường Đại học Khoa học Huế |
Huế |
| 408 |
Lê Thị Bình Minh |
Giáo viên nghỉ hưu |
Quảng Bình |
| 409 |
Võ Nam Việt |
|
Nga |
| 410 |
Thiện Ý Nguyễn Văn Thắng |
Cuu luat su, hien la Chu tich Cau lac Bo Luat Khoa Viet Nam |
USA |
| 411 |
Nhà thơ Đạo diễn Đỗ Minh Tuấn |
Hội viên Hội nhà văn Việt Nam, hội viên Hội Điện ảnh Việt Nam, công tác tại Hãng phim truyện Việt Nam Hà Nội |
Hà Nội |
| 412 |
Dương Đình Giao |
Nhà giáo về hưu |
Hà Nội |
| 413 |
Nguyễn Thanh Phong |
Giảng viên Đại học, Du học sinh Việt Nam tại Đài Loan |
Đài Loan |
| 414 |
Trần Thị Ca Dao |
|
TP.HCM |
| 415 |
Nguyễn Duy Nhạc |
Công chức |
Úc |
| 416 |
Nguyễn Thanh Phụng |
Nhân viên văn phòng |
Gia Lai |
| 417 |
Phùng Hồ Hải |
Viện Toán học, Viện KH&CN Việt Nam |
Hà Nội |
| 418 |
Nguyễn Trọng Bình |
Giáo viên giảng dạy đại học |
Cần Thơ |
| 419 |
Lê Minh Sơn |
Bộ đội xuất ngũ, cựu giáo viên, hiện nay là giám đốc Cty TNHH ngoài Quốc doanh |
Tây Ninh |
| 420 |
Hoàng Ngọc Biên |
|
USA |
| 421 |
Võ Tấn Huân |
Sinh viên Dược khoa (năm 4), University of Tennessee-College of Pharmacy, thành phố Memphis, bang Tennessee, Hoa Kỳ |
USA |
| 422 |
Tạ Ba |
Gác cổng |
TP.HCM |
| 423 |
Đinh Hoàng Bảo Quốc |
Contruction Engineer 1994, Microsoft System Engineer 2002 |
Đan Mạch |
| 424 |
Nguyễn Công Khôi |
Cựu chiến sĩ Trung đoàn 108 LK 5 |
USA |
| 425 |
Thành Đức Kiên |
|
Hà Nội |
| 426 |
KS Phạm Văn Tân |
Xây dựng |
Khánh Hòa |
| 427 |
Lê Nguyên |
Chủ bút website: http://www.phusa.info/ |
Pháp |
| 428 |
PGS TS Hoàng Hòa Bình |
Nghiên cứu viên chính, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam |
Hà Nội |
| 429 |
Tran Thi Huong |
Kinh doanh |
Germany |
| 430 |
Trinh Anh Hung |
Kinh doanh |
Germany |
| 431 |
Trinh Tuyet Trinh |
Sinh vien |
Germany |
| 432 |
Lê Quang Vinh |
Buôn bán |
TP.HCM |
| 433 |
GS Bùi Văn Phú |
Giáo sư đại học cộng đồng |
USA |
| 434 |
KS Bùi Khôi Hùng |
Đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 435 |
Lê Đắc Thắng |
|
Bình Thuận |
| 436 |
Nguyễn Việt Lâm |
Cử nhân kinh tế, Kế toán Doanh nghiệp |
Hà Tĩnh |
| 437 |
Trần Thị Mùi |
Kinh doanh |
CH SEC |
| 438 |
KS Nguyễn Trọng Tiêu |
Giao thông |
Hà Nội |
| 439 |
TS Trần Anh |
Kinh tế |
USA |
| 440 |
Đinh Hạ Hùng |
Buôn bán tự do |
TP.HCM |
| 441 |
GS TS Đình Quang |
|
Hà Nội |
| 442 |
KS Nguyễn Ngọc Hải |
|
Vũng Tàu |
| 443 |
BS Nguyễn Đình Trị |
Răng hàm mặt, nha khoa Thuận Kiều |
TP.HCM |
| 444 |
Nguyễn Trung Lĩnh |
Kỹ sư cơ khí, kinh doanh thang máy, nhà khung thép và các thiết bị khác |
Hà Nội |
| 445 |
TS Nguyễn Thế Phương |
|
Canada |
| 446 |
Lê Hồng Phú |
Nhân viên kỹ thuật |
Hà Nội |
| 447 |
ThS Nguyễn Hồng Quang |
Tự động hóa, Viện cơ học – Viện KH-CN Việt Nam |
Hà Nội |
| 448 |
KS Phạm Huy Việt |
Đại tá hưu trí, nguyên là lính thành cổ Quảng Trị |
Hà Nội |
| 449 |
Nguyễn Hữu Hoàn |
Giáo viên |
TP.HCM |
| 450 |
KS Nguyễn Thế Dũng |
Tin học |
Áo |
| 451 |
Nguyen Viet Hong |
|
Hà Nội |
| 452 |
KS Nguyễn Tiến Đức |
Công trình cảng – đường thủy |
TP.HCM |
| 453 |
Bui Thi Bich Ngoc |
Nha bao da nghi huu |
TP.HCM |
| 454 |
Nguyễn Ngọc Sơn |
Nhà giáo – nhà báo |
Hà Nội |
| 455 |
Nguyễn Quốc Khánh |
Quản lý |
TP.HCM |
| 456 |
Lê Thanh Phước |
Quản lý |
TP.HCM |
| 457 |
Nguyễn Đào Trường |
Hội viên Hội Văn học nghệ thuật tỉnh Hải Dương |
Hải Dương |
| 458 |
Nguyễn Thành Lâm |
Giám đốc doanh nghiệp |
Hà Nội |
| 459 |
Ngô Tấn Lắm |
Chuyên viên kinh doanh |
TP.HCM |
| 460 |
Đỗ Quý Toàn |
|
USA |
| 461 |
Vu Anh Thu |
|
USA |
| 462 |
Nguyễn Ngọc Toàn |
Nhân viên an ninh |
Đồng Nai |
| 463 |
Đinh Đăng Định |
Giáo viên trường THPT Lê Quý Đôn – Tuy Đức – Đắk Nông |
Đắk Nông |
| 464 |
Hạ Đình Nguyên |
Công dân thành phố Hồ Chí Minh |
TP.HCM |
| 465 |
KS Lê Hồ Sinh Nguyên |
Cơ khí |
Nhật Bản |
| 466 |
Nguyễn Văn Cung |
Nhạc sỹ, Thượng tá QĐND |
Hà Nội |
| 467 |
Trần Hữu Phi |
Chuyên ngành Cơ khí, đang công tác tại Công ty Hyundai Engineering |
Hàn Quốc |
| 468 |
Đỗ Quốc Long |
|
CH SEC |
| 469 |
Nguyễn Xuân Ánh |
|
Huế |
| 470 |
Nhà báo Trần Trung Chính |
Phó viện trưởng Viện nghiên cứu Đô thị và phát triển Hạ tầng |
Hà Nội |
| 471 |
Nguyễn Trung Chính |
Designer |
|
| 472 |
Ngô Văn Cương |
Nguyên Điều phối viên chương trình Quốc gia – tổ chức CARE Quốc tế tại Việt Nam; Trưởng đại diện tổ chức Phi chính phủ Quốc tế HEKS Thụy Sỹ tại Việt Nam. |
Thụy Sĩ |
| 473 |
KS Hoàng Tiến Cường |
Giao thông |
Hà Nội |
| 474 |
Phạm Ngọc Điệp |
Kỹ sư Công chánh nguyên làm việc tại Hỏa Xa Việt Nam |
TP.HCM |
| 475 |
Đào Việt Dũng |
Cựu chiến binh Việt Nam 1972-1975 tại QK5 |
|
| 476 |
KS Hoàng Giang |
Công ty An Việt Hải Phòng |
Hải Phòng |
| 477 |
KS Nguyễn Thị Hà |
Nông nghiệp |
Hải Phòng |
| 478 |
KS Nguyễn Song Hào |
Xây dựng |
Sơn La |
| 479 |
Nguyễn Văn Hoàng |
Sinh viên Đại học chính qui tốt nghiệp loại khá ra trường đã 5 năm, hiện chưa có việc làm |
Thanh Hóa |
| 480 |
Nguyễn Bích Khê |
Giáo viên |
TP.HCM |
| 481 |
Nhà báo tự do Nguyễn Mạnh Kim |
|
TP.HCM |
| 482 |
Bùi Như Lạc |
Công dân Việt Nam |
|
| 483 |
Lê Lộc |
Cựu sinh viên đấu tranh trong phong trào sinh viên Sài Gòn trước 1975 |
TP.HCM |
| 484 |
TS Đào Thế Long |
Đại tá về hưu |
|
| 485 |
Võ Quang Luân |
|
|
| 486 |
TS Nguyễn Văn Nghi |
Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam |
Hà Nội |
| 487 |
Lê Văn Ngọ |
Cán bộ hưu trí |
Hà Nội |
| 488 |
Hoàng Thị Hạnh Phúc |
Giáo viên THCS Cát Linh, Hà Nội |
Hà Nội |
| 489 |
KS Nguyen Anh Son |
|
USA |
| 490 |
KS Vũ Quyết Thắng |
Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam |
|
| 491 |
Nguyễn Văn Thành |
|
USA |
| 492 |
Đoàn Ngọc Thành |
Dạy học |
TP.HCM |
| 493 |
Ngô Văn Thuận |
|
TP.HCM |
| 494 |
Trần Khang Thụy |
Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Khoa học Kinh tế (CESAIS), Đại học Kinh tế Tp.HCM |
TP.HCM |
| 495 |
KS Lê Nam Triệu |
Kinh tế Xây dựng |
|
| 496 |
KS Trần Văn Tuấn |
|
|
| 497 |
Nguyễn Ánh Tuyết |
Cán bộ C.ty Viễn thông EVN |
Hà Nội |
| 498 |
Nguyễn Trác Chi |
Công dân nước Việt |
TP.HCM |
| 499 |
Võ Hoàng Vinh |
|
USA |
| 500 |
Lê Đức Xuân Vũ |
|
USA |
| 501 |
KS Vũ Lê Minh |
Môi trường |
Hà Nội |
| 502 |
Kenny Khanh Quoc Bui |
Associate Scientist: nghien cuu thuoc suyen, DEY Pharma L.P |
USA |
| 503 |
Luật sư Nguyễn Hữu Liêm |
|
USA |
| 504 |
Nguyen Anh Tuan |
|
Germany |
| 505 |
KS Nguyễn Hữu Bảo Quốc |
Universal Automation, Inc., chuyên ngành Hệ điều hành điện lạnh công-thương nghiệp |
USA |
| 506 |
Nguyễn Mạnh Hùng |
|
Hà Nội |
| 507 |
Huang Ying Jun |
Kỹ sư điện kỹ thuật |
Campuchia |
| 508 |
Lê Thanh Dũng |
|
Hà Nội |
| 509 |
Nguyễn Hữu Đính |
|
Canada |
| 510 |
Nhà văn Ngô Thị Kim Cúc |
Nhà báo |
TP.HCM |
| 511 |
Nhà vănThái Bá Tân |
Dich giả, nguyên phó chủ tịch Hội đồng văn học nước ngoài, Hội nhà văn Việt Nam. |
Hà Nội |
| 512 |
Nguyen Quoc Huy. |
|
USA |
| 513 |
Nhà báo Phạm Trần |
|
USA |
| 514 |
Phan Tan Huy |
Công dân Việt Nam |
TP.HCM |
| 515 |
TS Vũ Ngọc Sơn |
Tin học |
Pháp |
| 516 |
Đỗ Quốc Bảo |
Nghiên cứu sinh |
Pháp |
| 517 |
Pham Huu Uyen |
|
CH SEC |
| 518 |
Nhà báo tự do Trần Thọ Tuấn |
|
Germany |
| 519 |
Nhà báo Huỳnh Sơn Phước |
|
TP.HCM |
| 520 |
Trần Kế Dũng |
Engineering |
Úc |
| 521 |
Nguyễn Thị Nga |
Nông dân |
Đồng Nai |
| 522 |
Nguyễn Văn Chính |
Nhà báo, nhạc sỹ |
Nha Trang |
| 523 |
Nguyễn Hữu Úy |
|
USA |
| 524 |
Trương Đại Nghĩa |
Cựu tù nhân cải tạo |
USA |
| 525 |
BS Vương Thiện Đức |
Bác sĩ thú y |
Đồng Nai |
| 526 |
KS Tran Ngoc Van |
Cơ khí |
Nhật Bản |
| 527 |
KS Nguyen Thi Tin Nu |
Hóa học |
Nhật Bản |
| 528 |
Dương Ngô Cộng Hòa |
Nhân viên văn phòng |
TP.HCM |
| 529 |
KS Trần Trí Dũng |
|
Hà Nội |
| 530 |
Vũ Minh Quân |
Công dân Việt Nam |
TP.HCM |
| 531 |
Nguyễn Văn Báu |
Sinh viên ĐH Xây Dựng HN |
Hà Nội |
| 532 |
Họa sĩ Nguyễn Hùng Sơn |
hội viên Hội Mỹ thuật Việt Nam |
Hà Nội |
| 533 |
GS TS Trần Đình Sử |
|
Hà Nội |
| 534 |
Nguyễn Thị Sen |
Giáo viên |
Thái Bình |
| 535 |
Nguyễn Hà Tịnh |
Automatic Transnmissions Rebuilder |
USA |
| 536 |
Nguyễn Việt Quang |
Công dân yêu nước Việt Nam |
Hải Phòng |
| 537 |
KS Đỗ Thái Bình |
Ủy viên thường trực Ban Chấp Hành Hội KHKT Biển T/P HCM |
TP.HCM |
| 538 |
KS Hoàng Thanh Bình |
|
Hà Nội |
| 539 |
Hoàng Quân |
sinh viên Hillsborough Community College, Tampa, Florida |
USA |
| 540 |
Nguyễn Văn Hùng |
|
TP.HCM |
| 541 |
TS Trần Xuân Nam |
Nguyên Trưởng Khoa VTĐ Trường ĐH Bưu Điện |
Hà Nội |
| 542 |
Đào Phương Hoa |
Cán bộ đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 543 |
KS Nguyễn Doãn Thụy |
|
Canada |
| 544 |
PGS TS Phí Mạnh Hồng |
Cán bộ giảng dạy, Đại học Quốc gia Hà Nội |
Hà Nội |
| 545 |
Nguyễn Kim Thái |
Công dân Việt Nam |
Vũng Tàu |
| 546 |
Phạm Văn Hiền |
Nguyên giảng viên lý luận, trường Chính trị Tô – Hiệu, Hải Phòng đã nghỉ hưu |
Hải Phòng |
| 547 |
Hoàng Ngọc |
|
Úc |
| 548 |
Nguyễn Đình Thắng |
|
TP.HCM |
| 549 |
Hàn Quang Vinh |
|
Hà Nội |
| 550 |
Nguyễn Thị Diệu |
Công dân Việt Nam |
Nam Định |
| 551 |
KS Nguyễn Tuấn Anh |
Máy tàu thủy |
Hải Phòng |
| 552 |
PGS TS Nguyen Thu Linh |
Nguyen giang vien cao cap Hoc vien Hanh chinh |
Hà Nội |
| 553 |
Trần Đăng Ưng |
|
Khánh Hòa |
| 554 |
Từ Anh Tú |
|
Bắc Giang |
| 555 |
KS Hồ Cao Anh Tuấn |
Điện |
TP.HCM |
| 556 |
Trần Ngọc Thạch |
Bán bánh mỳ |
TP.HCM |
| 557 |
Nguyễn Minh Thành |
Sinh viên năm 4 trường Đại Học Kinh Tế TP.HCM |
Bến Tre |
| 558 |
KS Vũ Hải Hồng |
|
Pháp |
| 559 |
Trần Đắc Lộc |
Công dân Việt Nam, cựu giảng viên ĐHKH Huế |
CH SEC |
| 560 |
TS Võ Văn Châu |
Tiến sĩ hóa học, Nghiên cứu |
Pháp |
| 561 |
Nguyễn Văn Tâm |
Kinh doanh |
Đà Nẵng |
| 562 |
Vũ Lê Hoài Bảo |
Công chức nhà nước, Đảng viên CS |
Quảng Bình |
| 563 |
Thường Quán |
|
Úc |
| 564 |
Pham Gia Khanh |
90 tuoi, can bo huu tri |
TP.HCM |
| 565 |
Dương Sanh |
Giáo viên Tiểu học (đã nghỉ việc) |
Khánh Hòa |
| 566 |
Đoàn Nguyên Hồng |
Kỹ sư cơ khí , kỹ sư cấp thoát nước (hồi hưu) |
Úc |
| 567 |
Trần Quốc Túy |
Nguyên kỹ sư hóa học |
|
| 568 |
Phan Bảo Châu |
Nguyên kỹ sư hóa thực phẩm |
|
| 569 |
Nguyễn Khắc Vỹ |
Cán bộ hưu trí, từng tham gia kháng chiến chống Mỹ trên chiến trường Sài Gòn – Chợ Lớn – Gia Định, nguyên Trưởng phòng kiêm Bí thư
