Articles  Privacy

 

BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘Môi trường’ Category

1022. Tám lý do Việt Nam sẽ có lợi nếu chính phủ hoãn xây nhà máy điện hạt nhân

Posted by basamnews on 22/05/2012

Vài nét về tác giả: Ông Phùng Liên Đoàn theo học ở Mỹ từ năm 1958. Năm 1961, ông có các bằng cử nhân về toán và vật lý ở Trường Đại học Florida (Florida State University) và bằng thạc sĩ về vật lý và hạt nhân ở trường MIT (Massachusetts Institute of Technology) năm 1963. Năm 1972, ông lấy bằng tiến sĩ về kỹ thuật hạt nhân cũng tại trường MIT.

TS Phùng Liên Đoàn đã làm việc tại Trung Tâm Nguyên Tử Đà Lạt từ năm 1964-1966. Từ năm 1972 tới 1983, ông làm việc cho các nhà máy điện hạt nhân của các công ty Mỹ và viện khảo cứu Institute for Energy Analysis. Từ 1983 đến nay, ông là Chủ tịch và Tổng Giám Đốc Công ty Tư vấn Nguyên tử và Môi trường PAI Corporation.

(Ghi chú: Sau khi bài được đăng ngày 22/5/2012, tác giả đã chỉnh sửa lại nhiều đoạn, đã được cập nhật vào 9h sáng 23/5/2012.)

——–

Boxitvn

Tám lý do Việt Nam sẽ có lợi nếu chính phủ hoãn xây nhà máy điện hạt nhân

Phùng Liên Đoàn

22-05-2012

Chuyên viên an toàn, môi trường và kinh tế Điện hạt nhân đã làm việc tại Mỹ 40 năm

Nước Việt Nam đang đi ngược lại xu hướng trên thế giới là phải hết sức thận trọng trong việc xây nhà máy điện hạt nhân (ĐHN) vì hai lý do chính: ĐHN có rủi ro gây tai nạn phóng xạ, và ĐHN rất đắt tiền. Việc đi ngược lại xu hướng này không phải vì ViệtNamcó một nền kinh tế mạnh hoặc một đội ngũ chuyên viên ĐHN chuyên nghiệp như Nga, Nhật, Đức, Mỹ, Pháp… mà vì lãnh đạo ta có một quyết tâm chính trị rất cao và có quyền không cần tham khảo ý dân. Quí vị lãnh đạo ta biết hết, lại tin vào lời báo cáo của cấp dưới là trong tương lai ta rất thiếu điện và ĐHN thế hệ lò thứ ba rất an toàn. Ngay sau biến cố Fukushima lãnh đạo ta vẫn khẳng định mạnh mẽ hơn thủ tướng Đức và thủ tướng Nhật là Việt Nam vẫn tiến tới việc xây nhà máy ĐHN.

Đọc tiếp »

Đăng trong Môi trường, Đảng/Nhà nước | Tagged: , | 100 phản hồi »

987. MỜI KÝ TÊN VÀO THƯ PHẢN ĐỐI CHíNH PHỦ NHẬT BẢN VIỆN TRỢ XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ TẠI VIỆT NAM

Posted by basamnews on 14/05/2012

MỜI THAM GIA KÝ TÊN THƯ PHẢN ĐỐI CHÍNH PHỦ NHẬT BẢN CHO  VIỆT NAM VAY TIỀN XÂY NHÀ MÁY PHÁT ĐIỆN NGUYÊN TỬ.

Chúng tôi vừa soạn lá thư gởi chính phủ Nhật Bản phản đối việc cho chính phủ hiện nay của Việt Nam vay khoảng 10 tỷ USD xây nhà máy phát điện nguyên tử trong khi đó tại chính Nhật Bản, trước sự chống đối và đòi hỏi của dân chúng Nhật Bản, tất cả 54 nhà máy điện nguyên tử đều phải ngưng hoạt động và kế hoạch xây thêm nhà máy phát điện hạch tâm mới tại Nhật bị hủy bỏ.

Xin giới thiệu lá thư phản đối tiếng Anh và tiếng Việt với đồng bào có quan tâm sâu xa đến những hậu quả tại hại không lường của việc dùng Uranium trong sản xuất điện tại Việt Nam.

Ngày 21 tháng 05 năm 2012 chúng tôi sẽ gởi thư này đến Thủ Tướng Nhật Bản, Bộ Ngoại Giao Nhật Bản, Toà Đại Sứ Nhật Bản tại Hà Nội và một số cơ quan công tư tại Nhật Bản.

Mời anh chị từ khắp nơi cùng tham gia ký tên với chúng tôi vào lá thư trước khi được chính thức gởi đi.

Xin liên lạc email chúng tôi qua địa chỉ: hungthuoc@yahoo.com

Chúng tôi hân hạnh đón nhận mọi ý kiến đóng góp.

Trân trọng

Giáo Sư Nguyễn Thế Hùng, Tiến Sĩ Nguyễn Xuân Diện, Kỹ Sư Nguyễn Hùng

email: hungthuoc@yahoo.com

 

Kính thưa quí bác và anh chị.

Dưới đây là thông tin về kết quả công tác vận động và gởi thư phản đối xây nhà máy hạt nhân đến hai chính phủ Nhật Bản và Nga.

Kính đề nghị xét phổ biến trên trang web để bà con tham gia ký tên cho thư phản đối biết, va cùng lúc vận động người Việt đứng lên chống lại việc làm quá tai hại cho đất nước. Theo chúng tôi biết thì bà con trong ngoài nước đang mong tin này.

Xin chân thành cám ơn quí bác và anh chị.

Thân kính

T/M GS Nguyễn Thế Hùng, TS Nguyễn Xuân Diện

Nguyễn Hùng

 

KHÁNG THƯ gửi Nhật Bản (bản Tiếng Việt)

KHÁNG THƯ gửi NGA (bản Tiếng Việt)

 

PROTEST AGAINST JAPANESE

PROTEST AGAINST RUSSIA

 
 

THÔNG TIN KẾT QUẢ VIỆC GỞI THƯ PHẢN ĐỐI CHÍNH PHỦ NHẬT VÀ NGA CHO VAY XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN TAỊ NINH THUẬN VIỆT NAM.

 

Kính thưa bà con trong ngoài nước,

Ngày 14/05/2012 chúng tôi phổ biến trên các diễn đàn dự thảo thư phản đối việc Nhật Bản, cho Việt Nam vay xây nhà máy điện hạt nhân và mời  tham gia cùng chúng tôi ký tên cho những lá thư gởi cho Nhật Bản, dự trù gởi ngày 21/05/2012.

Trong thời gian tiếp nhận thêm người Việt khắp nơi tham gia ký tên, và với ý kiến của nhiều người, chúng ta cũng gởi thư phản đối tời chánh quyền Nga cùng lúc với thư phản đối Nhật Bản.

Ngày 21/05/2012 lúc 12 giờ trưa tại Việt Nam chúng tôi đã gởi thư phản đối có khoảng 460 chử ký của người Việt và một số nước khác cho chính phủ Nhật Bản gồm Toà Đại Sứ Nhật Bản tại Hà Nội, Thử Tướng và Bộ Trưởng Bộ Ngoại Giao Nhật Bản tại Tokyo. Sau đó chúng tôi gởi thư phản đối tương tự cho Toà Đại Sứ Nga tại Hà Nội, Tổng Thống, Thủ Tướng và Bộ Trưởng Bộ Ngoại giao Nga tại Moscow.

Xin trân trọng báo tin này đến cùng mọi người.

Chi tiết công tác gởi thư qua bưu điện và chi tiết của những lá thư phản đối bắng tiếng Anh được đính kèm.

Để việc phản đối được liên tục, chúng tôi sẽ tiếp nhận thêm sự ủng hộ tham gia thư phản đối xây nhà máy điện hạt nhân tại Việt Nam. Xin email cho biết tên, chuyên môn (nếu được), nơi cư ngụ.

Chúng tôi đề nghị bà con người Việt trong ngoài nước bỏ ra chút ít thời gian và tiền tem gởi thư, hoặc copy lá thư mà chúng ta vừa gởi đi cho chính quyền Nhật Bản và Nga hay một lá thư khác hoặc tự viết vài câu, gởi thư đến toà đại sứ Nhật Bản và Nga tại Hà Nội (dân chúng trong nước) cho chính quyền Nhật Bản, Nga (người Việt tai Nhật Bản và Nga và nước khác). Thí dụ:

” CHÚNG TÔI KHÔNG MUỐN CÓ NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN TẠI Ở BẤT CỨ NƠI NÀO TẠI VIỆT NAM.