Chi bộ Phòng Văn hóa Thông tin Quận 4 TP.HCM, nguyên Giám đôc kiêm Bí thư Chi bô Công ty Nhiếp Ảnh TP.HCM, nguyên Giám đôc kiêm Bí thư đảng ủy Công ty Vafaco TP.HCM |
TP.HCM |
| 570 |
BS Vũ Văn Bến |
Bác sĩ Nhi khoa |
Long An |
| 571 |
Nhà báo Phan Hoàng Tĩnh Xuyên |
|
Đà Lạt |
| 572 |
TS Trần Anh Tuấn |
Tiến sĩ hóa học |
Germany |
| 573 |
Nguyễn Bích Thủy |
NCS Lịch sử mỹ thuật |
Thụy Điển |
| 574 |
Trần Đồng Minh |
Dạy học |
Hà Nội |
| 575 |
Tô Ngọc Trang |
|
Hà Nội |
| 576 |
KS Nguyễn Như Mai |
Địa chất, nhà báo (đã nghỉ hưu) |
Hà Nội |
| 577 |
ThS KS Hoàng Ngọc Liên |
|
Hà Nội |
| 578 |
Nguyễn Hồng Anh |
Điều hành vận tải- Tổng công ty vận tải Hà Nội |
Hà Nội |
| 579 |
Lương Nguyễn Trãi |
Giáo viên THPT |
TP.HCM |
| 580 |
Le Manh Hung |
Kinh doanh tu do |
Phú Thọ |
| 581 |
KS Chu Văn Tiến |
Xây dựng |
Germany |
| 582 |
Nguyễn Phương |
cựu sinh viên Đại học Cần Thơ |
Cần Thơ |
| 583 |
Nhà văn Hoàng Lại Giang |
|
TP.HCM |
| 584 |
Nguyễn Mạnh |
Kinh doanh |
CH SEC |
| 585 |
Võ Thị Quỳnh Giao |
Kinh doanh |
TP.HCM |
| 586 |
Võ Chí Thành |
Giáo viên (đã nghỉ hưu) |
Hà Nội |
| 587 |
Phạm Mai Phương |
|
Hà Nội |
| 588 |
Nguyễn Trọng Thành |
Công dân Việt Nam |
Lithuania |
| 589 |
Nguyễn Bảo Anh |
|
TP.HCM |
| 590 |
Đặng Tiến Hồng |
Cán bộ Quân đội về hưu |
Hà Nội |
| STT |
HỌ TÊN |
NGHỀ NGHIỆP |
NƠI CƯ TRÚ |
| 591 |
Hồ Bá Tình |
Chuyên gia kinh tế |
TP.HCM |
| 592 |
Tu sĩ Thích Huệ Lưu |
|
TP.HCM |
| 593 |
KS Nguyễn Đăng Bảy |
Xây dựng |
Đà Lạt |
| 594 |
Nguyễn Ngọc |
Công an viên |
Hậu Giang |
| 595 |
Lê Văn Xuân |
Cán Bộ hưu trí |
Đăk Lăk |
| 596 |
KS Đỗ Như Ly |
Hưu trí |
TP.HCM |
| 597 |
Lê Đức Tân |
|
Đan Mạch |
| 598 |
BS Phạm Hồng Sơn |
|
Hà Nội |
| 599 |
KS Hồ Thành Công |
|
Germany |
| 600 |
Tăng sĩ Thich Minh Hoa |
|
Đà Lạt |
| 601 |
Nhà báo Phạm Văn Thọ |
|
TP.HCM |
| 602 |
Nguyen-Lang |
|
USA |
| 603 |
Trần Quốc Khánh |
Sinh viên năm 3 đại học Kinh tế |
TP.HCM |
| 604 |
Nguyễn-Khoa Thái Anh |
Nhà giáo, viết văn |
USA |
| 605 |
Đoàn Nghinh Chiến |
Giáo viên. |
TP.HCM |
| 606 |
Nguyễn Mậu Cường |
Giảng viên Đại Học Agostinho Neto, Luanda, Angola |
Angola |
| 607 |
Đặng Ngọc Quang |
|
Hà Nội |
| 608 |
GS TSKH Nguyễn Đông Yên |
Nghiên cứu viên cao cấp Viện Toán học, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam |
Hà Nội |
| 609 |
Phạm Trung |
Nghiên cứu phê bình Mỹ Thuật |
Hà Nội |
| 610 |
TS Vũ Thế Cường |
Cơ Khí |
Germany |
| 611 |
KS Nguyen D Hoat |
Industrial Engineer |
USA |
| 612 |
Vũ Hòa |
Giảng viên đại học ISART |
Pháp |
| 613 |
Trần văn Johnny |
Công nhân kỹ thuật, đã về hưu. Cựu Sĩ Quan VNCH. |
USA |
| 614 |
TS Nguyễn Đồng |
Tài nguyên thiên nhiên, kỹ sư hóa học |
USA |
| 615 |
KS Lý Văn Thanh |
|
Úc |
| 616 |
KS Phạm Hoàng Dũng |
|
TP.HCM |
| 617 |
Hanh Minh Tran |
Library technician |
Úc |
| 618 |
To Minh Chi |
|
Úc |
| 619 |
Emma Tran |
Student |
Úc |
| 620 |
Lan Pham |
Student |
Úc |
| 621 |
Huong Phan |
Electrician |
Úc |
| 622 |
TS Lê Đức Quang |
Giảng viên Đại học Ngoại ngữ (Đại học Huế) |
Huế |
| 623 |
KS Trần Chí Hòa |
|
Úc |
| 624 |
Đào Tấn Phần |
Giáo viên trung học phổ thông |
Phú Yên |
| 625 |
Đỗ Đình Nguyên |
|
TP.HCM |
| 626 |
GS TS Nguyễn Đức Dân |
Ngôn ngữ học, trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn Tp Hồ Chí Minh |
TP.HCM |
| 627 |
Phạm Đình Nguyên |
|
Canada |
| 628 |
Nguyễn Minh Tuấn |
Giảng viên trường Đại học Ngoại ngữ Tokyo |
Nhật Bản |
| 629 |
Hồ Văn Chiến |
|
TP.HCM |
| 630 |
ThS Phạm Quang Tú |
Phát triển nông thôn |
Hà Nội |
| 631 |
Đào Quốc Việt |
|
Hà Nội |
| 632 |
TS Lại Huy Phương |
Đảng viên, nguyên Giám đốc Trung tâm liên ngành Viễn thám & GIS |
Hà Nội |
| 633 |
PGS TS Nguyễn thị Kim Chương |
Đảng viên, nguyên giảng viên Đại học Sư Phạm Hà Nội |
Hà Nội |
| 634 |
Đỗ Anh Pháo |
Cán bộ quản lý DN đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 635 |
TS Nguyễn Ngọc Đức |
Tiến sỹ kinh tế, đã công tác ở Tổng cục thống kê, Văn phòng Chính phủ, Ban nghiên cứu của Thủ tướng Chính phủ; đã nghỉ hưu năm 2006, hiện nay đang sinh hoạt tại Câu lạc bộ Nghiên cứu phát triển thuộc Hiệp hội làng nghề Việt nam. |
Hà Nội |
| 636 |
Đào Công Tiến |
Nguyên hiệu trưởng trường Đại học Kinh tế TP.HCM |
TP.HCM |
| 637 |
Đào Hoài Nam |
giảng viên trường Đại học Kinh tế TP.HCM |
TP.HCM |
| 638 |
Nguyễn Sơn Phong |
Cử nhân kinh tế |
TP.HCM |
| 639 |
Trần Đình Thắng |
Cựu Giảng Viên |
TP.HCM |
| 640 |
KS Lê Xuân Lộc |
|
Đà nẵng |
| 641 |
Phạm văn Lễ |
Kỹ sư Cầu đường |
TP.HCM |
| 642 |
Dương Văn Vinh |
Cựu sĩ quan QĐND |
TP.HCM |
| 643 |
PGS TS Trần Thành Trai |
Nguyên Phân viện trưởng Phân Viện Công Nghệ Thông Tin Tp HCM, nguyên Trưởng khoa Công Nghệ Thông Tin Đại Học Mở Tp HCM |
TP.HCM |
| 644 |
KS Nguyễn Duy Phương |
Cơ khí |
Germany |
| 645 |
Tư Đồ Tuệ |
|
Canada |
| 646 |
Đinh Quang Thể |
|
Hà Nội |
| 647 |
Phạm Thanh Trà |
Sinh viên |
Thụy Sĩ |
| 648 |
Lê thị Thuý Thảo |
|
Đà Nẵng |
| 649 |
Bùi Trọng Tuấn |
Dược sỹ chuyên khoa cấp II chủ tịch hội dược học TP Hải Dương |
Hải Dương |
| 650 |
Nguyễn Huy Canh |
Giáo viên |
Hải Phòng |
| 651 |
Đỗ Thị Hồng Hà |
Giáo viên toán đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 652 |
Hà Dương Tuấn |
Chuyên gia Công Nghệ Thông Tin đã về hưu |
Pháp |
| 653 |
Linh mục Nguyễn Hữu Tiến |
|
USA |
| 654 |
PGS TS La Khắc Hoà |
Dạy học, Khoa Ngữ Văn, ĐHSP Hà Nội |
Hà Nội |
| 655 |
Vũ Cao Đàm |
Cựu viện trưởng, Viện Chính sách KH&CN, Bộ KH&CN |
Hà Nội |
| 656 |
Lê Trọng Nhi |
|
USA |
| 657 |
Nguyễn Nam Tiến |
Cán bộ, đảng viên hiện đang công tác tỉnh Tuyên Quang |
Tuyên Quang |
| 658 |
Do Huyen |
|
Hà Nội |
| 659 |
Lê Bách |
Cán bộ về hưu, tham gia cách mạng từ năm 1947, hơn 50 năm tuổi Đảng |
|
| 660 |
Nhà báo nhà thơ Trần Vũ Long |
Công tác tại báo Văn Nghệ |
Hà Nội |
| 661 |
Nguyễn Quốc Toản |
Sinh viên khoa công nghệ thông tin Đại học Bách khoa TP.HCM |
TP.HCM |
| 662 |
KS Trần Anh Tuấn |
Điện |
Hà Nội |
| 663 |
KS Lê Văn Hùng |
Công nghệ thông tin |
Pháp |
| 664 |
Lâm Văn Lành |
Nhân viên Brocacef |
Hà Lan |
| 665 |
Nguyễn Thế Tuy |
Càn bộ về hưu |
Hà Nội |
| 666 |
Nhà thơ Quốc Toản |
Thượng tá Quân đội, hội viên Hội Nhà văn Hà Nội |
Hà Nội |
| 667 |
Lê Văn Dương |
Sinh viên Đại học Kinh kế luật (ĐHQG TP.HCM) |
TP.HCM |
| 668 |
TS Do Huu Binh |
Giảng viên Đại học |
Úc |
| 669 |
Đào Lê Tiến Sỹ |
Học sinh |
Hà Nội |
| 670 |
Nguyen Viet Bach |
Interprète de français, guide touristique et étudiant en droit à L’Université Motesquieu- Bordeaux 4 |
Pháp |
| 671 |
BS Phạm Quang Hoa |
|
Đà Lạt |
| 672 |
Trần Thị Láng |
Nhà giáo hưu trí |
Hà Nội |
| 673 |
KS Phạm Minh Huệ |
Hóa |
Germany |
| 674 |
Đinh Quang Trung |
Sinh viên |
Hà Nội |
| 675 |
Hà Dương Tường |
Nguyên giáo sư đại học |
Pháp |
| 676 |
Nguyễn Huy Thụy |
Thiết kế, phát triển hệ thống |
Hàn Quốc |
| 677 |
KTS Lê Minh Hải |
Cán bộ nhà nước – đảng viên trẻ |
Hà Nội |
| 678 |
Phạm Văn Minh |
|
Hà Nội |
| 679 |
BS Trần Công Thắng |
|
Nauy |
| 680 |
PGS TS Mạc Văn Trang |
|
Hà Nội |
| 681 |
Nguyễn Quang Minh |
|
Nauy |
| 682 |
Nguyễn Hoàng Phúc |
CCB-phòng Hậu cần, Sư đoàn 302 chiến trường K |
Đà Nẵng |
| 683 |
KS Phạm Minh Đức |
Hoá học |
TP.HCM |
| 684 |
Nguyễn Văn Đông |
Nghề nghiệp tự do |
TP.HCM |
| 685 |
Phùng Hữu Thanh |
|
Hà Nội |
| 686 |
Tran To Nga |
Nhà giao huu tri |
Úc |
| 687 |
Kieu Viet Hong |
cong dan Viet Nam |
Úc |
| 688 |
Kieu Viet Lien |
thiet ke thoi trang |
Úc |
| 689 |
Nguyen Ngoc Lan |
Ky su huu tri |
Úc |
| 690 |
Thai Dung Tam |
Doanh nhan |
Úc |
| 691 |
Thai Dung Trung |
Chuyen vien vi tinh |
Úc |
| 692 |
Nguyen Duc Hung Peter |
|
Nauy |
| 693 |
TSKH Nguyễn Hùng Phong |
Công dân Việt Nam |
Nga |
| 694 |
Nguyễn Thị Minh Toán |
Công chức |
Huế |
| 695 |
Vũ Xuân Túc |
Nguyên cựu chiến binh (giáo viên trường Quân chính QK Tả Ngạn thời kháng chiến chống Mỹ ), nguyên giáo viên dạy chuyên Văn, nguyên Tổ trưởng Tổ Văn trường THPT chuyên Hà Nội- Amsterdam, hiện đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 696 |
Đoàn Văn Tư |
Du học sinh |
Nhật Bản |
| 697 |
Traần Thị Lý |
Nhân viên văn phòng |
TP.HCM |
| 698 |
Nguyễn Đức Trường Giang |
Giáo viên THPT |
Hà Nam |
| 699 |
TS Nguyễn Tiến Thắng |
|
Úc |
| 700 |
Nguyễn Ngọc Hiến |
|
TP.HCM |
| 701 |
Lê Hữu Minh Tuấn |
Sinh viên |
Quảng Nam |
| 702 |
Nguyễn Trung Quốc |
Doanh nhân |
TP.HCM |
| 703 |
ThS Tô Thị Thanh Vân |
Giảng viên Đại học |
Hà Nội |
| 704 |
Phaolô Nguyễn Thái Hợp |
Giám mục Giáo phận Vinh |
Vinh |
| 705 |
Nhà báo Nguyễn Quốc Thái |
|
TP.HCM |
| 706 |
Nhà báo Vương Đình Chữ |
|
TP.HCM |
| 707 |
Đinh Huyền Hương |
Giảng viên hưu trí |
TP.HCM |
| 708 |
Lê Hiển |
Nguyên Tổng thư ký tòa soạn báo Thể Thao TPHCM |
TP.HCM |
| 709 |
KTS Đậu Khắc Thắng |
|
Hà Nội |
| 710 |
Nguyễn Thế Thanh |
Công chức hưu trí |
TP.HCM |
| 711 |
Nguyễn Ngọc Quí |
Kinh doanh |
Tiền Giang |
| 712 |
Nhà văn Văn Giá |
Chủ nhiệm Khoa Viết văn- Đại học Văn hóa |
Hà Nội |
| 713 |
Nguyễn Vũ |
Tư vấn kỹ thuật tự do (freelancer) |
TP.HCM |
| 714 |
Hoang Tung |
kinh doanh du lich |
Hà Nội |
| 715 |
Lê Thị Hồng Hạnh |
Hưu trí |
Hà Nội |
| 716 |
Bùi Công Lương |
Thương binh, nhà giáo Quân đội đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 717 |
Hoàng Hải |
Nông dân |
Bình Dương |
| 718 |
Nguyễn Nam Hưng |
Chuyên viên tư vấn luật |
Hà Nội |
| 719 |
Trần Hồng Quân |
|
TP.HCM |
| 720 |
Hoàng Thanh Linh |
Giảng viên đại học |
TP.HCM |
| 721 |
Võ Thị Thanh Hà |
Giảng viên Đại học |
Hà Nội |
| 722 |
Họa sỹ Nguyễn Trung Chính |
|
Hà Nội |
| 723 |
Lê Văn Trung |
Cử nhân kinh tế, công dân nước Việt Nam, đảng viên Đảng cộng sản |
Quảng Ninh |
| 724 |
Nguyễn Hữu Thao |
Ban liên lạc CCB tại Bungari, cựu quân nhân Ban tham mưu Lữ đoàn F289 BTL Công binh |
Bulgaria |
| 725 |
Nguyễn Xuân Trường |
|
Úc |
| 726 |
KS Ngo Binh Minh |
Viễn Thông |
Hà Nội |
| 727 |
KS Lương Ngọc Châu |
Điện toán |
Germany |
| 728 |
Luật sư Ngô Ngọc Trai |
Thuộc đoàn luật sư tỉnh Nam Định |
Nam Định |
| 729 |
Dương Văn Tú |
Dược sĩ, giảng viên Trường Đại học Dược Hà Nội |
Hà Nội |
| 730 |
Lê Toàn Thắng |
Bộ đội, kỹ sư Địa chất. |