CHÚNG TÔI CỰC LỰC PHẢN ĐỐI NHẬT BẢN, NGA CHO VAY TIỀN VÀ BÁN THIẾT BỊ XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN HẠT NHÂN CHO VIỆT NAM. 

CHÚNG TÔI YÊU CẦU NGƯNG NGAY KẾ HOẠCH XÂY NHÀ MÁY ĐIỆN NGUYÊN TỬ TẠI VIỆT NAM

CHÚNG TÔI KHÔNG MUỐN CÓ CHERNOBYL, FUKUSHIMA TẠI VIỆT NAM”.

” WE DO NOT WANT TO HAVE A NUCLEAR POWER PLANT ANYWHERE IN VIETNAM.

WE STRONGLY OPPOSE JAPAN, RUSSIA ON LENDING MONEY, SELLING EQUIPMENTS AND CONSTRUCTING NUCLEAR POWER PLANTS IN VIETNAM.

WE DEMAND AN IMMEDIATE STOPPING OF THE PLAN TO BUILD NUCLEAR POWER PLANTS IN VIETNAM

WE DO NOT WANT CHERNOBYL , FUKUSHIMA IN VIETNAM”

Trân trọng

Thay mặt,

Nguyễn Hùng
email: hungthuoc@yahoo.com

 
 

—————————————————————————————————————————–

Danh Sách ký tên:

1. Nguyễn Thế Hùng, Professor, Danang University of  Technology,Việt Nam

2. Nguyễn Xuân Diện, PhD, Hà Nội, ViệtNam

3. Nguyễn Hùng,Engineer,Australia

4. Đỗ KhắcHồng, Germany

5. Nguyễn Thi Hoa,USA

6. Trần HoàiNam,Australia

7. Nguyễn Thiệu Quang,Australia

8. Nguyễn ThịNhị Em,Germany

9. Trần Ngọc Tiến Dũng,PhD,Canada

10. Nguyễn Thi Thu, Bình Thuận, ViệtNam

11. Lê Bá Thành, Ninh Thuận, ViệtNam

12. Nguyễn Phú Thứ,HoChiMinhCity, ViệtNam

13.Nguyễn Thanh,Australia

14. Nguyễn Thị Châu,Australia

http://tuoitre.vn/The-gioi/490627/Hon-20-truong-hoc-o-Fukushima-nhiem-phong-xa-cao.html

http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-17533398

http://records.photodharma.net/ecology/damage-to-the-nuclear-power-plant-at-fukushima

http://en.wikipedia.org/wiki/Fukushima_Daiichi_nuclear_disaster

Danh sách người ký tên bước đầu vừa được nhóm khởi xướng gửi tới sáng 15/5:

LIST OF 472 SINGNATORIES COLLECTED FROM 14 MAY 2012
REQUESTING THE TO CANCEL
THE NUCLEAR POWER PLANT PROGRAM IN VIETNAM.
1 Nguyễn Thế Hùng, Ph.D, Prof Danang University of Technology, Đà Nẵng Việt Nam
2 Nguyễn Xuân Diện, Ph.D, Hà Nội, Viet Nam
3 Nguyễn Hùng, Kỹ Sư, Australia
4 Đỗ Khắc Hồng, Germany
5 Nguyễn Thị Hoa, USA
6 Trần Hoài Nam, Australia
7 Nguyễn Thiệu Quang, Australia
8 Nguyễn Thị Nhị Em, Germany
9 Nguyễn Thị Thu, Binh Thuận, Việt Nam
10 Lê Bá Thành, Ninh Thuận, Việt Nam
11 Nguyễn Phú Thứ, Ho Chi Minh City, Việt Nam
12 Nguyễn Thanh, Australia
13 Nguyễn Thi Châu, Australia
14 Võ Văn Tạo, Journalist, Nha Trang, Khánh Hòa, Việt Nam
15 Nguyễn Trọng Hoàng,  Physician, France
16 Đào Thế Long, Ho Chi Minh City, Việt Nam
17 Ngô Thanh Hà, Ho Chi Minh City, Việt Nam
18 Trần Thanh Vân, Architecture, Hanoi, Việt Nam
19 Vũ Ngọc Sơn, Accountant, Hanoi, Vietnam
20 Vũ Anh Tuấn, Architecture, Vũng Tàu, Việt Nam
21 Vũ Thị Nhuận, Ph.D, Medical Institute, The University of Tokyo, Japan
22 Nguyễn Vĩnh, retired Journalist, Hà Nội
23 Nguyễn Thanh Phong, Kugenuma Kaigan Fujisawa-City, Kanagawa 251  Japan
24 Lâm Dũng, Bachelor of Physics, ồ Chí Minh City, Việt Nam
25 Nguyễn Trường Giang, teaching staff, Thai Nguyen University of Technology
26 Tống Đình Huân, Hàm Thuận, Bình Thuận, Việt Nam
27 Đỗ Toàn Quyền, Engineer, Ho Chi Minh City, Việt Nam
28 Vũ Hải Long, Ph.D, retired, Institute of Atomic Energy of Vietnam, Việt Nam
29 Nguyễn Xuân Thọ, Broadcast Engineer, Germany
30 Nguyễn Anh Tuấn, Ho Chi Minh City, Việt Nam
31 Nguyễn Tiến Việt, Hà Nội, Việt Nam
32 Phạm Xuân Yêm, Ph.D, Research Director at CNRS and University Paris VI, France
33 Bùi Tường Anh, Hà Nội, Việt Nam
34 Nguyễn Trung Kiên, Hà Nội, Việt Nam
35 Phạm Minh Tân, Hà Nội, Việt Nam
36 Nguyễn Mathieu, Ph.D in Linguistic, France
37 Lê Hồng Phú, Electronic Engineer, Hà Nội, Việt Nam
38 Dominic Irlande, Journalist, Lyon, France
39 Thanh Thảo, Journalist, Quảng Ngãi, Việt Nam
40 Trần Minh Thảo, Lâm Đồng, Việt Nam
41 Nguyễn Hùng, Telecommunication Engineer, Đồng Nai, Việt Nam
42 Tô Lê Sơn, Bachelor of Economics, Ho Chi Minh City, Việt Nam
43 Phạm Thi Rinh, Retired Public Servant, Ho Chi Minh City, Việt Nam
44 Nguyễn Hồng Khoái, Accounting Concultant, Hà Nội, Việt Nam
45 Trần Xuân Nam, Ph.D, Hà Nội, Việt Nam
46 Trịnh Duy, Liguistic consultant, Manila, Philippines
47 Lò Văn Một, Tày Ethnic,  Cao Bằng, Việt Nam
48 Trần Quốc Hùng, Ho Chi Minh City, Việt Nam
49 Nguyễn Phúc Thành, Ho Chi Minh City, Việt Nam
50 Lê Minh Hoàng, Businessman, Germany
51 Huỳnh Quang Lê, Sài Gòn, Việt Nam
52 Nghiêm Ngọc Trai, Civil Engineer, Hà Nội, việt Nam
53 Trần Văn Tính, Graphic Design, Ho Chi Minh City, Việt Nam
54 Trần Thị Thanh Tâm, Warszawa, Poland
55 Nguyễn Jung, Saarland, Germany
56 Kim Ngọc Cương, Retired Economic Consultant, Hà Nội, Việt Nam
57 Phùng Mạnh Cường, Berlin, Germany
58 Hoàng Tiến Cường, Hà Nội, Việt Nam
59 Nguyễn Anh Tuấn, University Student, Quảng Trị, Việt Nam
60 Đặng Lợi Minh, High school Teacher, Hãi Phòng, Việt Nam
61 Huỳnh Văn Thuận, Master of Law, Bình Định, Việt Nam
62 Vũ Đình Bon, Ph.D, USA
63 Lê An Vi, MA Linguistic, Bulgari
64 Trần Lương Sơn, Washington DC, USA
65 Phạm Đ, USA
66 Trương Đức Tuấn, IT consultant,  USA
67 Phạm Thanh Lâm, Engineer, Copenhagen, Denmark
68 Nguyễn Văn Hòa, Electrical Engineer, Germany
69 Song Chi, Artist, Film Director, Norway
70 Hoàng Anh Trung, Hà Nội, Việt Nam
71 Doãn Kiều Anh, Ho Chi Minh City, Việt Nam
72 Phạm Huỳnh Hương, Institute od Sociology, Hà Nội, Việt Nam
73
74 Nguyễn Minh Đức, Assistant Chief Editor, Electronic Magazine, Hà Nội, Việt Nam
75 Ngụy Hữu Tâm, Ph.D, Hà Nội, việt Nam
76 Đinh Văn Dũng, Research Student, Austria
77 Phạm Antoine, Paris, France
78 Boverie Carole, Switzerland
79 Nguyễn Trọng Nhân, Photographer, Tiền Giang, Việt Nam
80 Phạm Mạnh Tuân, Bắc Ninh, Việt Nam
81 Phạm Toàn Thắng, Hradec, Czech Republic
82 Vũ Minh Trí, Hà Nội, Việt Nam
83 Nguyễn Văn Mừng, Sóc Trăng, Việt Nam
84 Thái Văn Tự, IT Engineer, Nghệ An, Việt Nam
85 Nguyễn Khánh Việt, Department of Foreign Affairs, Hà Nội, Vietnam
86 Nguyễn Hữu Nhiên, Hồ Chi Minh City, Việt Nam
87 Khai Tâm, Matsuyama, Japan
88 Nguyễn Minh Hồng, France
89 Vũ Quốc Ngữ, MSc, Hà Nội, Việt Nam
90 Nguyễn Thị Nga, Củ Chi, Ho Chi Minh city, Việt Nam
91 Nguyễn Đăng Nhật, Huế, Việt Nam
92 Nguyễn Minh Trình, Koblenz, Germany
93 Nguyễn Thị Bích Hằng, Koblenz, Germany
94 Nguyễn Phong Anh, Koblenz, Germany
95 Đinh Thị Hồng, Koblenz, Germany
96 Nguyễn Thạch, USA
97 Nguyễn Văn Khải, Priest, Italy
98 Trần Mai Sanh, Germany
99 Bùi Thạch Hãn, Bachelor of Law, Berlin, Germany
100 Nguyễn Thanh Song Cầm, Lecturer, Hue University  Language Faculty, Việt Nam
101 Trần Văn Minh, California, USA
102 Trần Tình Lê, Munich, Germany
103 Dương Tự Lập, Munich, Germany
104 Giang Hồng, Germany
105 Nguyễn Đức Hậu
106 Phương Đức Dao, Student, Sweden
107 Lê Hồng Hà, Washington, USA
108 Nguyễn Văn Tiến, Ho Chi Minh City, Việt Nam
109 Vũ Thiệu, Australia
110 Trương Tuấn Phát, Victoria, Australia
111 Trần Bích Lệ, victoria, Australia
112 Trương Hoài Nam, Victoria, Austrlia
113 Trương Hoài Bảo, Victoria, Australia
114 Trương Hoài Long, Victoria, Australia
115 Trương Tú diệp, Victoria, Australia
116 Lê Bá Thương, California, USA
117 Nguyễn Thanh Thuyết, MSc, Hà Nội, Việt Nam
118 Mai Xuân Đông, Ph.D, Hà Nội, Việt Nam
119 Hoàng Thị Thu Phượng, Biên Hòa, Đồng Nai, Việt Nam
120 Nguyễn Đức Hậu, Oregon, USA
121 Ho Nam Joo, Incheon, South Korea
122 Ho Thi Da Thu, Seoul, Korea
123 Nguyen Thi Thuy Hoa, Gimpo, South Korea
124 Kim Sin, Incheon, South Korea
125 Trần Tiến Đức, Television Film Director, Hà Nội, việt Nam
126 Đinh Trọng Thắng, Public Servant, Hà Nội, Việt Nam
127 Võ Tâm, California, USA
128 Trần Như Lực, Businessman, Nha Trang. Việt Nam
129 Lê Kim Song, Ph.D, Lecturer, Murdoch University, Australia
130 Nguyễn Văn Vinh, Việt Nam
131 Phạm Đình Dương, Australia
132 Trần Văn Bình, Ph.D, Germany
133 Trần Đức Huấn, Herbalist, Sai Gon, Việt Nam
134 Nguyễn Vĩnh Nguyên, Elctronic Engineer, Hà Nội, Việt Nam
135 Nguyễn Tiến Luân, Xuân Lộc, Đồng Nai, Viet Nam
136 Đào Thanh Thủy, Hà nội
137 Trần Quý Huy, Hà nội
138 Trần Văn Hà, Nam Định, Việt Nam
139 Phạm Văn Phong, Bachelor of Economic, Hà Nội
140 Trần Thị Nga, Phủ Lý, Hà Nam, Việt Nam
141 Tạ Đăng Toàn, Kim Giang, Hà Nội
142 Hoàng Gia Cương, Poet, Hà Nội
143 Nguyễn Văn Lịch, Hà Nội
144 Trần Thanh Trúc, Vũng Tàu, Việt Nam
145 Đặng thị Hoàng Hà, MBA, Hà Nội, Việt Nam
146 Nguyễn Quốc Cẩm, BSc, Hà Nội, Việt Nam
147 Nguyễn Đức Hùng, Ho Chi Minh City, Việt Nam
148 Nguyễn Ích Tráng, Qui Nhơn, Bình Định, Việt Nam
149 Tô Đình Đài, USA
150 Trần Quốc Huy, Sài Gòn, Việt Nam
151 Phan Thanh Niên, Đà Nẵng, Việt Nam
152 Hoàng Tâm Tâm, Ho Chi Minh City, Việt Nam
153 Phạm Thị Lâm, Retired Public Servant, Hà Nội, Viêt Nam
154 Lê Văn  Tuynh, Phan Thiết, Bình Thuận, Vietnam
155 Nguyễn Anh Tuấn, Teaching Staff, University of Hanoi, Hà nội, Viêt Nam
156 Lê Dũng, Hà Nội, Việt Nam
157 Ngô Điều, Hà Nội, Việt Nam