Hà Nội |
| 731 |
Nguyễn Trung Kiên |
|
Hà Nội |
| 732 |
Lê Minh Hằng |
Giám đốc Trung tâm Tư liệu khí tượng thủy văn |
Hà Nội |
| 733 |
Trần Văn Tính |
Designer |
TP.HCM |
| 734 |
Trần Tiến Đức |
Nhà báo truyền hình đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 735 |
Nguyễn Đình Quyền |
NCS tại ĐH Rostock. |
Germany |
| 736 |
TS Trương Phước Lai |
Post-doctorant. Groupe Matériaux Inorganique – GMI. Institut Physique et Chimique des Matériaux de Strasbourg – IPCMS |
Pháp |
| 737 |
Nguyễn Hữu Tâm |
Nghiên cứu Khoa học |
USA |
| 738 |
Lê Hồng Hà |
Công nhân |
USA |
| 739 |
ThS Lương Lê Giang |
Làm báo, dịch giả |
Hà Nội |
| 740 |
Trần Ngọc Tụ |
Hàng không, cơ Khí |
Germany |
| 741 |
TS Trần Diệu Chân |
Kinh tế |
USA |
| 742 |
Trần Chiến |
kirchenstr 25 |
Germany |
| 743 |
Nguyễn Minh Khang |
CNTT |
TP.HCM |
| 744 |
KS Nguyễn Văn Hòa |
Ngành Năng lượng |
Germany |
| 745 |
PGS TS Hà Thuc Huy |
Dai hoc Khoa hoc Tu nhien TP.HCM |
TP.HCM |
| 746 |
TS Lê Văn |
Tiến sỹ vật lý ĐHSPHN, đã nghỉ hưu |
TP.HCM |
| 747 |
Dương Tự Lập |
|
Germany |
| 748 |
Nguyễn Hữu Dõng |
Hưu trí |
USA |
| 749 |
Do Huy Vu |
Công nhân |
USA |
| 750 |
Bùi Xuân Bách |
Nhà giáo nghỉ hưu |
USA |
| 751 |
Đặng Quốc Hòa |
|
TP.HCM |
| 752 |
Nhà thơ Hoàng Gia Cương |
Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội |
Hà Nội |
| 753 |
Trương Tấn Hồng Phúc |
|
Úc |
| 754 |
KS Trịnh Văn Hoãn |
Nghỉ hưu |
Hải Phòng |
| 755 |
Pham Chi Mai |
dang vien Dang CSVN, nguyen giang vien DH Ngoai ngu -DHQG HN |
Hà Nội |
| 756 |
Nhà văn Đặng Văn Sinh |
Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam, viết văn, dịch sách |
Hải Dương |
| 757 |
GS TSKH Nguyễn Hữu Việt Hưng |
Giảng viên Cao cấp ĐHQG Hà Nội, Phó Chủ tịch Phụ trách Quan hệ Quốc tế Hội Toán học Việt Nam |
Hà Nội |
| 758 |
KS Hoàng Quốc Nam |
Cán bộ cơ quan nhà nước |
Hà Nội |
| 759 |
Giang Nguyen |
Nghien cuu vien |
Úc |
| 760 |
Nhà báo Nguyễn Văn Hải |
Nguyên Trưởng phân xã TTXVN tại tỉnh Tiền Giang |
Tiền Giang |
| 761 |
KS Nguyễn Văn Lợi |
doanh nhân |
Hà Tĩnh |
| 762 |
Trần Hữu Hiếu |
Buôn bán |
TP.HCM |
| 763 |
Lê Hùng Cường |
|
Thanh Hóa |
| 764 |
Nguyễn Đỗ Hà Giang |
du học sinh tại Mỹ |
USA |
| 765 |
KS Nguyễn Minh Nhật |
|
TP.HCM |
| 766 |
Võ Thanh Phong |
Giáo viên |
An Giang |
| 767 |
Chu Mạnh Chi |
Giảng viên |
Đà Lạt |
| 768 |
Phạm Vĩnh Cư |
Cán bộ nghiên cứu đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 769 |
KS Phan Hoàn Việt |
Xây dựng |
Hà Nội |
| 770 |
Đỗ Huyền |
Một người dân bình thường ở Hà Nội |
Hà Nội |
| 771 |
TS Nguyễn Quang Hưng |
Giảng dạy đại học và NCKH |
Hà Nội |
| 772 |
KS Trần Thanh Tùng |
Doanh nhân |
Hải Phòng |
| 773 |
Lê Hương Hương |
Hưu trí |
Hà Nội |
| 774 |
KS Bùi Tuấn Anh |
Công tác tại Tổng công ty xây lắp Dầu khí Nghệ An |
Vinh |
| 775 |
Kỹ sư Nguyễn Ngọc Hải |
|
Vũng Tàu |
| 776 |
Nhà văn Nguyễn Quang Thân |
|
TP.HCM |
| 777 |
Nhà văn Dạ Ngân |
|
TP.HCM |
| 778 |
KS Nguyễn Hữu Tuyến |
Đã nghỉ hưu |
TP.HCM |
| 779 |
ThS KTS Huỳnh Quốc Hội |
Xây dựng |
Quảng Nam |
| 780 |
Ngô Thùy Linh |
|
Phú Thọ |
| 781 |
KTS Phạm Duy Bình |
|
Hà Nội |
| 782 |
Than Thi Thien Huong |
Social Development Sector Manager |
Hà Nội |
| 783 |
Hà Hiển |
Blogger |
Hà Nội |
| 784 |
Mai Đăng Thành |
|
TP.HCM |
| 785 |
Vũ Nhật Thu |
|
Hà Nội |
| 786 |
KS Tran Van Tan |
|
Germany |
| 787 |
Phạm Mạnh Hùng |
Lao động tự do |
Yên Bái |
| 788 |
Nguyễn Khăc Mai |
Cán bộ đã hưu trí |
Hà Nội |
| 789 |
Trần Thị Băng Thanh |
Cán bộ đã hưu trí |
Hà Nội |
| 790 |
Nguyễn Xuân Hoài |
Bộ đội phục viên, phiên dịch, nghỉ hưu |
TP.HCM |
| 791 |
Trần Thúy Mai |
Biên tập viên – Đài Truyền hình Việt Nam |
Hà Nội |
| 792 |
Linh mục Hoàng Minh Giám |
|
Nam Định |
| 793 |
ThS Trần Hùng Thắng |
Giáo viên |
Vĩnh Phúc |
| 794 |
PGS TS Huỳnh Thế Phùng |
Trường ĐHKH Huế |
Huế |
| 795 |
Nguyễn-Quang-Tiền |
|
Hà Lan |
| 796 |
Pham Thanh Sang |
Chuyen vien Dien toan |
Pháp |
| 797 |
PGS TS Phạm Đức Nguyên |
|
Hà Nội |
| 798 |
Nhà báo Phạm Tư Thanh Thiện |
Nguyên Phó ban Việt ngữ đài RFI |
Pháp |
| 799 |
Nguyễn Thái Sơn |
Co van khoa hoc va ngoai giao Han Lam Vien Dia chinh Tri Paris |
Pháp |
| 800 |
Lê Mạnh Chiến |
Cựu giảng viên |
Hà Nội |
| 801 |
Nguyễn Ngọc Như Quỳnh |
Blogger mẹ Nấm, điều hành du lịch |
Nha Trang |
| 802 |
Lê Văn Tuynh |
Hướng dẫn viên du lịch |
Bình Thuận |
| 803 |
Lê Công Giàu |
Nguyên Phó Bí thư Thành đoàn TP HCM, nguyên Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đàu tư TP HCM |
TP.HCM |
| 804 |
Họa sỹ Huỳnh Kim Báu |
Nguyên Tổng Thư ký Hội Trí thức yêu nước TP HCM |
TP.HCM |
| 805 |
Hồ Thanh |
Nguyên Giám đốc trường Phát thanh – Truyền hình Trung ương II |
TP.HCM |
| 806 |
Nhà báo Nguyễn Lê Thu An |
|
TP.HCM |
| 807 |
GS Y học Phạm Hoàng Phiệt |
|
TP.HCM |
| 808 |
TS Hồ Văn Bính |
|
Ba Lan |
| 809 |
Massmann Thi Kim Vàng |
Hưu trí |
Germany |
| 810 |
TS Nguyễn Tiến Dũng |
Nguyên Giảng viên Đại học, Ủy viên BCH Hội Tự động hóa Việt Nam |
Hà Nội |
| 811 |
PGS TS Vu Trong Khải |
Chuyên gia kinh tế nông nghiệp và PTNT |
TP.HCM |
| 812 |
PGS TS Võ Đắc Bằng |
Vật lý Hạt nhân |
Hà Nội |
| 813 |
TS Đặng Trọng Khánh |
|
Hà Nội |
| 814 |
Nhà báo Nguyễn Thuý Hoàn |
|
Hà Nội |
| 815 |
Hoàng Diệu |
Hội viên Hội nhà báo Việt Nam. Hội viên Hội cựu chiến binh việt nam |
Hà Tĩnh |
| 816 |
PGS TS Đoàn Phan Tân |
Nguyên Phó hiệu trưởng Trường Đại học Văn hóa |
Hà Nội |
| STT |
HỌ TÊN |
NGHỀ NGHIỆP
|
NƠI CƯ TRÚ |
| 817 |
GS TSKH Trần Mạnh Trí |
Nguyên Viện trưởng Viện Công nghệ Hóa học thuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam |
TP.HCM |
| 818 |
Nhà thơ Dương Tường |
dịch giả |
Hà Nội |
| 819 |
Lại Nguyên Ân |
Nghiên cứu văn học |
Hà Nội |
| 820 |
Nguyễn Kỳ Nam |
|
Bỉ |
| 821 |
Le Ngoc Son |
Công dân Việt Nam |
Vũng Tàu |
| 822 |
Lê Ngọc Bôn |
Chuyên viên điện tử về hưu |
Úc |
| 823 |
Lê Phan Anh Thư |
chuyên viên của Trung tâm Hợp tác Quốc tế Thành phố Huế (nguyên là Phòng Đối ngoại của TP) |
Huế |
| 824 |
Cao Thị Vũ Hương |
|
Hà Nội |
| 825 |
Trần Văn Thông |
Doanh nhân |
Nghệ An |
| 826 |
KS Nguyễn Ngọc Đồng |
Xây dựng |
Hà Nội |
| 827 |
KS Đào Văn Minh |
|
Hà Nội |
| 828 |
KS Nguyễn Thành Vinh |
Cầu đường |
Đà Nẵng |
| 829 |
Châu Vũ Hoàng |
|
Hà Nội |
| 830 |
TS Nguyễn Văn Hải |
Cán bộ hưu trí |
Hà Nội |
| 831 |
KS Lê Tấn Toàn |
Nhiệt lạnh |
TP.HCM |
| 832 |
Nguyễn Thanh Bình |
Kinh doanh |
Germany |
| 833 |
Nguyễn Khoa |
Sinh viên |
Germany |
| 834 |
Trần Thị Nga |
Công dân Việt Nam |
Hà Nam |
| 835 |
KS Dương Quang Minh |
Cầu đường |
Huế |
| 836 |
KS Lê Lê |
Làm việc tại nhà máy lọc dầu Chevron Anh Quốc |
Anh |
| 837 |
Nguyễn Thị Thảo |
Nghiên cứu viên |
Hà Nội |
| 838 |
Hồ Văn Nhãn |
Thầy giáo hưu trí |
TP.HCM |
| 839 |
Lê Triệu Phong |
Nghiên cứu viên. Viện công nghệ thông tin và truyền thông Nhật Bản (NICT) |
Nhật Bản |
| 840 |
Phan Ngọc Tiến |
Công nhân |
Hà Nam |
| 841 |
KS Hoàng Hiếu Minh |
Cơ khí |
Hà Nội |
| 842 |
Tran Thien Huong |
Ky thuat vien dien tu, lam viec tai hang PerkinElmer |
Germany |
| 843 |
Nguyễn Đức Quỳ |
Công dân Việt Nam |
Hà Nội |
| 844 |
Lê Thị Xuân |
|
USA |
| 845 |
Nguyễn Ngọc Phước |
|
USA |
| 846 |
Phan Văn Phong |
Công dân Việt Nam |
Hà Nội |
| 847 |
Nguyễn Hữu Bảo Long |
Civil Engineer |
USA |
| 848 |
KS Nguyễn Hùng |
Phần mềm |
Úc |
| 849 |
Phan Châu Thành |
Sinh viên |
TP.HCM |
| 850 |
TS Tran Anh Tu |
Nganh Luyen kim tai Truong Dai hoc Sheffield, Vuong quoc Anh (can bo Khoa luyen kim & Cong nghe Vat lieu, Truong dai hoc Bach khoa Ha Noi) |
Anh |
| 851 |
KS Nguyễn Công Đức |
Điện tử |
USA |
| 852 |
GS TS Vu Tuan |
Nha giao nhan dan da nghi huu cua truong Dai hoc su pham Ha noi |
Hà Nội |
| 853 |
Mai quốc Đạt |
Sinh viên |
Nhật Bản |
| 854 |
Phạm Ngọc Luật |
Viết báo, viết văn |
Hà Nội |
| 855 |
Hoang-Trong Minh Tuan |
Nghien cuu sinh |
USA |
| 856 |
TS Hoàng Văn Hoan |
Viên chức |
Hà Nội |
| 857 |
Nguyễn Quang Đạo |
Cựu chiến binh |
Hà Nội |
| 858 |
Nhà thơ Vi Lãng |
|
Úc |
| 859 |
KS Phạm Linh Sơn |
Xây dựng |
Hải Dương |
| 860 |
Mai-Kha Le |
|
USA |
| 861 |
Andy Tran |
Vice President & General Manager |
USA |
| 862 |
Dao Nguyen Ngoc |
kinh doanh |
Germany |
| 863 |
KS Đào Văn Bính |
|
Hà Nội |
| 864 |
Nguyễn Hữu Cầu |
Nhà giáo nghỉ hưu |
Canada |
| 865 |
BS Võ Văn Cần |
Hưu trí |
Canada |
| 866 |
Nguyễn Kim Sơn |
|
Germany |
| 867 |
Vu Xuan Khoat |
Hop tac Lao dong tai Cong Hoa Lien Bang Duc |
Germany |
| 868 |
Hung Trung Nguyen |
|
USA |
| 869 |
Đinh Huỳnh Hiếu Nghĩa |
Giám đốc cty TNHH (ngoài quốc doanh), Cử nhân khoa học |
TP.HCM |
| 870 |
Phạm Văn Lộc |
Alcohol and Drugs Counsellor, Problem Gambler Counsellor (Nhân viên tư vấn cai nghiện rượu và các ma-túy; cai nghiện cờ bạc) |
Úc |
| 871 |
BùI Văn Hơn |
Master of Software Engineering, Project Manager |
Bỉ |
| 872 |
Nguyễn Vinh Sơn |
Đạo diễn điện ảnh |
TP.HCM |
| 873 |
Khanh Đỗ |
Cử nhân kinh tế |
USA |
| 874 |
KS Lê Anh |
Hệ thống điện |
Quảng Ninh |
| 875 |
Luong Nguyen Khoa Truong |
|
Hà Nội |
| 876 |
Nguyễn Văn Nho |
giáo viên Toán ĐHSP Đà Nẵng trước 1999, sau đó, BTV Nhà Xuất bản Giáo dục. Hiện đang dạy học (tư), viết sách, và làm thêm việc biên tập Toán |
Đà Nẵng |
| 877 |
Vũ Văn Tác |
Viện Hải dương học |
Nha Trang |
| 878 |
Lâm Tuấn Hưng |
|
Hà Nội |
| 879 |
Mai Nhật Đăng |
Học sinh |
Nhật Bản |
| 880 |
Huỳnh Tấn Vinh |
Doanh nhân |
Đà Nẵng |
| 881 |
Lê Minh Hiếu |
Nhân viên ngân hàng Agribank |
TP.HCM |
| 882 |
Hà Quốc Anh |
Kiểm toán viên |
Singpore |
| 883 |
KS Nguyễn Quang Chử |
Chế tạo máy, đã nghỉ hưu |
Hải Dương |
| 884 |
Vo – Quang – Tu |
Huu tri |
Canada |
| 885 |
Trần Vân Mai |
Chuyên gia sinh học phân tử |
USA |
| 886 |
Phạm Hồng Cường |
|
Hàn Quốc |
| 887 |
Lê Phú Lâm |
Cử nhân Điện tử – Viễn thông |
Nam Định |
| 888 |
Bùi Hữu Tường |
|
Germany |
| 889 |
Nguyễn Đ. Quyền |
Kinh doanh |
USA |
| 890 |
TS KS Trần Quang Ngọc |
Điện |
Germany |
| 891 |
Trần Thanh Trúc |
Luyện kim |
Vũng Tàu |
| 892 |
Linh mục Đinh Hữu Thoại |
Dòng Chúa Cứu Thế |
TP.HCM |
| 893 |
KTS Đinh Minh Hùng |
|
Hà Nội |
| 894 |
Huỳnh Công Minh |
|
Nhật Bản |
| 895 |
Nguyễn Công Hoan |