158 Phan Tri Phương Thảo, Australia
159 Hà Sĩ Phu, Ph.D, Đà lạt, Vietnam
160 Nguyễn Kim Liên, Sydney, Australia
161 Trần Linh, USA
162 Từ Kishi, USA
163 Trần Giàu, USA
164 Trần Hayle, USA
165 Trần Vian, USA
166 Vũ Thanh Dương, USA
167 Lý Hiếu Kim, USA
168 Từ Lợi, USA
169 Đặng Tài Mạnh, USA
170 Võ Hoàng Nguyễn, USA
171 Trần Văn Thạch, Hà Nội, Việt Nam
172 Trần Van Nam, Hải Dương, Hà Nội
173 Hoàng Giang, Engineer, Hải Phòng, Viêt Nam
174 Nguyễn Hoàng, Australia
175 Trần Minh Thế, Ph.D, Hà Nội, Việt Nam
176 Nguyễn Quốc Thản, Engineer, Tokyo, Japan
177 Nguyễn Đức Huy, Lâm Đồng, Việt Nam
178 Ngô Kim Hoa, Jounalist, Saigon, Vietnam
179 Cù Thanh Thủy, Graphic Designer, Sydney, Australia
180 Nguyễn Thiên Nhân, BA Commerce, Bình Dương, Vietnam
181 Nguyễn Ngọc Minh, Ho Chi Minh City, Vietnam
182 Nguyễn Văn Hiến, Victoria, Australia
183 Đương Đán, Engineer, Australia
184 Phạm Văn Thám, Hà Tĩnh, Vietnam
185 Inrasara, Cham Culture Researcher, Ninh Thuận, Vietnam
186 Nguyễn Chính, Lawyer, Nha Trang, Vietnam
187 Phero Nguyễn anh Dũng, Sài Gòn, Việt Nam
188 Nguyễn Thiết Thạch, Sài Gòn, Vietnam
189 Hà Ngọc Quyết, University Student, Ho Chi Minh City, Vietnam
190 Hoàng Robin, Seatle, Washington, USA
191 Nguyễn Brenda, California,USA
192 Bùi Trung Nguyên, IT Engineer, Hà Nội, Vietnam
193 Nguyễn Nam .Public Servant, Bình Dương, Vietnam
194 Nguyễn Hiếu, University Student, Binh Dưong, Vietnam
195 Lê Văn Huân, Engineer, Bình Dương, Vietnam
196 Đinh Văn Thành, Director of Finance, Thủ Đức,  Ho Chi Minh City, Vietnam
197 Đặng Minh hiệp, IT Engineer, Ho Chi Minh City, Vietnam
198 Đoàn Khánh, San Jose, USA
199 Đỗ Thịnh, PhD in Economics, Hoàng Mai, Hà Nội, Vietnam
200 Ninh Vân Anh, Engineer, Hà Nộì, Vietnam
201 Nguyên Ngọc, Writer, Quảng Ngãi, Vietnam
202 Trần minh Phát, Ship Steering Engineer, Biên hòa, Đồng Nai, Vietnam
203 Ngô Đức Thọ, Historical Việt Linguistic Researcher, Hà Nội, Vietnam
204 Nguyễn Thị Thúy Hà, Student, University of Van Lang, Hanoi, Vietnam
205 Nguyễn Hải Đăng, Businessman, Ba Đình, Hà Nội, Việtnam
206 Nguyễn Tấn Lộc, Chemical Engineer, Khánh Hòa, Vietnam
207 Hồ Hoàng  Hưng, Sài Gòn, Vietnam
208 Ngô Thái Vân, Public Servant, Sài Gòn, Vietnam
209 Lê Trung Hiếu, Thanh Khê, Đà Nẳng, Vietnam
210 Đặng Văn Lượng, Communication Engineer, Hà Nội, Vietnam
211 Lê Quốc Quân, Lawyer, Hà Nội, Viêtnam
212 Nguyễn Quí kiên, Hà nội, Vietnam
213 Hoàng Toàn Thắng, Assìstant Prof, University of Thai Nguyên, Việtnam
214 Nguyễn Thanh Hà, Huế, Vietnam
215 Trần Hải, Civil Engineer, Ho Chi Minh City, Vietnam
216 Nguyễn Thị Khánh Trâm, Researcher, Ho Chi Minh City, Vietnam
217 Ngô Minh Tín, University Student, Ho Chi minh City, Vietnam
218 Trần Đức Thạch, Poet, Nghệ An, vietnam
219 Nguyễn Vũ Dân, Mechanical Engineer, Ho Chi Minh City, Vietnam
220 Đào Tiến Thi, MA, Hà Nội, Vietnam
221 Phùng hoài Ngọc, MA Linguistic, University of An Giang, Vietnam
222 Đào Phương Thảo, Medical Student, Vietnam
223 Phạm Duy Uyên, Hànội, Vietnam
224 Nghiêm Phong, Hà Nội, Vietnam
225 Nguyễn Thiện Tống, Assistant Prof, National University of Hochiminh City
226 Lê Vân Anh, Germany
227 Thạch Quang Hải, Hà Nội, Vietnam
228 Đinh Chẩn, Rome, Italy
229 Nguyễn Đình Hà, Bachelor of commerce, Hà nội, Vietnam
230 Pascal Nguyễn Ngọc Tính, Catholic Priest, Ho Chi minh City, Vietnam
231 Trương Đăng Ái. Ninh Thuận, Vietnam
232 Đào Văn Thông, Kiến An, Hải Phòng, Vietnam
233 Nguyễn Thành Chiến, Research Student, Germany
234 Nguyễn Tuấn, Australia
235 Trương Khánh Ngọc, Civil Engineer, Huế, Vietnam
236 Nguyễn Mạnh Tài, Engineer, Japan
237 Nguyễn Minh châu, Cologne, Germany
238 Hoàng Đức Nhuận, Saigon, Vietnam
239 Bùi Công Tự, Ho Chi Minh city, Vietnam
240 Trần Quốc Hưng, Đồng Nai, Vietnam
241 Lâm Vĩnh Phúc, Ho Chi Minh City, Vietnam
242 Đỗ Tiến Trung, Hải Phòng, Vietnam
243 Nguyễn Văn Hùng, Priest, Australia
244 Nguyễn Bữu, Texas, USA
245 Nguyễn Văn Hùng, Ho Chi Minh City, Vietnam
246 Đỗ Như Lý, Engineer, Ho Chi Minh City, Vietnam
247 Huỳnh Thanh Phi, University Student, Ho Chi Minh City, Vietnam
248 Nguyễn Thành Tiến, University Student, National University of Hanoi, Vietnam
249 Phan Thế Vân, Medical Doctor, Ho Chi Minh City, Vietnam
250 Hoàng Quí Thân, Ph.D, Hà Nội, Việtnam
251 Lê Quỳnh Mai, Engineer, University of Road and Transport, Hà Nội, Vietnam
252 Đỗ Ngọc Tùng, Engineer, Hà Nội, Vietnam
253 Âu Dương Thệ, Ph.D, Germany
254 Nguyễn Hữu Trường Thành, Western Australia,  Australia
255 Sở Tụê Dung, Hà Nội, Vietnam
256 Hà Hưng Quốc, Ph.D, Texas, USA
257 Đào Hùng, Hà Nội, Vietnam
258 Nguyễn An Liên, Đà Nẵng, Vietnam
259 Hugger Markus Bugermeister, Germany
260 Jochum Harald, Germany
261 An Gertrud, Germany
262 Babara Reidke, Germany
263 Oliver Kayali, Germany
264 Hildegard Schweizer, Germany
265 Dieald Dedic, Germany
266 Honiscke Benjan, Germany
267 Berger Achim, Germany
268 Pradapngoen Trutt, Germany
269 Haurich, Germany
270 Klein, Germany
271 Bart, Germany
272 Hitzfeld, Germany
273 Rabold Eva, Germany
274 Elsaber Ingrid, Germany
275 Schweizer B, Germany
276 Hkassel Aleandra, Germany
277 Frank Mollenburg, Germany
278 Todorovic Maja, Germany
279 Knezevid Sozanna, Germany
280 Labomat, Germany
281 Bartl ,Germany
282 Trần Thị Hương, Germany
283 Trần Phong, Gloggnitz, Austria
284 Nguyễn Ngọc Thanh, Germany
285 Đào Thị Thoa, Germany
286 Trần Thùy Linh, Germany
287 Nguyễn Thị Thanh Hà, Ph.D Student, New Zealand
288 Lê Thị Minh Trang, Accountant, Bowling Gree, KY, USA
289 Phạm Văn Tú, USA
290 Trần Mai Anh, Đống Đa, Hà Nội, Vietnam
291 Đào Minh Châu, Ph.D, Senior Programme Officer, Hanoi, Vietnam
292 Vũ Thị Hương Giang, Journalist Tuoi Tre Newspaper, Hanoi Vietnam
293 Hà Văn Thùy, Vietnam
294 Khương Lý Bạch , Germany
295 Lê Dũng, Engineer, Hanoi, Vietnam
296 Nguyễn Xuân Hoài, Saigon, Vietnam
297 Hà Văn Chiến, Kiến Xương, Thái Bình, Vietnam
298 Phạm Peter, San jose, USA
299 Phạm Huy, Ph.D Student,  San Jose, CA, USA
300 Phạm T Tieny, Public Healthcare Manager, Berkley, CA, USA
301 Phạm Liễu, San Jose, CA, USA
302 Hồ Thị Hồng Phúc, Business proprietor, San jose,CA, USA
303 Lê Tina, Business proprietor, San Jose, USA
304 Nguyễn Xuân Cường, Quảng Trị, Vietnam
305 Dương Văn Minh, Biên Hòa, Đồng Nai, Vietnam
306 Trần Ngọc Danh, Ph.D Mathematics, Houston, Texas, USA
307 Nguyễn Đức Trường, Architecture,  France
308 Ngô Minh, Huế, Vietnam
309 Minh Tâm, Huế, Vietnam
310 Trần Ngọc Ánh, MBA Education, Boston, USA
311 Lương Công Trung, University Lecturer, Nha Trang, Vietnam
312 Chân Tín, Catholic Priest, Saigon, Vietnam
313 Nguyễn Hữu Giãi, Catholic Priest, Huế, Vietnam
314 Phan Văn Lợi, Catholic Priest, Bắc Ninh, Vietnam
315 Nguyễn Thanh Cường, business proprietor, Hochiminh City, Vietnam
316 Nguyễn Lê Bình Yên, Engineer, vietnam
317 Phạm Trọng Khà, Richardson, USA
318 Ngô Xuân Thuỷ, Mechanical Engineer, Saigon, Vietnam
319 To Oanh, Teacher, Bắc giang, Vietnam
320 Phạm Văn Lễ, Civil Engineer, Saigon, Vietnam
321 Nguyễn Phước Vĩnh Tây, Ph.D, California, USA
322 Lê Hiền Đức, Anti-Corruption Worker, Hanoi, Vietnam