Cử nhân kinh tế |
Hà Nội |
| 896 |
Cao Hải Quân |
Cử nhân kinh tế |
Hà Nội |
| 897 |
Họa sĩ Đặng Trường Lưu |
Nhà Phê Bình Mỹ Thuật , Hội viên Hội Mỹ Thuật Việt Nam , Hội viên Hội nhà báo Việt Nam , Hội viên Hội Cựu chiến binh Việt Nam |
Hà Nội |
| 898 |
KS Trần Trung Hiếu |
Thủy lợi |
Hà Nội |
| 899 |
Đinh Văn Thành |
|
TP.HCM |
| 900 |
ThS Teresa Nguyễn Thị Bạch Lý |
Năm 1980 là Đại Biểu Thanh Niên Việt Nam tại Liên Hoan Ca Khúc Chính Trị tại Berlin Cộng Hòa Dân Chủ Đức. |
TP.HCM |
| 901 |
BS Nguyễn Anh Huy |
Nhà nghiên cứu tiền cổ |
Huế |
| 902 |
TSKH Huỳnh Văn Ngãi |
Giảng viên đại học |
Quy Nhơn |
| 903 |
Ths Trần Phục Hưng |
|
Thái Lan |
| 904 |
Lưu Thị Vân Anh |
|
Hà Nội |
| 905 |
KS Ho Viet Hoai |
|
Hà Nội |
| 906 |
Lưu Chí Khang |
Sinh Viên |
Đà Nẵng |
| 907 |
Võ Quang Vinh |
|
TP.HCM |
| 908 |
Nguyễn Tiến Dũng |
Kinh doanh |
Nghệ An |
| 909 |
Đào Anh Trung |
Sinh viên trường Cao đẳng Kỹ thuật Lý Tự Trọng |
TP.HCM |
| 910 |
Lý Nhân Nguyên |
IT specialist |
Canada |
| 911 |
Nhà báo Trương Ngọc Chương |
|
Đà Nẵng |
| 912 |
KS Trương Khánh Ngọc |
Xây dựng |
TP.HCM |
| 913 |
Ho Le Khoa |
Chuyen vien phan mem |
Úc |
| 914 |
Lê Thị Kiểm |
|
Germany |
| 915 |
Nguyễn Mạnh Trường |
Công chức |
Canada |
| 916 |
Gloria Nguyen |
Y ta |
USA |
| 917 |
Kevin Nguyen |
Hoc sinh |
USA |
| 918 |
Cliff Le |
Chuyen gia tam ly |
USA |
| 919 |
Michelle Ngo |
Chuyen vien ky thuat |
USA |
| 920 |
Vu Mong Huong |
ve huu |
USA |
| 921 |
Catherine Le |
Hoc sinh |
USA |
| 922 |
Vũ Vân Sơn |
Phiên dịch và biên dịch tuyên thệ cho toà án và công chứng bang Berlin, CHLB Đức |
Germany |
| 923 |
Giang Nguyen |
Hoa hoc gia |
USA |
| 924 |
Vũ Văn Tú |
|
Đồng Nai |
| 925 |
Tri Van Le |
|
USA |
| 926 |
TS Vũ Thế long |
Giảng dạy và nghiên cứu, giảng dạy về lịch sử con người và văn hóa. Nghiên cứu lịch sử ăn uống và viết báo |
Hà Nội |
| 927 |
KS Phạm Đình Du |
Cơ khí |
Đà Nẵng |
| 928 |
Nguyễn Tiến Nam |
Kỹ thuật |
Hà Nội |
| 929 |
Phạm Bảo Hoàng |
Bộ giao thông tiểu bang California |
USA |
| 930 |
PGS TS Đinh Bá Trụ |
Nguyên giảng viên cao cấp Đại học |
Hà Nội |
| 931 |
Duong Quoc Cuong |
Buôn bán tự do |
Germany |
| 932 |
Dinh Tri |
Huu tri |
USA |
| 933 |
Dinh Hong Phuc |
Sinh vien nganh Y |
USA |
| 934 |
Dinh Tai Duc |
Sinh vien Y Khoa |
USA |
| 935 |
Dinh quang Minh |
Sinh vien Duoc Khoa |
USA |
| 936 |
Lương Đình Cường |
Tổng biên tập Báo điện tử NguoiViet.de |
Germany |
| 937 |
Nguyen Hoang Sang |
Cong nhan |
Germany |
| 938 |
GS TS Nguyễn Đức Nhuận |
Hưu trí |
Pháp |
| 939 |
Nguyen Ngoc Quang |
|
Thụy Sĩ |
| 940 |
Tran Thi Truc Mai |
Nhan vien xa hoi |
Úc |
| 941 |
KS Võ Trường Thi |
Xây dựng |
TP.HCM |
| 942 |
Võ Đức Ban |
|
TP.HCM |
| 943 |
PGS TS Nguyễn Ngọc Thoa |
Đại Học Y Dược |
TP.HCM |
| 944 |
BS Đinh Văn Hương |
|
Vũng Tàu |
| 945 |
Lưu Việt Anh |
Nhân viên ngành chứng khoán |
Hà Nội |
| 946 |
Nguyễn Quốc Ân |
Cựu sỹ quan Binh đoàn 678, cán bộ hưu trí |
Hà Nội |
| 947 |
Trần Xuân Sơn |
Design for printing |
Hà Nội |
| 948 |
Nguyen Thi Mai |
Nguyen giao vien truong Nguyen Sieu |
USA |
| 949 |
KS Dat Nguyen |
Điện |
USA |
| 950 |
Hoàng Mạnh Toàn |
Phát triển web |
Hà Nội |
| 951 |
Nhà báo Lưu Trọng Bình |
Nghỉ hưu |
TP.HCM |
| 952 |
Cảnh Giang |
Thi sỹ – nhiếp ảnh gia – hội viên Hội Di sản Văn hóa Việt Nam. Hội viên Hội VHNT Quảng Bình |
Quảng Bình |
| 953 |
Phan Van Hieu |
Nghien cuu sinh |
USA |
| 954 |
Vũ Hồng Phong |
Hành nghề tự do |
TP.HCM |
| 955 |
Ngo Thi Diem Hang |
|
Úc |
| 956 |
Nguyễn Hữu Minh |
Dược sỹ đại học |
TP.HCM |
| 957 |
KS Nguyễn Lân Thắng |
Xây dựng |
Hà Nội |
| 958 |
Nguyễn Văn Dũng |
|
Phú Thọ |
| 959 |
ThS Bùi Quang Thắng |
Quản trị Kinh doanh, cán bộ Đoàn TNCS HCM |
Hà Nội |
| 960 |
Nguyen Hien |
Du hoc sinh |
Pháp |
| 961 |
Pham Van Dat |
Cử nhân Ngoại ngữ |
Hải Phòng |
| 962 |
Võ Minh Châu |
Công dân Việt Nam |
Vũng Tàu |
| 963 |
TS Trần Hải Hạc |
Nhà nghiên cứu kinh tế học |
Pháp |
| 964 |
Lâm Thị Ngọc |
Giáo viên Tiếng Anh Trường THPT Ngọc Lặc |
Thanh Hóa |
| 965 |
Tran Dan |
|
Ba Lan |
| 966 |
Nhà văn Nguyen Thi Ngoc Trai |
nha hoat dong nhan dao |
Hà Nội |
| 967 |
Lê Thị Minh |
Cán bộ hưu trí |
Hà Nội |
| 968 |
KS Trần Gia Luật |
Công nghệ thông tin |
TP.HCM |
| 969 |
Nguyễn Hữu Tế |
|
TP.HCM |
| 970 |
KS Lê Văn Hiệu |
|
TP.HCM |
| 971 |
Nguyễn Thanh Dòng |
Doanh nhân |
Quảng Trị |
| 972 |
Bùi Phan Thiên Giang |
Chuyên viên mạng máy tính. |
TP.HCM |
| 973 |
Huỳnh Ngọc Hồ |
|
TP.HCM |
| 974 |
KS Đặng Ngọc Thắng |
Kinh doanh |
Hà Nội |
| 975 |
Thái Văn Dung |
Sinh viên |
Hà Nội |
| 976 |
Nguyễn Việt Anh |
Cử nhân kinh tế- Doanh nhân |
Hà Nội |
| STT |
HỌ TÊN |
NGHỀ NGHIỆP |
NƠI CƯ TRÚ |
| 977 |
Họa sĩ Nguyên Hạo |
|
TP.HCM |
| 978 |
Trần Hưng Đoàn |
Nguyên Tổng giám đốc cty SAVIMEX |
TP.HCM |
| 979 |
Luật sư Phan Thanh Huân |
|
TP.HCM |
| 980 |
Ngô Văn Phương |
Huynh trưởng hướng đạo, nguyên đại biểu HĐNDTPHCM |
TP.HCM |
| 981 |
Hồ Ngọc Thuận |
Nguyên giám đốc chính trị nhật báo Tin Sáng, hiện là ủy viên T.U MTTQVN, Phó CT UBMTTQVN |
TP.HCM |
| 982 |
Bùi Tiến An |
Huynh trưởng hướng đạo, cựu tù chính trị Côn Đảo |
TP.HCM |
| 983 |
Nhà văn Trần Nhương |
Họa sĩ |
Hà Nội |
| 984 |
Nhà văn Tô Nhuận Vỹ |
|
Huế |
| 985 |
Vương Toàn Thức |
Doanh nhân |
Hà Nội |
| 986 |
KS Lưu Văn Thêm |
Kinh doanh, nông học |
Hà Nội |
| 987 |
KS Lê Đức Cẩm |
Tự động hóa |
Vũng Tàu |
| 988 |
TS Lê Thị Chiêng |
Nguyên giảng viên trường Đại học Văn hóa Hà Nội |
Hà Nội |
| 989 |
Tạ Đắc Thường |
Làm ruộng |
Hà Nội |
| 990 |
Nguyễn Thủy |
Nghiên cứu sinh |
USA |
| 991 |
KS Phạm Quang Tuấn |
Công nghệ thông tin |
TP.HCM |
| 992 |
Nguyễn Khánh |
Dịch thuật |
TP.HCM |
| 993 |
Trịnh Ngọc Tùng |
Lập trình viên |
Thanh Hóa |
| 994 |
Nguyễn Đình Nam |
Tốt nghiệp trường Đại học Bách khoa Hà Nội |
Hà Nội |
| 995 |
KS Bùi Thái Sơn |
|
Germany |
| 996 |
Vũ Vinh An |
Công nhân |
Úc |
| 997 |
Trần Hiếu |
Chuyên viên Tâm lý xã hội |
USA |
| 998 |
Tran Mai Sinh |
Công dân Việt Nam |
Germany |
| 999 |
KS Nguyen Duc Quyet |
Xây dựng |
Germany |
| 1000 |
Lê Sơn |
Architecte DPLG |
Pháp |
| 1001 |
Phan Văn Cự |
|
Hà Nội |
| 1002 |
Văn Ngọc Tâm |
Hưu trí, nguyên cán bộ công tác tại Phòng Văn hóa và Thông tin quận Phú Nhuận, đảng viên đảng cộng sản Việt Nam, huy hiệu 30 năm tuổi đảng |
TP.HCM |
| 1003 |
Trần Hiệp Khánh |
Journeyman technician electronic |
USA |
| 1004 |
KTS Nguyễn Văn Tất |
|
TP.HCM |
| 1005 |
Vũ Thế Thành |
|
TP.HCM |
| 1006 |
Luật sư Nguyễn Hữu Danh |
Đoàn luật sư TP.HCM |
TP.HCM |
| 1007 |
TS Nguyen Van Son |
Nghien cuu Cong nghe Nano |
USA |
| 1008 |
Lâm Thanh Định |
Giáo viên |
Đồng Nai |
| 1009 |
KS Trần Cao Phong |
Kinh tế XD, đảng viên ĐCS |
Hà Nội |
| 1010 |
Phạm Khiêm Ích |
Nghiên cứu khoa học |
Hà Nội |
| 1011 |
Nguyen Nhien |
|
Huế |
| 1012 |
Đỗ thị Ngọc Oanh |
Công dân Việt Nam, kinh doanh tự do |
TP.HCM |
| 1013 |
KS Nguyễn Ngọc Cúc |
Điện |
Bình Dương |
| 1014 |
Phù Minh Kim Quyên |
Kế toán |
Khánh Hòa |
| 1015 |
Phạm Trung Hiếu |
Tài chính – đầu tư |
TP.HCM |
| 1016 |
KS Nguyễn Đúc Hùng |
Cơ điện |
Hà Nội |
| 1017 |
Ngô Văn Phát |
|
Germany |
| 1018 |
Le Van Quang |
Doanh nghiep tu nhan |
TP.HCM |
| 1019 |
Võ Tá Luân |
|
TP.HCM |
| 1020 |
ThS Nguyễn Thị Kim Ngân |
Kinh tế và Quản lý công |
Hà Nội |
| 1021 |
KS Nguyễn Vũ Thạch |
Điện |
TP.HCM |
| 1022 |
Nguyễn Văn Dũng |
|
Germany |
| 1023 |
KS Vũ Anh Tuấn |
Giao thông |
Hà Nội |
| 1024 |
Huỳnh Thị Minh Bài |
Cán bộ hưu trí, thương binh, chiến sĩ cách mạng bị bắt, tù đày |
Quy Nhơn |
| 1025 |
Nguyễn Kế Hoàng Minh |
Chuyên viên tư vấn tài chính |
TP.HCM |
| 1026 |
Nguyễn Hoàng Phương Chi |
Chuyên viên nhân sự |
Quy Nhơn |
| 1027 |
Nguyễn Xuân Toàn |
Sinh viên |
Hà Nội |
| 1028 |
KS Nguyễn Xương |
Chế tạo máy |
Germany |
| 1029 |
Nghiêm Sĩ Cường |
Cử nhân kinh tế |
Hà Nội |
| 1030 |
KS Trần Minh Phát |
Điều khiển tàu biển |
Đồng Nai |
| 1031 |
Nguyễn Dương |
Công nhân |
USA |
| 1032 |
Phạm Hoài Thương |
|
Bình Thuận |
| 1033 |
Đào Kiến Quốc |
Phó Giám đốc Trung tâm Ứng dụng Công nghệ Thông tin, Đại học Quốc gia Hà Nội |
Hà Nội |
| 1034 |
KS Lê Quang Khải |
Viễn thông |
TP.HCM |
| 1035 |
Nguyễn Thúy Hạnh |
|
Hà Nội |
| 1036 |
Nguyễn Đức Sắc |
|
Hà Nội |
| 1037 |
Nguyễn Thị Lưu |
|
Hà Nội |
| 1038 |
Nguyễn Đức Trung |
|
Hà Nội |
| 1039 |
Nguyễn Đức Duy Anh |
|
Hà Nội |
| 1040 |
Dương Văn Tới |
Kinh doanh |
USA |
| 1041 |
Khương Quang Đính |
Chuyên gia CNTT |
Pháp |
| 1042 |
KTS Trần Minh Châu |
|
Singapore |
| 1043 |
KS Đỗ Quang Nghĩa |
Điện tử |
Germany |
| 1044 |
KS Đỗ Quang Tuyền |
|
USA |
| 1045 |
Vuong Chi Dung |
Kinh doanh |
CH SEC |
| 1046 |
Phan H. Giang, Ph.D. |
George Mason University. Department of Health Administration and Policy. College of Health and Human Services |
USA |
| 1047 |
KS Trưong Như Thanh Long |
Xây dựng |
TP.HCM |
| 1048 |
Le Thanh Hiep |
|
TP.HCM |
| 1049 |
Nhà báo Phạm Mỹ Dung |
|
Quảng Nam |
| 1050 |
KS Dang Anh Tuan |
Hóa học |
USA |
| 1051 |
GS TS Nguyễn Thừa Hợp |
Trường Đại học Khoa học Tự nhiên Hà Nội, đã nghỉ hưu |
Hà Nội |
| 1052 |
KS Phạm Quốc Việt |
Điện |
Kiên Giang |
| 1053 |
Văn Lạc |
Hội viên Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Bình |
Quảng Bình |
| 1054 |
Joseph Le |
CPA of Australia |
Úc |
| 1055 |
TS Phạm Văn Hội |
Đại học Nông nghiệp Hà Nội |
Hà Nội |
| 1056 |
KS Phạm Mạnh Hùng |
Xây dựng |
Hà Nội |
| 1057 |
KS Thái Anh Hoa |
Cơ khí |
USA |
| 1058 |
Bach long Giang |
|
Hà Nội |
| 1059 |
KTS Nguyễn Ngọc Tuấn |
|
TP.HCM |
| 1060 |
Nguyễn Trung Hiếu |
|
Hà Nội |
| 1061 |
Phí Thị Hồng Hạnh |
Nhân viên kinh doanh |
Hà Nội |
| 1062 |
Ngo Xuan Dao |
Chuyen vien ky thuat – nganh dau khi |
Vũng Tàu |
| 1063 |
Nguyễn Duy Trung |
Giáo viên nghỉ hưu, 86 tuổi đời, 60 năm tuổi đảng |
Hà Nội |
| 1064 |
Lê Thanh Trường |
PV Đài PTTH Đà Nẵng |
Đà Nẵng |
| 1065 |
Phan Trọng Khang |
Thương binh 2/4 hạng A |
Hà Nội |
| 1066 |
KS Nguyễn Hoàng Lâm |
Xây dựng |
TP.HCM |
| 1067 |
ThS Bùi Thị Hoa Lan |
Chuyên ngành “Tài chính và Lưu thông tiền tệ” |
Hải Phòng |
| 1068 |
Tran Thi Thanh Loan |
|
TP.HCM |
| 1069 |
Nguyễn Phan Anh |
Nhân viên hãng tàu biển APL |
Hà Nội |
| 1070 |
PONGTANIT SOMKIT |
Businessman |
Thái lan |
| 1071 |
Võ Thanh Hòa |
Công dân TP.HCM |
TP.HCM |
| 1072 |
Lê Ngọc Anh |
Sinh viên |
Hà Nội |
| 1073 |
Hoang-Schweizer Thi Binh |
|
Germany |
| 1074 |
Võ Xuân Quảng |
Công dân Việt Nam |
Quảng Nam |
| 1075 |
Nguyễn Quốc Dũng |
Cựu giảng viên tại trường Mt Hood Community College. Hiện là chuyên viên đầu tư ngành địa ốc |
USA |
| 1076 |
Hoàng Chiến |
Công dân Việt Nam |
Germany |
| 1077 |
Ðào Thị Ngọc Trâm |
|
TP.HCM |
| 1078 |
Ngô Hoàng Hưng |
Kinh doanh |
TP.HCM |
| 1079 |
Nguyễn Hồng Việt |
Giám đốc Cty tư vấn quản lý |
TP.HCM |
| 1080 |
Đinh Duy Tân |
Nguyên Giám đốc Công ty InnovGreen Kon Tum, Thư ký riêng kiêm Trợ lý chủ tịch HĐQT tập đoàn kinh tế Trường Thành, Bình Dương |
Bình Định |
| 1081 |
TS Đoàn Gia Dũng |
Giám đốc Phân hiệu ĐH Đà Nẳng tại Kon Tum |
Đà Nẵng |
| 1082 |
ThS Nguyễn Hữu Hiếu |
Điện tử viễn thông |
Hà Nam |
| 1083 |
TS Phạm Hải Hồ |
Công dân Việt Nam, biên soạn sách, dịch thuật. |
Germany |
| 1084 |
Mai Văn Hoằng |
|
Bình Dương |
| 1085 |
ThS Phan Khoa |
Thạc sỹ Hóa học, Thạc sỹ Sinh học , NCS chương trình Bác sỹ-Tiến sỹ Y khoa |
USA |
| 1086 |
KS Nguyễn Trí Mạnh Cương |
Dầu khí |
TP.HCM |
| 1087 |
Huỳnh Trung Dũng |
Công chức |
TP.HCM |
| 1088 |
Phan Văn Thắng |
Công tác tại Nhà máy thủy điện Sơn La – Tập đoàn điện lực Việt Nam |
Hà Tây |
| STT |
HỌ TÊN |
NGHỀ NGHIỆP |
NƠI CƯ TRÚ |
| 1089 |
Đỗ Hữu Bút |
Cựu sinh viên trong phong trào đấu tranh Sài Gòn trước 1975 |
TP.HCM |
| 1090 |
Nguyễn Tấn Á |
Nguyên Tổng thư ký Tổng hội sinh viên Sài Gòn năm 1964 |
TP.HCM |
| 1091 |
Huỳnh Quan Thư |
Nguyên Tổng thư ký Tổng hội sinh viên Sài Gòn năm 1968 |
TP.HCM |
| 1092 |
Huỳnh Minh Nguyệt |
Cựu sinh viên trong phong trào đấu tranh Sài Gòn trước 1975 |
TP.HCM |
| 1093 |
Trương Hồng Liên |
Cựu sinh viên trong phong trào đấu tranh Sài Gòn trước 1975 |
TP.HCM |
| 1094 |
Nhạc sĩ Nguyễn Tuấn Kiệt |
Cựu sinh viên trong phong trào đấu tranh Sài Gòn trước 1975 |
TP.HCM |
| 1095 |
Võ Thị Bạnh Tuyết |
Nguyên chủ nhiệm chiến dịch đốt xe Mỹ trước 1975, nguyên chỉ huy phó lực lượng Thanh niên xung phong TP.HCM, nguyên phó giám đốc Sở Thương binh Xã hội TP.HCM |
TP.HCM |
| 1096 |
Phan Long Côn |
Nguyên tổng thư ký Tổng hội sinh viên liên viện MNVN trước 1975, nguyên chủ tịch Liên hiệp các tổ chức hữu nghị tỉnh Phú Yên |
TP.HCM |
| 1097 |
NguyễnXuân Lập |
Nguyên trưởng đoàn sinh viên Phật tử Sài Gòn trước 1975, nguyên Giám đốc cty Dược TP.HCM SAPHARCO,nguyên chủ tịch Hội Dược học TP.HCM |
TP.HCM |
| 1098 |
BS Thiều Hoành Chí |
|
TP.HCM |
| 1099 |
PGS TS Đặng Ngọc Lệ |
Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học TP HCM |
TP.HCM |
| 1100 |
Đặng Văn Thông |
Công dân Việt Nam |
TP.HCM |
| 1101 |
Trần Thị Khánh |
Biên tập viên |
TP.HCM |
| 1102 |
Bùi Minh Nhứt |
Nhân viên văn phòng |
TP.HCM |
| 1103 |
Nguyễn Khải |
Nguyên GD sở Công nghiệp Bắc Giang |
Bắc Giang |
| 1104 |
Nguyễn Ngọc Nhạn |
Kinh doanh tự do |
Úc |
| 1105 |
Nhà báo Trương Điện Thắng |
|
Đà Nẵng |
| 1106 |
Chu Quỳnh Phương |
Viên chức |
Hà Nội |
| 1107 |
Phan Trọng Nghĩa |
Thượng tá, cựu chiến binh |
TP.HCM |
| 1108 |
Hoàng Thái Việt |
Chuyên gia dầu khí |
USA |
| 1109 |
PGS TS Nguyễn Phương Tùng |
Nghiên cứu khoa học |
TP.HCM |
| 1110 |
TS Vũ Tam Huề |
Cựu chiến binh, cán bộ khoa học ngành dầu khí hưu trí |
TP.HCM |
| 1111 |
Vũ Tam Trung |
Nguyên là cán bộ PVTrans, hiện là du học sinh Cao học |
USA |
| 1112 |
ThS Vũ Tam Duy Trung |
Hiện đang làm trong ngành Khoa học máy tính |
USA |
| 1113 |
Phong Nguyen |
Engineer |
USA |
| 1114 |
TS Phan Văn Thanh |
Kinh tế |
Hà Nội |
| 1115 |
Nguyễn Đoàn Tuyết Ly |
Cử nhân kinh tế |
Huế |
| 1116 |
Liem Nguyen |
Nghiên cứu khoa học |
USA |
| 1117 |
ThS Nguyễn Trường Giang |
Ngành Tài Chính |
Hà Nội |
| 1118 |
KS Quách Đình Đạt |
|
Hà Nội |
| 1119 |
Ngo Le Tinh |
Công nhân viên |
TP.HCM |
| 1120 |
Nguyễn Duy Quế |
Nhân viên Công tác xã hội |
Hà Nội |
| 1121 |
Nhà văn Đỗ Khánh Phương |
|
Hà Nội |
| 1122 |
TS Phạm Công Cường |
Hóa học, Nguyên giảng viên khoa Hóa, Đại học Tổng hợp Hà Nội |
Hà Nội |
| 1123 |
Dương Quốc Huy |
Cựu chiến binh |
Hà Nội |
| 1124 |
Nhà văn Trần Tiễn Cao Đăng |
Dịch giả |
Hà Nội |
| 1125 |
Nguyễn Hoàng Minh |
|
USA |
| 1126 |
Le Quang Thi |
Công chức |
Vũng Tàu |
| 1127 |
Lê-Phạm Ngưng Hương |
|
Thụy Sĩ |
| 1128 |
Tân Phúc Nguyên |
Sinh viên |
An Giang |
| 1129 |
Nguyễn Quỳnh Trang |
Sinh viên |
An Giang |
| 1130 |
Phan Lê Nam |
Sinh viên |
An Giang |
| 1131 |
Trần Văn Thanh |
Kinh doanh |
An Giang |
| 1132 |
Le Thi Ngan Ha |
Giáo viên |
Đồng Nai |
| 1133 |
Tran Nam |
Cong nhan |
USA |
| 1134 |
Nguyen Oanh |
Cong nhan |
USA |
| 1135 |
Tran Thanh Trong |
|
TP.HCM |
| 1136 |
Lê Hải Lý |
Chuyên viên kiểm toán, tài chánh, thuế khóa |
Germany |
| 1137 |
ThS Trần Xuân Toàn |
Viện chăn nuôi |
Thái Bình |
| 1138 |
Trần Quý Dương |
Công ty cổ phần Giấy Sài Gòn |
TP.HCM |
| 1139 |
Vũ Hữu Tiệp |
Sinh viên lớp: KSTN-DTVT-K52, Đại học Bách Khoa Hà Nội |
Hà Nội |
| 1140 |
Trần Nam Trường |
|
CH SEC |
| 1141 |
Võ Hoài Nam |
|
Nga |
| 1142 |
Khánh Minh Nguyễn |
Nghiên cứu khoa học. |
USA |
| 1143 |
Dương Văn Tuấn |
|
USA |
| 1144 |
Nguyễn Thành Tiến |
|
Hà Nội |
| 1145 |
Nguyễn Đăng Lương |
Hóa học |
Hà Nội |
| 1146 |
Dương Văn Dũng |
Giám đốc Doanh Nghiệp |
Kiên Giang |
| 1147 |
Van Phu Truong Khoa |
Công dân Việt Nam |
Quảng Nam |
| 1148 |
TS Nguyễn Hồng Thái |
Kỹ thuật Điện |
Hà Nội |
| 1149 |
TS Nguyễn Quang Phái |
|
Hà Nội |
| 1150 |
Nguyễn Thịnh |
Dược sĩ |
USA |
| 1151 |
KS Bùi Hoài Nam |
|
Hà Nội |
| 1152 |
Nguyễn Xuân Thắng |
KTS |
Hà Nội |
| 1153 |
Dr. Vu Trieu Minh |
Mechanical Department |
Malaysia |
| 1154 |
Cao Vi Hiển |
|
Kon Tum |
| 1155 |
Nguyễn Trọng Chiến |
Sinh viên năm thứ 3 Đại học Chiba |
Nhật Bản |
| 1156 |
KS Nguyễn Thạch Hãn |
|
Úc |
| 1157 |
KS Lương Phan Nguyễn |
Viễn thông |
TP.HCM |
| 1158 |
Bui Tony |
|
Pháp |
| 1159 |
Phạm Việt Cường |
Sinh viên |
Hà Nội |
| 1160 |
Đỗ Thành Nhân |
Công nghệ thông tin |
Quảng Ngãi |
| 1161 |
KS Nguyễn Bá Toàn |
Trưởng phòng kỹ thuật |
Hà Nội |
| 1162 |
Nguyễn Hồng Ngọc |
Giảng viên |
Đà Nẵng |
| 1163 |
Tam Nguyen |
|
USA |
| 1164 |
Tống Cảnh Toàn |
|
Hà Nội |
| 1165 |
TS Lê Khánh Hùng |
Công nghệ Thông tin |
Hà Nội |
| 1166 |
Nguyen Minh Tung |
Nhan vien khach san |
Hà Nội |
| 1167 |
Đào Bá Duy |
Nghề nghiệp tự do. |
Quảng Ninh |
| 1168 |
Vũ Văn Oai |
Kinh doanh ngành cơ khí máy móc công nghiệp |
TP.HCM |
| 1169 |
Le Duong |
Chuyen Vien KT Hang Khong ( ATSS: Airway Transport Systems Specialist) |
USA |
| 1170 |
Nguyen Thi Thanh Huyen |
|
Hà Nội |
| 1171 |
KS Huỳnh Anh Cường |
Xây dựng cấp thoát nước |
TP.HCM |
| 1172 |
TSKH Nguyễn Xuân Xanh |
nhà nghiên cứu lịch sử, khoa học, giáo dục |
TP.HCM |
| 1173 |
GS Võ Quý |
Chuyên gia về Môi trường ĐHQG Hà Nội |
Hà Nội |
| 1174 |
PGS TS Hoàng Thị Thanh Nhàn |
Nghiên cứu kinh tế |
Hà Nội |
| 1175 |
Phạm Quốc Việt |
Cựu quân nhân |
Hà Nội |
| 1176 |
Trương Minh Tam |
Maketing thương mại |
Hà Nội |
| 1177 |
Nguyễn Văn Thanh |
Cử nhân Kinh tế |
TP.HCM |
| 1178 |
Đặng Minh Liên |
Nghiên cứu viên, giảng viên, biên tập, biên dịch, biên kịch phim, nhà báo điện ảnh |
Hà Nội |
| 1179 |
Minh Trinh Nguyen |
Nguyen can bo Vien Mac Le Nin |
Germany |
| 1180 |
Thi Bich Hang Nguyen |
Cuu doi vien Chau Ngoan Bac Ho Cung Thieu Nhi Ha Noi |
Germany |
| 1181 |
Tô Lê Sơn |
Kỹ sư kinh tế, công tác tại Cty Tư vấn xây dựng Điện 2 |
TP.HCM |
| 1182 |
Luong Van Dung |
Huong dan vien du lich |
Hà Nội |
| 1183 |
Nguyễn Bắc |
Công dân Việt Nam |
Tuyên Quang |
| 1184 |
Tran Cong Thach |
Huu tri |
TP.HCM |
| 1185 |
Lê Bảo |
Nhân viên chứng khoán |
TP.HCM |
| 1186 |
Phùng Xuân Tùng |
|
Hải Phòng |
| 1187 |
Trần Khương |
Chuyên viên tư vấn đầu tư nước ngoài |
Gia Lai |
| 1188 |
Nhà Báo Phạm Tâm Hiếu |
Tạp chí Khoa học và Tổ quốc |
Hà Nội |
| 1189 |
Nguyễn Hữu Mão |
|
Hà Nội |
| 1190 |
Luật sư Vũ Xuân Khoa |
Công ty TNHH Dịch vụ đầu tư HIPT Invest |
Hà Nội |
| 1191 |
KS Bùi Trúc Linh |
Viết báo tự do |
TP.HCM |
| 1192 |
KS Nguyễn Minh Hùng |
Continental Corporation |
TP.HCM |
| 1193 |
Trần văn Huỳnh |
Giáo viên nghỉ hưu |
TP.HCM |
| 1194 |
Nguyễn Lưu |
|
Hà Lan |
| 1195 |
Hoàng Anh Vũ |
Chuyên gia IT ngân hàng |
Indonesia |
| 1196 |
Nguyễn Văn Chinh |
|
Hà Nội |
| 1197 |
Ngô Tấn Huỳnh Chuyên |
Nhân viên cty AKVA group |
TP.HCM |
| 1198 |
Nguyễn Tường Thụy |
Cử nhân kinh tế, cựu chiến binh, viết văn thơ báo chí tự do |
Hà Nội |
| 1199 |
Chu Trọng Thu |
Cựu GVĐH SP SG |
TP.HCM |
| 1200 |
Nguyễn Thị Hường |
Nghiên cứu sinh Luật, Đại học Indiana, Hoa Kỳ |
USA |
| 1201 |
TS BS Hồ Thị Hồng Nhung |
Viện Pasteur TP. Hồ Chí Minh |
TP.HCM |
| 1202 |
Trần Đức Bồn |
|
Nghệ An |
| 1203 |
Nguyễn Tấn Tài |
Sinh viên năm 3 |
Bến Tre |
| 1204 |
Kim Ngọc Cương |
Cử nhân Toán, viết báo tự do |
Hà Nội |
| 1205 |
KS Hoàng Ngọc Thanh |
Cầu đường |
Nghệ An |
| 1206 |
Trương Minh Tịnh |
Giám Đốc Công Ty Tithaco Pty Ltd |
Úc |
| 1207 |
Nguyễn Đức Huy |
|
Germany |
| 1208 |
Trương Thị Hồng Phượng |
|
Germany |
| 1209 |
Nguyễn Huy Kim |
|
Germany |
| 1210 |
KS Võ Văn Giáp |
|
Canada |
| 1211 |
Trần Anh Tuấn |
Sinh viên khoa Giáo dục học, ĐH KHXH&NV TP.HCM |
TP.HCM |
| 1212 |
Muoi Nguyen |
Cử nhân Hóa học, nghỉ hưu |
USA |
| 1213 |
Trương Phát Khuê |
Nông dân, cựu sĩ quan QĐND VN |
Đắk Lắk |
| 1214 |
TS Võ Thi |
Kỹ Sư Hàng Không |
Canada |
| 1215 |
Nguyễn Đức Dương |
Cán bộ nghiên cứu của Viện Ngôn Ngữ học, nay đã nghĩ hưu |
TP.HCM |
| 1216 |
Trần Văn Nam |
|
Hải Dương |
| 1217 |
Si Van Lam |
Doctor of Pharmacy |
USA |
| 1218 |
Khương Việt Hà |
Nghiên cứu văn học Nhật Bản; cơ quan công tác: Viện Văn học-Viện KHXH Việt Nam |
Hà Nội |
| 1219 |
Nguyễn Thanh Phong |
Sinh viên |
Úc |
|
Bauxite Việt Nam xin gửi đến quý bạn đọc toàn văn bản Kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay bằng tiếng Anh. Bản dịch do TS Vũ Quang Việt, Kim David và TS Phùng Liên Đoàn thực hiện. Bauxite Việt Nam rất cám ơn các dịch giả đã nhiệt tình hoàn thành rất sớm bản dịch để Kiến nghị được phổ biến rộng rãi trong các cộng đồng nói tiếng Anh.