323 Lê Joseph, Accountant, Australia
324 Nguyễn Thụy, Engineer, Canada
325 Văn Phú Mai, Quảng Nam, Việtnam
326 Nguyển Lượng, Medical Doctor, University of New Mexico, USA
327 Đinh Đạt, Gelderland, Holland
328 Lê Nga, Acupuncturist, Brisbane, Australia
329 Thụ Quyên, Dentist, Germany
330 Tô Viết Thuấn, Medical Doctor, Post Grad. Researcher, Munich, Germany
331 Dương Thu, Interpreter, Munich, Vietnam
332 Nguyễn Việt Hưng, Architecture, Hanoi, Vietnam
333 Trần Thị Nga, Factory Worker, Germany
334 Vũ Đình Kh. , writer, Canada
335 Đinh Quốc Phong, Hochiminh City, Vietnam
336 Đinh Thị Tuyết, Lâm Đồng, Việt Nam
337 Nguyễn Thị Huyền Trân, Hochiminh City, Việt Nam
338 Nguyễn Thị Trang , Nghệ An, Việt Nam
339 Lê Văn Hoàng, Bến Tre, Việt Nam
340 Hoàng Gia Sơn, Hải Phòng, Việt Nam
341 Nguyễn Văn Pháp, Biotechnology Engineer, Đồng Nai, Vietnam
342 Nguyễn Thị Ngọc Lãm, Phú Nhuận, Hochiminh City, Vietnam
343 Trần Hạnh, Library Technician,Victoria, Australia
344 Tô Minh Chí, Victoria, Australia
345 Trần Thu, Victoria, Australia
346 Đào Anh Trường, Post Grad. Student, Architecture, France
347 Vũ Thị Bích, Paris
348 Vũ Jenny, Communication Engineer, Germany
349 Huỳnh Văn Anh, Phan Rang, Ninh Thuận, Vietnam
350 Vũ Ngọc Thọ, WA, Australia
351 Nguyễn Trọng Thành, Luthiana
352 Trần Hữu Tâm, Western Australia, Australia
353 Trần Văn Bang, Engineer, Hochiminh City, Vietnam
354 Thịnh Dũng, Hà Nội, Vietnam
355 Trần Quang, Belleville, NY, USA
356 Dương Toi, Florida, USA
357 Phạm Ngọc Trường, Tours, France
358 Đỗ Quý, M.I.T., Consultant, Melbourne, Australia
359 Đỗ Duy Vương, USA
360 Nguyễn Hoàng Quí, Hảỉ Dương, Vietnam
361 Đỗ Huy Vũ, Seatle, USA
362 Lê Toàn, Đà Nẵng, Vietnam
363 Mai Thái Lĩnh, Researcher, Đà Lạt, Vietnam
364 Huỳnh Nhật Hải, Retired, Đà Lạt, Vietnam
365 Huỳnh Nhật Tấn, Retired, Đà Lạt,Vietnam
366 Nguyễn Thị Phương Hoa, BSc Physics, Hochiminh City, Vietnam
367 Trần Văn Bình, Ph.D, Hochiminh City, Vietnam
368 Bùi Dương Chí, USA
369 Nguyễn Kim Hoàng, Hochiminh City, Vietnam
370 Nguyễn Thiện Tống, Ph.D, Vietnam
371 Nguyễn Thịnh Lê, Ph.D, Lecturer, Clausthal University of Technology, Germany
372 Nguyễn Tuấn Anh, Engineer, Hải Phòng, Vietnam
373 Nguyễn Thị Hảo, Shillim, Kwanag-ku, Seoul, South Korea
374 Inrajaya, Ethnic chăm, Saigon, Vietnam
375 Nguyễn Thị Minh Phương, Hochiminh City, Vietnam
376 Nguyễn Trường Hưng, Thomastown, Victoria, Australia
377 Trịnh Tuấn Dũng, Agriculture Engineer, Hà Đông, Hanoi, Vietnam
378 Trần Văn Khoan, Vũng Tàu, Vietnam
379 Nguyễn Thế Hải, Retired Public Servant, Hanoi, Vietnam
380 Nguyễn Thượng Kính, Medical Doctor, Hanoi, Vietnam
381 Vũ Khánh Thanh, MBE, Great Britain
382 Trần Kim Thập, Maths Dept, Balcatta Senior High School, Balcatta WA, Australia
383 Nguyễn Minh Trí, Risk management Consultant, Germany
384 Nguyễn Quang Minh, Senior Petroleum Economist, Norway
385 Ngô Văn Hải, Factory Worker, Yên Bái, Vietnam
386 Nguyễn Thị Minh Thúy, Volunteer teacher, Đà Nẵng, Vietnam
387 Đặng Quý, Office Staff, Washington, USA
388 Trần Đình Lâm, Hanoi, Vietnam
389 Nguyễn Công Sơn, Vietnamese Oversea Student, Finland
390 Hà Vĩnh Tiên, Russian Translator, Hanoi, Vietnam
391 Nguyễn Nhạn, Business proprietor, Sydney, Australia
392 Đỗ Đăng Liêu, Australia
393 Hoàng chiến, Germany
394 Dư Thị Hoàn, Writer, Hải Phòng, Vietnam
395 Nguyễn XuânThịnh, Teacher, Hochiminh city, Vietnam
396 Lê Hồng Phong, Accountant, Hanoi, Vietnam
397 Đặng Thanh Huyền, Student, Faculty of Commerce, University of Danang, Vietnam
398 Julia Hughes, English Teacher, Balcatta Senior High School, Balcatta WA, Australia
399 Thái Văn Đô, Sacramento, California, USA
400 Khâu Thị Quốc Hoa, Tampere, Finland
401 Ngô Thị Yến, Perth, Australia
402 Trần Kim Thạnh , Medical Dortor, Health Department of WA, Australia
403 Te-Yu Hung, Medical Doctor,  Health Department of WA, Australia.
404 Trần Kim Nhật – Finance Consultant, Perth, Australia
405 Lê Thế Hiệp, Architecture, Vietnam
406 Phạm Ngọc Cảnh Nam, Writer, Cẩm Lệ, Đà Nẵng, Vietnam
407 Dương Quốc Lộ, Đà Nẵng, Vietnam
408 Lê Dạ Lý, Incheon South Korea
409 Nguyễn Ngọc Bích, Euicheonbu, South Korea
410 Kim Soo Jin, Incheon, South Korea
411 Đặng Minh Thi, Seoul, South Korea
412 Lê Kim Nga, Hwaseong, South Korea
413 Nguyễn Thị lợi, Osan, South Korea
414 Trần Thu Hà, Hwaseong, South Korea
415 Phạm Thị Châu Ngân, Swaseong, Southorea
416 Trần Thị Thao, Jecheon, South Korea
417 Trần Thùy Dung, Sunchang, South Korea
418 Ngô Khoa Bá, MBA, Houston,Texas, USA
419 Nina Schwarz ,   Germany
420 Sarah Schulz ,   Germany
421 Joachim Störk ,  Germany
422 Aläx Burchert  ,  Germany
423 Jan Wehrhold ,  Germany
424 Alicia Redwitz ,  Germany
425 Julia   Gutbrrod ,  Germany
426 Trần Công Khánh,  Hải Phòng, Vietnam
427 Nguyễn Thúy Diễm Hồng, Thomastown, Victoria, Australia
428 Nguyễn Thúy Như Hương, Thomastown, Victoria, Australia
429 Nguyễn Thúy Diệu Hằng, Thomastown, Victoria, Australia
430 Nguyễn Thúy Quỳnh Hoa, Thomastown, Victoria, Australia
431 Nguyễn Quốc Hưng, Thomastown, Victoria, Australia
432 Chương Văn Hà, Fairfield, Australia
433 Trần Viết Thụy, Belgium
434 Ysa Cosiem, Ethnic chăm, Rockville, Maryland, USA
435 Lý Thanh Liêm, Chandler, AZ, USA
436 Lý Thu, Chandler, AZ, USA
437 Lý Minh Tú, Chandler, AZ, USA
438 Lý Khôi, Chandler, AZ, USA
439 Nguyễn Đình Sĩ, Civil Engineer, Vancouver, Canada
440 Bui Trang, Accounting clerk, Westminster, CA, USA
441 Trịnh Thị Hảo, Biên Hòa, Đồng Nai, Vietnam
442 Nguyễn Thanh Caroline Springs, Victoria, Australia
443 Trần Thị Diệp, Caroline Springs, Victoria, Australia
444 Nguyễn Quốc Bình,  St. Albans, Victoria, Australia
445 Phạm Thị Gái, St. Albans, Victoria, Australia
446 Phạm Xuân Huy, Cầu Giấy, Hanoi, Vietnam
447 Ngô Khiết, Hochiminh City, Vietnam
448 Phạm Đức Tuấn, Retailer, Saigon, Vietnam
449 Trần Thế Phong, MA in Linguistic, Melbourne, Australia
450 Trần Quốc Thành, Free Trader, Hochiminh City, Vietnam
451 Nguyễn Kevin, Toronto, Canada
452 Bùi Laura, Toronto, Canada
453 Nguyễn Thế, Nha Trang, Khánh Hoà, Vietnam
454 Đào Văn Tùng, Writer, Mỹ Tho, Tiền Giang, Vietnam
455 Trần Thế Yên, Electrical Engineer, Mỹ Tho, Vietnam
456 Đoàn Kiều Nga, Chanhassen, Minnesota, USA
457 Đoàn Văn Lang, Houston, Texas, USA
458 Tô Minh Quảng, Houston, Texas, USA
459 Lê Hữu Đào, Vietnamese Community, Liége, Belgium
460 Nguyễn Minh Tiến, Hải PHòng, Vietnam
461 Hoàng Quý Thân, Ph.D, Assistant Prof, Hanoi, Vietnam
462 Trương Tấn Phát, Keyborough, Victoria, Australia
463 Trần Bích Lệ, Keyborough, Victoria, Australia
464 Trương Hoài Nam, Keyborough, Victoria, Australia
465 Trương Hoài Bảo, Keyborough, Victoria, Australia
467 Trương Hoài Long, Keyborough, Victoria, Australia
468 Trương Tú Diệp, Keyborough, Victoria, Australia
469 Thế Hải, Đóng Đa, Hanoi, vietnam
470 Bùi Tường Anh, ex-senior specialist, Ministry of Planning and Investment, Vietnam
471 Pham Minh Tân, Specialist, Telecommunication System, Vietnam
472 Nguyễn Trung Kiên, Specialist, Telecommunication System, vietnam