Bauxite Việt Nam
|
Petition
to
The National Assembly of the Socialist Republic of Vietnam
and
The Political Bureau of the Communist Party of Vietnam
On the Defense and Development of the Country
In the Current Situation
We, the undersigned, respectfully send to your Excellencies this petition regarding the defense and development of the country in the current situation.
I. The independence, self-determination, and territorial integrity of the country are under serious threat
1. China claims 80% of the East Sea (Southeast Asia Sea) to be its property
China, in the role of being “the manufacturing factory of the world” and the biggest money lender, aspires to become a world superpower. Under the cloak of “peaceful rise,” China is projecting its power in multiple forms to infiltrate and dominate other countries on all continents. A number of world analysts are of the opinion that China has surpassed all accomplishments of neo-colonialists after World War II.
More recently, China has seriously intensified its ambition to control and own the East Sea (the Southeast Asian Sea) through actions that violate international laws and the sovereign rights of the countries bordering it. China has unilaterally drawn a nine-line and dot, U-shaped border on the East Sea, also known as the “cow-tongue line,” that encompasses 80% of the East Sea surface area. China has repeatedly declared that it has indisputable sovereignty over everything within that cow-tongue line and has carried out illegal activities there within to affirm this claim in violation of international laws.
China is actively strengthening its naval forces, preparing to move in large oil extraction platforms, and carrying out military and non-military incursions into areas that are within the maritime territory of Southeast Asian countries. At the same time, China pursues actions aiming to create disunity among countries within ASEAN.
2. China has used military forces to occupy Vietnam’s territories in the East Sea and is prepared to do that again regarding the remaining Vietnam’s territories in the Spratly Islands
In the maritime area on which Vietnam has sovereignty and sovereign rights, China occupied by military actions in 1974 the Paracels that were at that time under the control of South Vietnam. In 1988, China took by force seven islets and rocks in the Spratlys that were also under the control of our country. Since then, China has regularly carried out actions to threaten and violate our maritime sovereign rights. For example, China has unilaterally imposed an annual fishing ban on the East Sea during which it chased away our fishing boats, arrested them, detained them, and/or confiscated their catches and properties for ransom. China has pressured foreign oil companies to not sign or to nullify contracts for oil exploration on the maritime economic zone of Vietnam. China has repeatedly sent Chinese Naval Surveillance Force vessels to carry out surveillances in the East Sea as if the sea belongs to its own. Only last month, Chinese ships deliberately cut the oil exploration cables of two Vietnamese ships—the BinhMinh02 and Viking II—while these ships were in operation within the Vietnamese exclusive economic zone. These are among a series of escalating actions by China that are designed to threaten and seriously encroach on Vietnamese maritime territory.
Vietnam’s geography, geo-political, and economic position vis-a-vis the world today appears to be an obstacle to the Chinese ambition to expand southward on the way to become a world superpower. China has applied all covert and overt means, including military actions, to seduce, infiltrate, manipulate, threaten, and interfere with Vietnam’s internal affairs in its design to weaken Vietnam and ultimately make us China’s subordinate.
Vietnam has appeased and tried in multiple attempts to accommodate China in order to establish cooperative bilateral relations. However, to date, the more Vietnam tries to cooperate, the more aggressively China behaves.
3. China has accomplished important steps in its plan to dominate Vietnam
Reviewing the China-Vietnam bilateral situation, we clearly observe that China has accomplished important steps in its strategic plan to dominate Vietnam. Below are some main observations:
Economically, Vietnam’s import from China has increased dramatically, by 280% from 2006 to 2010. Since 2009, Vietnam’s trade deficit with China has equaled the deficit with the rest of the world. Currently, we have to import from China 80% to 90% of the needed materials for our processing and service industries. This includes a significant volume of petroleum, electricity, and industrial inputs. One fifth of imports from China are consumer goods, and this does not include an equivalent amount that enters the country clandestinely from China. Of particular concern is the fact that recently China has won as much as 90% of all engineering, procurement, and construction (EPC) contracts in Vietnam in areas such as electric power plants, metal and nonmetallic refining facilities, chemical plants, and bauxite and titanium mining facilities. In contrast, China has imported from Vietnam agricultural products and raw minerals the extraction of which leaves behind environmental problems with long-term consequences. In addition, we have allowed China to rent industrial and forest land near the common border, and have been unable to control counterfeit money entering the country from China. Our weak economy has been a fertile ground for China to infiltrate, control, and disrupt. And China has constructed huge dams upstream of our two largest rivers, causing consequences that we are not yet able to assess. Finally, we cannot ignore the fact that China has similarly infiltrated and controlled the economy and policies of our neighboring countries.
If China succeeds in its strategy to own the East Sea, Vietnam’s routes to the world will be blocked.
Politically, given the fact that Chinese infiltration and control of our economy has taken place over a number of years and is being continued, we should wonder what has China done to Vietnam, and to what extent has Chinese soft power influenced Vietnamese leaders? And to what extent has China been involved in the rampant corruption and social degradation in our society?
Our leaders have been too timid to make transparent the factual relationship between Vietnam and China for the Vietnamese people to be informed and to participate in seeking solutions. We, the people, are discontented and unable to comprehend our leaders’ behavior. The Party and the Government seem to be confused and alienated from the populace. International friends are worried and hesitant to support Vietnam’s just cause.
The Vietnamese leadership’s conduct regarding Vietnam–China bilateral relations is reflected in the joint press release following the meeting between the Deputy Ministers of Foreign Affairs of the two countries. This press release, made public by the Vietnamese Foreign Ministry on 26 June 2011, contains vagueness that is unfathomable and gives rise to worries for many Vietnamese inside and outside of Vietnam. For example:
· The press release completely ignored the aggressive actions on the East Sea taken by China in violation of Vietnam’s sovereignty and sovereign rights. Instead, it stated: “The two sides held that the relationship between Vietnam and China has developed in a healthy and stable manner, meeting the common aspirations and fundamental interests of the Vietnamese and Chinese people, and benefiting peace, stability and development in the region.” If this sentence is aimed at describing the current bilateral relationship between the two countries, then it is not correct, contrary to reality, and therefore dangerous to Vietnam. What has happened is the opposite of the statement. The Vietnamese leaders should demand that the Chinese leaders honor the guidelines coined by themselves; namely the “16 Golden Words” (i.e., friendly neighborliness, comprehensive cooperation, long-lasting stability, and future-looking) and “Four Goods” (i.e., good neighbors, good friends, good comrades, and good partners). We should not irresponsibly join in the refrain of “the two sides underlined the need to persist on directing the Vietnam-China comprehensive strategic cooperative partnership to develop exactly in line with the motto of “16 Golden Words” and the spirit of “Four Goods.”
· The press release further stated: “The two sides emphasized the necessity to actively implement the common perception of the two countries’ leaders, peacefully solving the disputes at sea through negotiation and friendly economic activities”. What is “common perception,” which in Vietnamese should be correctly understood as “common agreement”? To date, the Vietnamese leaders have not made it clear. However, the Chinese side has interpreted the “common perception” to its favor. The Spokesman of China’s Ministry of Foreign Affairs stated on 29 June 2011, that “The Vietnam side should implement the common perception of the leaders of the two countries to solve the dispute at sea,” and that “Both countries oppose the intervention regarding the South China Sea by countries outside the region.” Chinese politicians and press have repeatedly stated the reason for the dangerous flare-ups in the East Sea is the provocative actions of Vietnam and other countries in the region. These statements sometimes added that Chinese public has been prepared and ready for a war to occupy the “series of pearls,” the term China uses to refer to the islets and rocks in the Spratlys that are more than 1000 kilometers from the southernmost land point of China. The vagueness in the joint press release is favorable to China and detrimental to our country, including our relations with the third parties.
· The press release also stated: “[The two sides] stress the need to steer public opinions along the correct direction, avoiding comments and deeds that harm the friendship and trust among the people of the two countries.” China has used this statement to pressure Vietnam to restrain public opinion in our country, while allowing the Chinese press to publish slanderous and anti-Vietnam articles. We need to affirm that public opinion is needed to interprete Chinese actions and public statements that slander Vietnam and its people. Public opinion should play a support role to government political and diplomatic activities and should not be seen as “undermining the friendship and trust between the peoples of the two countries.” The Vietnamese people have the tradition and historic will, at all times, to sacrifice to maintain independence and to actively seek ways to build friendly relations with China. Vietnam has never attacked China, but has risen in arms to repulse China from its incursions and occupation in the past.
II. In the meantime, the nation is faced with multiple difficulties and risks
1. Our economy is in a state of under-development, with low quality, little effectiveness, and prolonged crises:
Most of economic efforts during the past few years were focused on “putting out fires,” e.g., trying to getting the economy out of immediate difficulties such as inflation. Since 2007, inflation has been ongoing at two digits (except in 2009), and estimates for 2011 are also at the high two digits. While internal and external resources have been mobilized at a high level that is heretofore unseen, their economic effectiveness is low. Our ICOR index, which has an inverse relationship with investment effectiveness, has been highest ever, and is also the highest in the region. The import-export imbalance is high. Our budget deficit has crossed the alarm threshold (5% of GDP in accordance with international standards). Our economy continues to rely on poor infrastructures, resulting in low effectiveness and competitiveness. Our growth has been based mostly on investment and low-skill, inexpensive labor, as well as exploitation of natural resources to the point of exhaustion. Our natural environment has been gravely damaged. The disparity between rich and poor is widening, and the distribution of income has become more and more unjust. Injustices in the distribution and accumulation of assets, land lease and use, implementation of laws, and formation of new power groups and monopolies are major issues that run contrary to the nation’s goal of building “a well-to-do citizenry, a strong country, and a society that is democratic, just, and civilized.” The ultimate result is a situation where the nominal income per capita has increased but the quality of life has decreased in multiple facets, including increased human insecurity and worsened quality of life for peasants and the majority of workers and salary earners.
2. Vietnam is experiencing worsened cultural and social conditions
New values and progressive values cannot keep up with national development needs nor can they overcome unbecoming conditions and antiquated social behavior. Social justice is seriously compromised. People, the most valuable national asset, are not truly liberated.
Of the many areas of concern that need to be addressed is the state of national education. Our educational system is backwards in many aspects compared to other nations in the region, in spite of the fact that we have one of the region’s highest share of income expensed on education (from both the viewpoint of the nation and of the individual).
Our educational curricula, management, teaching and learning processes are quite backwards, sometimes even erroneous. We have a relatively high percentage of population with a general education, and the percentage of academic diplomas at every level attained by the citizenry is relatively high compared to countries at an equivalent level of income. However, in reality, the quality of human resources and the effectiveness of our labor are lower than those of many other countries—far lower than what is needed to lift the nation to modern time. The fundamental reason is that the national educational system in the existing socio-political system does not aim at developing free and creative citizens who are empowered to be leaders. It is an education system that aims at developing people who race for trophies and quantities irrespective of value.
Our people recognize and condemn the tolerance of falsehood and degradation in the national cultural and spiritual life. These poor social conditions, coupled with rampant corruption, create new types of injustices that eat into our traditional values. The absence of transparency in all aspects of life is fertile ground for corruption and negative values. This reality has become a serious barrier to the development of a healthy and civilized society, and has created an environment of lawlessness that is conducive to mediocrity in the political system.
3. The political system is rampant with contradictions and is a barrier to the national development
The current national economic, cultural, and social conditions clearly reflect increased contradictions within and degradation of our socio-political system and government. Faced with urgent needs, it is necessary to transform the structure of our national economy and to implement an economic model that focuses on quality rather quantity.
Modern times require changes in the political system that erases barriers to renovation and economic development and promote the full and effective use of all resources. While the need for political changes has been raised by the leadership, goals, plans, and methods have not been devised for implementation. We are particularly concerned with increasing corruption in the administrative and political system; and with the dubious behavior and unethical conduct of government personnel and party cadres. This system has been increasing in size, thus aggravating further the scale of contradiction and corruption, causing ever increasing losses for the nation. This situation, coupled with errors in organization and personnel deployment, renders ineffective efforts to renovate the political system in spite of much cost and effort. Many projects are for show, with falsities in both format and content. Democracy continues to be seriously violated. Running for and election to offices of power have not been accorded true democracy. Many citizens’ rights that are spelled out in the Constitution are not allowed nor protected in daily life; of these, are the rights to free speech, free access to information, freedom to establish groups, and freedom to demonstrate.
We can state that our nation is faced with the contradiction between the people’s desire to live in a country that is “peaceful, unified, independent, democratic, and prosperous” on the one hand, and a political system that is more and more degraded and ineffective, on the other hand. This contradiction becomes more and more dangerous to the future of the nation as we face the threat from China in its design to infiltrate Vietnam.
Geographically we cannot move our country to another location far from China. Realities force us to take a turn that is decisive to our nation’s future. Being a neighbor to ambitious China that is on the way to become a world superpower, Vietnam needs to sustainably protect our independence and sovereignty; to command respect from China; and to develop a bilateral relationship that is truly for peace, friendship, cooperation and development. This objective is very critical on numerous fronts, including the protection of our islands, special economic zones, and sea and sky in the East Sea in the face of Chinese claims that have become more and more ominous. China has conducted direct military attacks and is preparing more attacks. The most dangerous front in which China has concentrated power and influence is the infiltration and/or disruption of our economic, political, and cultural life. On this front, China carries out threats and inducements at the same time, in the name of the mutual safeguard of socialism, in order to sow division between our people and our political system. It infiltrates our leadership, weakens our national unity, and lessens our capability to maintain our national security and defense. If it defeats us on this front, China will defeat us on all fronts.
We are now in a new situation in international relations as China rises to become a superpower with plans and actions that sometimes ignore international laws, conventions, and stability. Most countries in the world, with perhaps the exception of China, want Vietnam to be independent, self-governing, prosperous, and developed, with the ability to contribute to peace and stability in the region. They want Vietnam to have friendly and cooperative relations with its neighbors and the world, and to pursue mutual peace and prosperity. This new world attitude towards Vietnam is a tremendous opportunity for our country to deploy resources that have heretofore been neglected, in order to lift the nation to a position it deserves in the community of nations. To seize this opportunity and avoid the risk of isolation, the Vietnamese people and its leaders need to become involved in the struggle to preserve values that constitute the foundation of a progressive world; that is peace, democracy, freedom, protection of human rights, and protection of the environment.
III. Our petition
With the above, we earnestly present the following petition to the Congress and the Politbureau of the Vietnamese Communist Party:
1. Make transparent before the Vietnamese people and the world community the real relationship between China and Vietnam:
Provide facts and reasons to support Vietnam’s sovereignty over the islands and exclusive economic zones in the East Sea in a manner that is convincing and compliant with international laws. Affirm consistently our goodwill regarding building and preserving friendly and cooperative relations with China. State unequivocally our resolve to protect our independence, sovereignty, and integrity of our land and water. Explain the background, content, and legal validity of the message that North Vietnam’s Premier Pham Van Dong sent to China’s Premier Chu An Lai in 1958 regarding the East Sea, in order to conclusively do away with intentional misinterpretation by China.
We must make a distinction between a power group within the Chinese government that harbors unethical and illegal plans and actions against Vietnam, and the friendly attitude of the majority of Chinese people toward the Vietnamese people. We should be ever ready to be friends and trusted partners of all nations. We should have particular respect for friendly and cooperative relations with nations in Southeast Asia, major nations, and all nations who are concerned with the peaceful resolution of the competing claims in the East Sea.
2. Inform the Vietnamese people of today’s national reality
Inform the people of risks to the future of the nation. Seek unity. Assemble spiritual, mental, and physical resources to develop and protect the country. Renovate comprehensively the education and economic systems. Raise the people’s levels of consciousness, unity, and well being that are required for the protection and development of the country.
In order to do so, we need to overcome the misdirection of the national educational and economic systems caused by ideological fundamentalism. Political reforms, therefore, are a precondition for all other reforms.
3. Implement by all means citizen’s rights regarding freedom and democracy that have been defined by the Constitution:
Liberate and promote people’s desire and efforts to build and protect the nation. Take advantage of new opportunities. Respond to the challenges and needs of today’s world.
In the process of implementing the rights to freedom and democracy that are spelled out in the Constitution, it is necessary to seriously implement the rights to free speech, free publication, free expression of political views by peaceful demonstrations, free association, and transparency in all national activities.
4. Call upon all citizens, Vietnamese inside and outside of Vietnam, to support the task of collaboration, cooperation, conflict resolution, and unity:
This is to be done in the spirit of reconciliation and compassion, without any distinction as to political belief, religion, ethnicity, and social positions. All citizens shall close the page on our past differences in the interest of the national good. All citizens shall have the common goal of building and protecting the nation with all of our hearts, minds, and creativity.
5. Leaders of the Communist Party of Vietnam, the only power that exists in Vietnam, shall be totally responsible for today’s national condition
They shall commit to the national interest above all others. They shall carry the flag of democracy to push for political reforms and the liberation of the people’s potential for the task of nation building and protection. They shall push back on corruption and social degradation. They shall bring the country out of today’s weaknesses and dependencies. They shall lead the nation to sustainable development. They shall lead the nation to walk side by side with the progressive world in the interest of peace, freedom, democracy, human rights, and environmental protection.
Finally, we earnestly invite our compatriots, inside and outside of Vietnam, to support and sign this petition. By doing so with factual deeds, we Vietnamese will have demonstrated our iron will to arrest and push back plans and actions that infringe on Vietnam’s independence, self-determination, and sovereignty. By doing so, we are resolved to eradicate injustice, poverty, and backwardness in our country. By doing so, we are building and preserving the nation, and we are upholding the Vietnamese tradition of standing up for our independence. By doing so, we will be proud to stand before the people of the world and our children and grandchildren.
Seizing the opportunity to lead our nation out of danger and to build a sustainable society in peace is the sacred responsibility of all of us, the Vietnamese.
Made in Hanoi, July 10, 2011
Signature blocks are attached.
.
Like this:
Be the first to like this page.
hoanginh đã nói
Cũng như với mọi kiến nghị trước đây , cũng như với mọi ý kiến đóng góp của đồng bào trong và ngoài nước giới lãnh đạo Viêt Nam đều bỗng dưng muốn… điếc . Bản kiến nghị này chắc chắn rơi vào im lặng . Đối thoại giữa nhân dân với chính phủ phải chăng là đối thoại giữa những người điếc mà chính phủ là phía đã tắt máy trợ thính . Quan hệ giữa Việt Nam – Trung Quốc theo tinh thần lấy đại cục làm trọng , đại cục ở đây là ý thức hệ Mác Lê . Do vậy , muốn thay đổi mối quan hệ này thì Việt Nam ( hoặc Trung Quốc ) phải thay đổi cái ý thức hệ này . Đó là bản chất của mọi vấn đề , còn không thì chỉ như gió làu vào nhà trống
web design leamington đã nói
Hi, really loving the design of your website. Would you mind if I asked you what theme youre making use of here? I’m new to this, but I’m hoping to have mine looking nearly as cool as yours. Thanks a lot.
invest liberty reserve đã nói
Hello There. I found your blog using msn. This is a very well written article. I will be sure to bookmark it and come back to read more of KIẾN NGHỊ 10/7/2011 BA SÀM . Thanks for the post. I’ll definitely comeback.
HostMonster Coupon đã nói
Who did you pay to do your page? Its really nicely designed I bet that is why you get so much traffic!
Bone Cancer Prognosis đã nói
We loved your website so much we added it to http://www.usbhubreview.net/sites-we-like-2. Just fill in the offer and your backlink is permanent.
dân thường đã nói
Theo tôi, nội dung bản kiến nghị thì được, nhưng gửi đến những địa chỉ đó thì không nên.
Cái thể chế “độc tài tập thể” nhưng lại lắm phe nhiều cánh thì sẽ không bao giờ nghe ý kiến của ai cả. Họ thiếu dân chủ và đoàn kết, nhưng họ vẫn tồn tại được bên nhau để cai trị dân – Có thời người ta đẻ ra chức danh “cố vấn ban CHTƯĐ”, nhưng rồi họ có thèm nghe cố vấn đâu. Những cố vấn NV Linh, VV KIệt, VN Giáp … rồi cũng phát chán, khi hiểu ra mình không còn là kẻ thống trị nữa.
Đòi hỏi kẻ thống trị thay đổi cách cai trị ư? Lại còn dậy khôn họ thì quả là không ổn!
quốc Hận đã nói
kiến nhị kiến nhung chẳng ăn thua gì nói với họ khác nào nói với đầu gối dù súng có bắn vào đít nó cũng không dời ghế đâu , tự cho mình đảng mình đứng trên đầu trên cỏ dân tộc bắt cả dân tộc trở thành nô lệ cha hết nhiệm kỳ đã thế con( cha truyền con nối của vua quan phong kiến ngày xưa thế kỷ 21 rồi mà còn ngu như thế khinh dân lộng hành , hãy mở mắt ra nhìn thế giới ngay sát lách ta như thái lan dân chủ như thế nào bầu cử tranh cử sôi động , đâu như việt nam dân chẳng có quyền gì , bầu cử tranh cử do đảng xếp đặt trước thế mà vẫn to mồm nói vì dân do dân , không biết xấu hổ với miệng
Yeu dat nuoc viet nam đã nói
Tất cả những người dân của Tổ Quốc Việt Nam hãy đồng lòng, chung sức lên tiếng mạnh mẽ hơn nữa
digital camera đã nói
This is the perfect blog for anyone who wants to know about this topic. You know so much its almost hard to argue with you (not that I really would want…HaHa). You definitely put a new spin on a subject thats been written about for years. Great stuff, just great!
forex trading đã nói
This is a smart blog. I mean it. You have so much knowledge about this issue, and so much passion. You also know how to make people rally behind it, obviously from the responses. Youve got a design here thats not too flashy, but makes a statement as big as what youre saying. Great job, indeed.
tas spunbound đã nói
This is a smart blog. I mean it. You have so much knowledge about this issue, and so much passion. You also know how to make people rally behind it, obviously from the responses. Youve got a design here thats not too flashy, but makes a statement as big as what youre saying. Great job, indeed.
interesting facts đã nói
This is a smart blog. I mean it. You have so much knowledge about this issue, and so much passion. You also know how to make people rally behind it, obviously from the responses. Youve got a design here thats not too flashy, but makes a statement as big as what youre saying. Great job, indeed.
Tin thứ Tư, 27-07-2011 ANHBASAM | phamdinhtan đã nói
[...] Tính đến hết ngày 23-7-2011, bản Kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay (được lưu trên đầu trang: Kiến nghị 10/7/2011) đã có 1.088 chữ ký ủng hộ. [...]
Tin thứ Tư, 27-07-2011 « BA SÀM đã nói
[...] Tính đến hết ngày 23-7-2011, bản Kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay (được lưu trên đầu trang: Kiến nghị 10/7/2011) đã có 1.088 chữ ký ủng hộ. [...]
meo den đã nói
Bắt thang lên hỏi “ông trời” khi nào ông rảnh ông trả lời cho!
Anhbasam Điểm Tin thứ Bảy, 16-07-2011 | bahaidao đã nói
[...] ý: Bản Kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay (10/7/2011) của các nhân sĩ, trí thức gửi Quốc hội và Bộ Chính trị, được Ba [...]
tran dang khoa đã nói
ky kien nghi
trannhai đã nói
Xin gởi một lời tri ân đến những nhân sỹ , trí thức !