——————–

21 May 2012

Prime Minister Yoshihito Noda

Cabinet Office, Government of Japan

1-6-1 Nagatacho

Chiyoda-ku,Tokyo100-8914 JAPAN

Email: Kanteihp-info@cas.go.jp

C/c: Minister for Foreign Affairs Koichiro Gemba

Kasumigaseki 2-2-1, Chiyoda-ku,Tokyo100-8919, Japan:

Japanese Ambassador toVietnamYasuaki Tanizaki

27 Phố Liễu Giai, Hà Nội (soumuhan@vnn.vn)

PROTEST AGAINST THE JAPANESE GOVERNMENT ON PROVIDING FINANCIAL AIDS TO BUILD NUCLEAR POWER PLANTS IN VIETNAM, AND DEMAND AN IMMEDIATE CANCELLATION OF THIS IMMORAL AND DISCRIMINATORY ACT.

Dear Prime Minister,

On 4 May 2012,Japan’s Hokkaido Electric Power Co shut down the last nuclear power plant of the 54 such facilities inJapan. This action has officially ceased the production of electricity by means of nuclear fission from Uranium in all ofJapan.

The decision of Japanese government came as the result of the catastrophic near “meltdown” explosion and emission of deadly radioactive materials from the nuclear power plant in Fukushima Daiichi after the severe earthquake and Tsunami inFukushimaregion in 11 March 2011.

The catastrophic disaster of theFukushimanuclear plant has been affecting millions of Japanese living in the vicinity of this power plant stretching as far as 100km or more from the plant in the short term and the whole ofJapanas well the East Asian region, not to say around the world, for many years to come. This catastrophic disaster was just short of the severity of the scale of catastrophic nuclear power plant explosion in Chernobyl in 1986 which killed hundreds of thousands of  Russian people in the then Soviet Union, ruined the life of many more millions people in Russia, Ukrainian for many generations and contaminated a vast area of Northern Europe with deadly radioactive materials for thousands of years.

Even with the highly advanced Japanese nuclear technology comparing with the rest of the world and the strict safety requirements and controls put in place by the Japanese government and her people upon the nuclear power industries, the seems to be impossible nuclear accident would ever occur, even a small mishap, did happen in catastrophic scales within the Fukushima nuclear complex. This has caused grave concerns from the population ofJapan.

People of Japanstrongly demanded the whole nuclear power plant scheme to cease operation and no more nuclear power plant to be built in Japan. The Japanese government and Parliament have acted promptly and decisively, resulting with all operational nuclear power plants in Japan have now stopped operation. The last plant, the 54th nuclear power plant, ceased operation on 4 May 2012. Similar actions have been taking place to rid off nuclear plants inGermany andSwitzerland. TheUS had stopped building new nuclear power plants even before this terrible accident, and many other countries have since vowed to no longer engage with nuclear power.

The Japanese government have decided to close all their 54 nuclear power plants after the catastrophic disaster of the Fukushima nuclear power plant, therefore they must not give financial assistances as well as allowing Japanese companies to sell or build nuclear power plants to other countries around the world.

On contrary to the decision to stop all existing nuclear power plants as well as any plant to build new plant in the future inside Japan for fear of accidents from those nuclear power plants affecting the health and well-being of its people as well as the country’s economy, the government of Japan recently approved the program of assisting and aiding Vietnam to build a nuclear power plant in Phan Rang, Ninh Thuan Province.

This is an irresponsible action if not an inhuman and immoral action of the Japanese government toVietnamand her people. This is a blatant act of discrimination against the welfare and safety of Vietnamese people in comparing with the people inJapan, if not to be considered as an unlawful act and against human beings, morally. If the government ofJapanhad decided to close all its 54 nuclear power plants, they must not give financial assistance as well as not allow Japanese companies to sell or build nuclear power plants in other countries.

We, the concerned Vietnamese from inside and outside ofVietnam, write this letter to you to protest against your government’s decision on giving aids to the Vietnamese government to build a nuclear power plant inVietnam. We strongly urge you and your government to reverse immediately this discriminative, irresponsible and immoral act.

Sincerely yours

On behalf of concerned Vietnamese

Prof Nguyen The Hung, Dr Nguyen Xuan Dien, Nguyen Hung.

Contact email: hungthuoc@yahoo.com

List of signatories:

1. Nguyễn Thế Hùng, Professor, DanangUniversityof Technology,Việt Nam

2. Nguyễn Xuân Diện, PhD, Hà Nội, ViệtNam

3. Nguyễn Hùng,Engineer,Australia

4. Đỗ KhắcHồng, Germany

5. Nguyễn Thi Hoa,USA

6. Trần HoàiNam,Australia

7. Nguyễn Thiệu Quang,Australia

8. Nguyễn ThịNhị Em,Germany

9. Trần Ngọc Tiến Dũng,PhD,Canada

10. Nguyễn Thi Thu, Bình Thuận, ViệtNam

11. Lê Bá Thành, Ninh Thuận, ViệtNam

12. Nguyễn Phú Thứ,HoChiMinhCity, ViệtNam

13.Nguyễn Thanh,Australia

14. Nguyễn Thị Châu,Australia

http://www.bbc.co.uk/news/world-asia-17533398

http://records.photodharma.net/ecology/damage-to-the-nuclear-power-plant-at-fukushima

http://tuoitre.vn/The-gioi/490627/Hon-20-truong-hoc-o-Fukushima-nhiem-phong-xa-cao.html

http://en.wikipedia.org/wiki/Fukushima_Daiichi_nuclear_disaster

Đăng trong Kinh tế Việt Nam, Môi trường, Quan hệ quốc tế | Tagged: | 275 phản hồi »

982. Dự án Ecopark không xứng đáng được nhận giải Kiến trúc Xanh

Posted by basamnews on 12/05/2012

Một cái giải lờm lợm hơi tiền, mới được lập ra, được trao cho một “công trình” còn lâu mới hoàn thiện, như thể một âm mưu nhắm “đi tắt đón đầu”.

Một nghi vấn mà dường như chưa ai nói tới, đó là (có lẽ có đến) ngàn vạn gốc cây rừng lâu năm bị chặt trụi lá, cành để “tái định cư” ở khắp công trình này. Nghe nói chúng được nhổ lên từ tận rừng núi Trường Sơn. Vậy không biết các vị trong hội đồng xét giải có lưu ý tới thành tích bứng, phá, làm thui chột cây rừng này không?

Và cùng với nghi vấn trên là một bằng chứng hiển hiện với hàng vạn cây cảnh của nông dân Văn Giang bị tàn phá, có nằm trong tiêu chí xét giải, là cướp phá môi trường xanh của đa số người nghèo, ban phát cho thiểu số kẻ giàu? 