Các anh là những ANH HÙNG của dân tộc – Đã không màng chút lợi danh mà bán rẻ giống nòi.
nguoi cam but đã nói
Tôi nhớ đã đọc được một bài viết đại khái so sánh giữa Fukuzawa Yukichi của Nhật và Nguyễn Trường Tộ của Việt Nam. Cả hai đều là các nhân sĩ trí thức có tư tưởng đổi mới, muốn đóng góp trí tuệ của mình để canh tân đất nước. Hai ông sống cùng thời với nhau. Kết quả là 1 bên thành công khiến cho nước Nhật trở thành cường quốc thế giới chỉ trong một thời gian ngắn, 1 bên thất bại và như mọi người đã biết Việt Nam vẫn là một nước nghèo nàn, lạc hậu, nhược tiểu. Kết quả trái ngược đó là do phương pháp của 2 ông khác nhau. Trong khi Nguyễn Trường Tộ gửi hết kiến nghị này đến kiến nghị khác lên vua Tự Đức và triều đình nhưng không được lắng nghe, thì Fukuzawa đã tự tìm cho mình một hướng đi hoàn toàn khác. Trọng tâm trong phương pháp của ông không phải là chính phủ (triều đình) mà là toàn thể dân chúng Nhật Bản. Ông mở trường dạy học, viết sách, truyền bá tư tưởng đổi mới của mình cho thanh niên Nhật. Ông tự tách mình ra khỏi chính phủ, không phụ thuộc vào chính phủ, không cần chính phủ phải nghe kiến nghị của mình. Nhưng ông đã đạt được mục tiêu to lớn: khai sáng và nâng cao dân trí của dân Nhật, khiến cho Nhật phát triển phồn thịnh.
Tôi đồng tình với tâm huyết vì đất nước của các vị nhân sĩ trí thức nước ta, nhưng không nghĩ cách gửi kiến nghị lên quốc hội, bộ chính trị sẽ đạt kết quả, mà sẽ lại đi theo vết xe đổ của Nguyễn Trường Tộ mà thôi.
Lý Như Đô đã nói
Khốn nỗi ở VN hiện nay,nếu mở,lập cái gì đó thì nhiêu khê lắm-nhất là những người có tư tưởng KHÁC NHÀ NƯỚC,ĐẢNG-Dẫu sao có những tiếng nói này còn hơn là biết bao người chỉ ngậm miệng ăn tiền,hưởng bổng lộc của phe cánh.
Sáu Xí đã nói
Các Bác ơi! Mấy ông này toàn là lũ … Chúng ta là dân đen, mấy ổng là Quan mà. Mấy Ổng Chủ quyền Biển cho mấy thằng Tàu đó. Toàn là lũ nịnh không à. Huống hồ chi Người cầm đầu trong .. là Thằng … chủ nghĩa bảo thủ, và nhượng bộ cho thằng Phương Bắc. Nó rình rập Đất Nước ta từ lâu. Nói theo nghề điện ảnh đó là Ê Kíp của nó.
dân thường đã nói
Rất đồng tình với “Người Cầm Bút”. Cách làm của người Nhật thật chí lý.
Bản kiến nghị cứ thu thập nhiều ý kiến ủng hộ (về nội dung), thêm nhiều địa chỉ và số điện thoại để liên lạc là tốt rồi.
Theo tôi, nội dung bản kiến nghị thì được, nhưng gửi đến những địa chỉ đó thì không nên. Cái thể chế “độc tài tập thể” nhưng lại lắm phe nhiều cánh thì sẽ không bao giờ nghe ý kiến của ai cả. Họ thiếu dân chủ và đoàn kết, nhưng họ vẫn tồn tại được bên nhau để cai trị dân – Có thời người ta đẻ ra chức danh “cố vấn ban CHTƯĐ”, nhưng rồi họ có thèm nghe cố vấn đâu. Nhhuwngx cố vấn NV Linh, VV KIệt, VN Giáp … rồi cũng phát chán, khi hiểu ra mình không còn là kẻ thống trị nữa.
Đòi hỏi kẻ thống trị thay đổi cách cai trị ư? Lại còn dậy khôn họ thì quả là không ổn!
võ quang luân đã nói
Tôi nhất trí với các điều kiến nghị, và ủng hộ nhữngx người ký tên vào bản kiến nghị này.
Ho Hoi đã nói
Thay vi kien nghi hay doi lai la tuyen cao nghe va co tinh khang dinh hon, chung ta dau can xin xo gi bon nay.
Khách đã nói
Lê Quý Đôn nói nguy cơ mất nước:
- Trẻ không kính già
- Trò không trọng Thầy
- Binh kiêu tướng thoái
- Tham nhũng tràn lan
- Sĩ phu ngoảnh mặt
Sĩ phu Bắc hà nói nguy cơ mất nước:
- Quan quyền hống hách dọa nạt dân lành,
- Dân đói khổ không biết cứu giúp
- Phản loạn tràn lan không dẹp nổi
- Quan tham không trừng trị
- Giặc đến không dám đánh
- Pháp độ hỏng nát không biết sửa đổi
- Sủng ái những kẻ không có đức
- Đưa lên ngôi cao những kẻ không thực tài
- Ban thưởng lớn cho kẻ không có công
- Giang sơn xã tắc rối loạn
- Trong đục không minh bạch
- Rác vướng không dọn dẹp
- Nhơ bẩn không gột rửa
- Người trung thực không được tin dùng.
dân thường đã nói
Thực trạng Việt nam hiện tại đang ở mức báo động cao ngất.
deleted đã nói
Theo Tạ Duy Anh : “Một nén nhang muộn cho Nguyễn Khải”
Xét đến cùng thì chỉ một người có học vấn, có chính kiến riêng, mới được coi là trí thức. Một dân tộc mà thiếu vắng những nhà phản biện, là một dân tộc vô phúc. Một chính thể luôn tuyệt đối hóa mình, đồng nghĩa mình với lẽ phải để từ đó coi mọi ý kiến không giống mình là sai trái, là một chính thể không có tương lai. (Chính thể Xô-viết và các chính thể Đông Âu trước năm 1990 là ví dụ hiển nhiên. Thực ra ở những chính thể ấy không thiếu những nhà phản biện lớn, như trường hợp nước Nga. Nhưng năm 1922 Lenin đã ký lệnh trục xuất hơn 200 trí thức hàng đầu của nước Nga (chứ không giết). Những trí thức này nói như Doxtoiepxki là hàng ngàn năm nước Nga tồn tại chỉ để có nhiệm vụ sinh ra họ. Lệnh trục xuất này thực chất là lệnh khai tử nhà nước Liên Bang gần 70 năm sau). Nó chỉ quan tâm đến cái trước mắt, tức là rất vô trách nhiệm với dân tộc. Và thế là, thay vì cần trí thức, cần những nhà phản biện với vai trò làm thức tỉnh chính nó, nó chỉ cần những kẻ học thuộc lòng. Mà chỉ học thuộc lòng, cho dù là thuộc những điều cao xa nhất, được coi là kinh điển và không phải ai cũng làm được, thì cũng vẫn chả hơn gì là một thứ nô bộc. Bởi vì kẻ học thuộc lòng, răm rắp làm theo, dù nhân danh bất cứ điều gì, kể cả tình yêu tổ quốc, cũng là kẻ trục lợi vì bản thân trước hết. Nó giống hệt với kẻ ngậm miệng ăn tiền về bản chất. Nhưng bất hạnh hay là nực cười thay, những kẻ như vậy, những kẻ học thuộc ăn tiền, nói theo ăn tiền… lại luôn là những kẻ có quyền định đoạt số phận không chỉ cho giới trí thức, mà đôi khi là số phận của cả một dân tộc. Bằng chứng cho điều này là thứ dễ tìm nhất, cả trong lịch sử nước nhà lẫn lịch sử thế giới. Còn nếu cần đơn cử một vài nạn nhân của cái thủ đoạn quen thuộc từ ngàn năm nay mà những kẻ xu thời áp dụng để hãm hại những trí thức hàng đầu là vu cáo chính trị, thì cũng không mất quá một phút để liệt kê ra, nào là Lê Văn Thịnh, Trần Trung Tá, Chu Văn An, rồi Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Trãi… cho đến sau này là Cao Bá Quát và gần đây hơn chính là nhóm Nhân Văn Giai Phẩm. Tuy chỉ cần chưa đầy một phút để nhắc đến ngần ấy cái tên, nhưng điều đáng buồn lại cũng ở đó. Cái bảng danh sách những kẻ sỹ dám từ bỏ lợi lộc, dám nói thật, dám bất chấp nguy hiểm để được sống như một kẻ sỹ hóa ra cũng vô cùng ngắn ngủi.
BanmaiVN đã nói
Ở đây làm gì có luật pháp, phép tắc gì hết, chỉ có luật rừng, luật của hổ báo nên kiến nghị sẽ rơi tõm vào cái hố sâu hun hút, không có chút ánh sáng nào.
Khách đã nói
Tôi tán thành ý kiến cho rằng : Không cần kiến nghị, mà là tuyên bố của những người yêu nước, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ dân.
Khách đã nói
Tôi tán thành ý kiến cho rằng : Khoong cần kiến nghị, mà là tuyên bố của những người yêu nước, bảo vệ tổ quốc, bảo vệ dân.
trinhngoctoan đã nói
Trước hết chúng ta tìm hiểu nguyên nhân từ đâu toàn vẹn lãnh thổ của nước ta đang bị uy hiếp, xâm phạm nghiêm trọng ?
Và nếu Bộ Chính trị , Quốc hội và Ban Chấp hành Trung ương Đảng [....] là người của Tầu cọng cài đặt từ lâu thì sao ? Vậy thì KIẾN NGHỊ VỀ BẢO VỆ VÀ PHÁT TRIỂN ĐẤT NƯỚCTRONG TÌNH HÌNH HIỆN NAY có tác dụng hay sự để mắt vào của Quốc hội và Bộ Chính trị không ?
Trong khi Tầu cọng đã thành công ý đồ xâm lược mềm của bọn họ 90% trên lãnh thổ và biển đảo .
Ðiều quan trọng là nhà cầm quyền csVN có tôn trọng và lắng nhge tiếng nói của giới Nhân sĩ Trí thức và Toàn Dân một lòng đưa Tổ quốc chúng ta thoát khỏi hiểm họa Bắc triều , phát triển bền vững trong hòa bình là trách nhiệm thiêng liêng của mọi người Việt Nam ta không ?
tnt
NGUYỄN KHÁNH đã nói
TÔI RẤT TÁN THÀNH LÒNG YÊU NƯỚC VA DŨNG CẢM CỦA CÁC ANH.CHÚNG TA HÃY ĐỒNG LÒNGĐỨNG LÊN LÀM LẠI TRANG SỬ MỚI CHO DÙ ĐIỀU ĐÓ RẤT NGUY HIỂM NHƯNG TÔI VẪN ỦNG HỘ CÁC ANH
Nguyễn Bình Phương Việt đã nói
Biểu tình phản đối xâm lược mà lại bị nhân viên công lực của quốc gia bị xâm lược đàn áp, vậy thì trong mắt cái chính phủ này đã không có nhân dân rồi. 18 vị nhân sĩ đã đòi rạch miệng một mụn ghẻ đang mưng mủ thì khác gi 18 anh hùng Lương Sơn Bạc, trong lòng dân là anh hùng nhưng vào triều thì cũng chỉ là thảo khấu.
bieu tinh đã nói
Hay cho toan dan VN cung ki ten kien nghi
Lê Hoàn đã nói
Kiến nghị không chỉ gửi tới Quốc hội, Bộ Chính trị. Kiến nghị còn để toàn dân biết, ý nguyện của nhân dân, thái độ của lãnh đạo Đảng trước an nguy của đất nước.
Vì vậy, không nên bỏ lỡ cơ hội ký tên, nếu bạn yêu tha thiết Tổ quốc VN
Tin thứ Bảy, 16-07-2011 của ANHBASAM | phamdinhtan đã nói
[...] ý: Bản Kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay (10/7/2011) của các nhân sĩ, trí thức gửi Quốc hội và Bộ Chính trị, được Ba [...]
ngudot đã nói
Dù biết là bản kiến nghị khó có thể được chấp nhận một cách tuyệt đối nhưng tôi vẫn ký tên ủng hộ vì qua đó lãnh đạo Đảng và nhà nước sẽ có một đối sách chiến lược cho đất nước trong tình hình hiện nay
Qua anh ba sam cho tôi gửi lời tri ân đến các nhân sĩ trí thức đã bỏ công sức, tâm huyết để nghiên cứu rà đưa ra bản kiến nghị này
lưu lạc đã nói
Chỉ vẫn là “đàn gảy tai trâu” mà thôi! Tìm cách khác đi!
KhôngOán đã nói
Tôi hoàn toàn ủng hộ bản kiến nghị này, đáng tiếc là những việc các Nhân sỹ trí thức làm vẫn không được nhà nước tôn trọng, tạo điều kiện để Kiến nghị này được phổ biến đến toàn dân bằng các phương tiện truyền thông đại chúng, cho nên đồng bào sẽ ít người biết, sẽ khỏi phải bàn. Thôi thì, chưa thành công cũng thành NHÂN, chứ không thể ngồi nhìn nguy cơ mất nước lù lù trước mặt.
Đỗ Như Ly đã nói
Không hiểu cái niềm tin quá chừng nhỏ nhoi của tôi còn lại lần này có bị thất vọng ê chề không đây?Vì tôi còn chút hy vọng là lần này chí ít là Quốc Hội,Bộ Chính trị cũng có lấy vài chữ trả lời theo phép lịch sự tối thiểu, chứ lại như không nghe thấy,như câm ,như mù theo cái văn hóa …lờ thì thật là thảm hại cho đời sống văn hóa,chính trị của dân ta!…Nhưng hãy CHỜ ĐẤY,HÃY ĐỢI ĐẤY bà con ạ.!
Vatinam + đã nói
( Ủng hộ Anh Ba và các Trí Thức – http://vatinam.blogspot.com )
Lê Thanh Huy đã nói
Gởi Anh 3, Tôi muốn kí tên vào Kiến nghị trên, và kêu gọi mọi người khác cùng kí tên để bản đề Nghị có thêm trọng lượng thì phải làm sao ?
Editor: Bác xem đầu trang này có hướng dẫn:
Những ai tán thành và tự nguyện ghi danh vào văn bản Kiến nghị đăng dưới đây xin vui lòng gửi về địa chỉ: kiennghi1007@gmail.com, sẽ có người chuyên trách thâu nhận và lên danh sách. Kính mong quý vị ghi rõ họ tên, nghề nghiệp, địa chỉ cư trú, địa chỉ e-mail và nếu có thể cả số điện thoại, để khi cần Nhóm soạn thảo có thể liên lạc.
nguyễn văn Đức đã nói
kiến nghị Bauxite rồi kiến nghị trả tự do cho Cù Huy Ha Vũ nay đến kiến nghị bảo vệ và phát triển đất nước nếu họ không trả lời như những lần trước thì các vị phải làm sao? vừa rồi Bộ ngoại giao có thèm trả lời gì với kiến nghị của 18 vị nhân sĩ trí thức.
Tin thứ Bảy, 16-07-2011 « BA SÀM đã nói
[...] ý: Bản Kiến nghị về bảo vệ và phát triển đất nước trong tình hình hiện nay (10/7/2011) của các nhân sĩ, trí thức gửi Quốc hội và Bộ Chính trị, được Ba [...]
Sáu Xí đã nói
Anh Ba Sàm ơi! Lên đại biểu càng nói thật thì nhiệm kỳ của Đại Biểu sẽ toi luôn. Phải làm hội đồng ừ đi. Dạ!, Bẩm Quan…! vậy mới lên như dều gặp gió. Nếu căng thì mất chức như chơi đó.
Tôi thiết nghĩ hình như sắp đến ngày tận thế vậy.