RFI Tiếng Việt

Dự án Ecopark không xứng đáng được nhận giải Kiến trúc Xanh

Thụy My phỏng vấn KTS Ngô Viết Nam Sơn


Theo kiến trúc sư Ngô Viết Nam Sơn, giảng viên đại học tại Bắc Mỹ, chuyên gia về kiến trúc và quy hoạch, thì việc “khu đô thị sinh thái Ecopark” có tên trong số dự án được Hội Kiến trúc sư Việt Nam trao giải Công trình Kiến trúc Xanh 2012 chỉ mang tính khuyến khích. Theo ông thì các dự án cần phục vụ cho cộng đồng, chứ không phải đẩy cộng đồng ra ngoài.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Môi trường, Văn hóa | Tagged: , | 38 phản hồi »

879. Việt Nam thèm khát sừng tê giác, mặt hàng đắt giá hơn cả cocain

Posted by basamnews on 07/04/2012

Mercury News

Việt Nam thèm khát sừng tê giác, mặt hàng đắt giá hơn cả cocain

Tác giả: Mike Ives

Người dịch: Phạm Xuân

Ngày 03-04-2012

Hà Nội, Việt Nam – Nguyễn Hương Giang rất khoái tiệc tùng nhưng cô lại ghét say xỉn, vì thế cô thường kết thúc những trận rượu linh đình bằng mấy ngụm nước pha với sừng tê được cạo ra bằng một chiếc đĩa sứ đặc biệt.

Bố của Giang tặng cho cô một miếng sừng màu nâu dài 4 inch (khoảng 10cm), và giải thích rằng nó có thể chữa lành mọi bệnh tật từ đau đầu cho tới ung thư. Người Việt Nam hiện nay đang rất bị ám ảnh bởi thứ vật chất giống móng tay mà giá bán còn đắt hơn cả ma tuý này.

“Tôi không biết chính xác giá của nó là bao nhiêu,” Giang, năm nay 24 tuổi, nói với chúng tôi sau khi cho chúng tôi xem miếng sừng tại căn hộ chung cư của cô, nơi có thể ngắm nhìn toàn cảnh Thủ đô Hà Nội, “Tôi chỉ biết là nó rất đắt tiền.”

Đọc tiếp »

Đăng trong Môi trường, Pháp luật | 16 phản hồi »

858. Giới chuyên gia cảnh báo về nguy cơ đập Sông Tranh 2

Posted by basamnews on 02/04/2012

RFI Tiếng Việt

Giới chuyên gia cảnh báo về nguy cơ đập Sông Tranh 2

Đức Tâm phỏng vấn GS Nguyễn Khắc Nhẫn, Grenoble – Pháp

Nghe audio phỏng vấn


Đập thủy điện Sông Tranh 2 bị rò rỉ nghiêm trọng, gây lo ngại về an toàn cho người dân miền Trung. RFI phỏng vấn chuyên gia Nguyễn khắc Nhẫn, nguyên cố vấn Nha kinh tế, dự báo, chiến lược EDF Paris, giáo sư Viện kinh tế, chính sách năng lượng Grenoble, về những nguy cơ đối với dự án này.

RFI : Kính chào giáo sư Nguyễn Khắc Nhẫn, báo chí trong nước đưa tin đập Sông Tranh 2 bị rạn nứt, rò nước. Giáo sư có liên lạc với các đồng nghiệp bên nhà để biết thêm thông tin gì không và với những thông tin mà giáo sư có, thì giáo sư đánh giá tình trạng đập Sông Tranh 2 ra sao? Nguy hiểm đến mức độ nào?

GS Nguyễn Khắc Nhẫn : Kính chào anh, kính chào quý bạn thính giả. Anh bỏ điện hạt nhân, phỏng vấn tôi về năng lượng tái tạo thủy điện, tôi rất phấn khởi và xin cảm ơn anh. Thú thật với các bạn: từ gần 2 tuần nay, tôi theo dõi hơi thở của đập Sông Tranh 2 từng giờ phút, qua các tin tức của bạn bè trong nước hay trên mạng. Lý do cũng dễ hiểu thôi: Tôi rất lo sợ cho đồng bào miền Trung, nơi tôi sinh trưởng. Quê nội của tôi ở Tam Kỳ. Thủy điện là mối tình đầu của tôi trong nghề nghiệp năng lượng.

Đọc tiếp »

Đăng trong Kinh tế Việt Nam, Môi trường | Tagged: , | 12 phản hồi »

817. Trà Vigia: Chăm trong lò hạt nhân

Posted by basamnews on 19/03/2012

Inrasara.com

Trà Vigia: Chăm trong lò hạt nhân

Nhà thơ Inrasara *

Người xưa có câu: “Biết thì thưa thốt, không biết thì dựa cột mà nghe” cho nên tôi luôn thận trọng khi phải nói điều gì. Lời nói mây bay gió thoảng chỉ nên cao hứng khi trà dư tửu hậu, còn bút sa thì gà chết nên khi viết lại càng cân nhắc hơn! Khổ là: nghe người xưa chưa đủ mà còn phải biết nghe người nay mà hậu sinh thì luôn khả úy, và chưa chắc tôi đã thông minh hơn học sinh lớp Năm! Tất cả vì tương lai con em của chúng ta không chỉ là khẩu hiệu mà phải là hành động trong định hướng và dẫn đường. Sai một ly đi một dặm, những gì có thể nói và đáng được làm trong hôm nay thì không nên để ngày mai.

Đọc tiếp »

Đăng trong Dân chủ/Nhân Quyền, Kinh tế Việt Nam, Môi trường | Tagged: , , , , | 67 phản hồi »

785. Dự án hạt nhân Việt Nam quá tham vọng?

Posted by basamnews on 04/03/2012

BBC Việt ngữ

Dự án hạt nhân Việt Nam quá tham vọng?

Quốc Phương

BBC Tiếng Việt

Cập nhật: 13:56 GMT – thứ sáu, 2 tháng 3, 2012

Nhật Bản đóng cửa 52 lò phản ứng hạt nhân sau vụ Fukushima.

Việt Nam đang có một chương trình điện hạt nhân “tham vọng vào loại bậc nhất trên thế giới” với giấc mơ về hạt nhân đang “đâm hoa đua nở” trong lúc đang có lo ngại về chúng, theo tờ báo Mỹ The New York Times, 01/3/2012.

Đọc tiếp »

Đăng trong Kinh tế Việt Nam, Môi trường | Tagged: , , , | 68 phản hồi »

566. XUNG QUANH HỘI NGHỊ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 2011

Posted by basamnews on 16/12/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ năm, ngày 15/12/2011

XUNG QUANH HỘI NGHỊ VỀ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU 2011

(Đài Ôxtrâylia 12/12)

Hội nghị về biến đổi khí hậu của Liên hợp quốc ở Durban, Nam Phi với sự tham gia của 190 quốc gia đã kết thúc với một thoả thuận mới mang tính ràng buộc giữa tất cả các quốc gia về việc cam kết cắt giảm khí thải trước năm 2020. Thoả thuận cam kết cắt giảm khí thải này được xem là bước tiến nối Nghị định thư Kyoto. Tất cả các nước sẽ ký vào thỏa thuận từ đây cho đến năm 2015.

Gia hạn Nghị định thư Kyoto

Theo thỏa thuận mới đạt được tại hội nghị năm nay, giai đoạn đầu tiên cắt giảm khí thải bắt đầu từ năm 2008 và kết thúc vào năm 2012. Giai đoạn thứ hai từ 1/1/2013 đến cuối năm 2017.

Hội nghị cũng đã đồng ý gia hạn Nghị định thư Kyoto trong 5 năm nhưng các luật sư sẽ phải điều chỉnh lại các chi tiết của nghị định thư để phù hợp với lộ trình cắt giảm khí thải mới được Liên minh châu Âu đề xuất.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Môi trường | 2 phản hồi »

545. XAYABURI: CON CỜ DOMINO TRONG CHUỖI ĐẬP Ở KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG MÊ CÔNG

Posted by basamnews on 10/12/2011

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

XAYABURI: CON CỜ DOMINO TRONG CHUỖI ĐẬP

Ở KHU VỰC HẠ LƯU SÔNG MÊ CÔNG

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ sáu, ngày 9/12/2011

(Đài RFA 4/12)

Nếu không trì hoán được ít nhất một thập niên, Xayaburi như con cờ Domino đầu tiên đổ xuống, sẽ kéo theo những bước khai thác ồ ạt các con đập hạ lưu khác và hậu quả tác hại trước mắt và lâu dài trên toàn hệ thống sinh thái của sông Mê Công và đồng bằng sông Cửu long là không thể lường trước được.

Lịch sử chuỗi đập ở hạ lưu sông Mê Công

Từ những năm 1940, các nhà xây đập Mỹ đã quan tâm tới tiềm năng thủy điện của con sông Mê Công. Năm 1957, giữa thời kỳ Chiến tranh lạnh, với sự bảo trợ của Liên Hợp Quốc, một Ủy ban sông Mê Công thành lập bao gồm 4 nước Thái Lan, Lào, Campuchia và Việt Nam với văn phòng thường trực đặt tại Băng Cốc. Ủy ban sông Mê Công thời đó đã có một kế hoạch vĩ mô phát triển toàn diện nhằm cải thiện cuộc sống cho toàn thể cư dân sống trong lưu vực, trong đó phải kể tới chuỗi những con đập thủy điện trên vùng hạ lưu sông Mê Công. Cho dù có một nửa chiều dài sông Mê công chảy qua Vân Nam nhưng Trung Quốc lúc đó còn là một quốc gia khép kín và đã không được nhắc tới.

Đọc tiếp »

Đăng trong Môi trường, Trung Quốc, ĐBS Cửu Long | 2 phản hồi »

Khi dòng Mekong cuồn cuộn đổ ra biển,nỗi bất an còn lại hai bên bờ

Posted by basamnews on 23/02/2010

Southern California Public Radio

Khi dòng Mekong cuồn cuộn đổ ra biển, nỗi bất an còn lại hai bên bờ

Michael Sullivan, National Public Radio

20-2-2010

 

Sông Mekong ở Việt Nam được biết đến với cái tên Cửu Long, tức Chín Rồng, nơi các dòng nước được tách ra và chảy ra Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông]. Ở Đồng bằng Sông Cửu Long, sự bùng nổ kinh tế đã đem tới giàu có cho một số người, nhưng nghèo đói cho một số người khác và những lo lắng về mối đe dọa đối với con sông.

Trong thời gian chiến tranh Việt Nam diễn ra, những chiếc tàu tuần tra của Hoa Kỳ được sử dụng để hoạt động liên tục trên dòng sông Mekong gần biên giới với Cambodia.

Ngày nay, những chiếc tàu du lịch đưa người ngoại quốc từ thủ đô Phnom Penh, Cambodia, tới vùng biên giới trong chuyến du ngoạn dài ba giờ.

Sau trạm dừng chân ngắn ngủi tại cửa khẩu nhập cảnh là một chuyến đi ngắn tới Châu Đốc, thị trấn sông nước ở miền Nam Việt Nam. Đây là khu đô thị lao động, thực sự không phù hợp với du khách, nhưng vẫn cho nhiều trải nghiệm – nhiều điều mà bạn muốn biết, nhưng nhiều điều thì không.

Tiếng kinh cầu nguyện vào giữa trưa tại Nhà thờ Hồi giáo Mubarak ở Châu Đốc có thể làm vài người ngạc nhiên. Đó là nhà thờ hồi giáo lâu đời nhất, lớn nhất và đẹp nhất ở thành phố này, nơi mà lời thông báo tới giờ cầu  kinh không được ghi vào băng nhưng vẫn được một thầy tu làm nhiệm vụ thực hiện trực tiếp.

Bài thuyết giáo được rao giảng bằng tiếng Ả-rập và kinh Coran được dịch ra tiếng Việt. Giáo đoàn tuy nhỏ nhưng thành tâm. Các tín đồ là tập hợp của nhiều khuôn mặt của những người Malay, Trung Đông và Nam Á, với sự hiểu biết rất ít về tiếng Việt.

Ông Mohamat Yosup, 75 tuổi, cho biết là tổ tiên của ông từ Malaysia, Indonesia và Ấn Độ đã đến sống ở Châu Đốc được năm thế hệ. Những người khác đã ở đây lâu hơn, ông nói; các thương gia đã đưa Hồi giáo tới Đông Nam Á vào thế kỷ thứ 11.

Những tín đồ Hồi giáo chỉ là bộ phận dân cư nhỏ bé ở đất nước mà phần lớn theo Phật giáo này, nhưng họ làm cho chúng ta nhớ tới sự trù phú của Đồng bằng sông Cửu Long, đôi khi có trở ngại [xảy ra] trong lịch sử.

Hòa bình nhưng không thịnh vượng

Không còn làm nghề sông nước nữa, ngư dân Nguyễn Văn Nghĩa, 46 tuổi, lo lắng cho cuộc sống hiện tại. Lời than vãn của ông cũng tương tự như những gì nghe được ở trên thượng nguồn Cambodia – những mẻ lưới đang nhỏ dần lại, ngày càng có thêm nhiều người cạnh tranh đánh bắt những con cá còn lại.

Ít nhất thì nó cũng còn tốt hơn thời chiến tranh, ông nói. Khi đó, người Mỹ có một căn cứ ở đây và có nhiều cuộc đụng độ. Ông kể, và tới khi chiến tranh chấm dứt năm 1975 thì có những chuyện phiền toái với người Cambodia.

Bây giờ có hòa bình. Nhưng cái hòa bình đó không đem lại cho ông đời sống thịnh vượng – nó còn xa vời.

Ông kể ông có một chiếc TV, nhưng không có tiền để trả tiền điện. Ông có một căn nhà, nhưng không đủ đất để trồng trọt. Ông tâm sự, một ngày nào đó ông sẽ không thể bắt đủ cá để thậm chí có tiền mua gas nữa.

Kinh tế tăng trưởng nhanh ở Việt Nam trong thập kỷ qua đã đưa nhiều người thoát khỏi cảnh đói nghèo. Nhưng điều đó sự thật không đúng ở tỉnh An Giang, một nơi kém phát triển nhất ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long, nơi mà tình trạng thiếu việc làm đã làm cho nhiều người có những lựa chọn khó khăn.

Ảnh hưởng của bệnh dịch HIV/AIDS

Ở Tịnh Biên, khoảng một giờ lái xe về phía tây bắc Châu Đốc, cô Phùng Thị Bảy mô tả những gì đã xảy ra khi chồng cô chạy qua biên giới Cambodia kiếm việc làm. Người phụ nữ 30 tuổi kể, trong thời gian ở đó chồng cô đã gặp những cô gái điếm và bị nhiễm HIV, ông chết chẳng bao lâu sau khi trở về nhà. Cô đã đi xét nghiệm và phát hiện mình cũng bị HIV dương tính.

Cô Bảy kể về câu chuyện của mình tại một phòng khám AIDS, nơi không thiếu những bệnh nhân loại này. Gần 300.000 người ở Việt Nam bị HIV dương tính.

“Một số bệnh nhân là phụ nữ bị lây bệnh từ chồng. Các bệnh nhân khác thuộc diện nghiện ma túy. Và một số phụ nữ từng sang làm ăn bên Cambodia, rồi rơi vào ổ mại dâm và bị nhiễm bệnh theo cách đó”, cô kể.

Nhưng cũng có tin tốt lành: cô Bảy và nhiều người khác có hoàn cảnh như cô đang nhận được sự chữa trị bằng tiền tài trợ từ một cựu thù là Hoa Kỳ.

Chính phủ Hoa Kỳ thường bị chỉ trích là đã làm quá ít để giúp đỡ Việt Nam đối phó với những tác động dài lâu của chất độc da cam gây rụng lá, chất từng được sử dụng tại nước này trong thời gian diễn ra chiến tranh Việt Nam.

Nhưng chính phủ [Hoa Kỳ] không được ghi nhận công lao nhiều, khi họ trợ giúp trong các lĩnh vực khác, ví dụ như 300 triệu đô la đã chi trong năm năm để chữa trị AIDS và giáo dục. Ngân quỹ giúp chi trả cho các loại dược phẩm về anti-retroviral [để chữa HIV] cho hơn phân nửa trong tổng số 32.000 người Việt Nam hiện đang nhận được sự chữa trị, trong đó có cô Bảy.

Lựa chọn trang trại nuôi cá

Xuôi về phía cửa sông ba giờ xe chạy là thành phố cảng Cần Thơ náo nhiệt, một cái tên quen thuộc khác đối với những người Mỹ từ thời chiến tranh. Giờ đây, nó là một thành phố tăng trưởng nhanh chóng, giàu có và sôi nổi theo như các tiêu chuẩn trong vùng, và là một trung tâm vận chuyển cho vùng châu thổ, nơi mà cứ vài phút thì có những con tàu rời thật nhanh để tới những thành phố bên con sông rộng lớn bao la này.

Cần Thơ là một thành phố đang vững vàng hướng tới tương lai, song nó cũng là nơi mà những tiếng vọng của quá khứ vẫn còn âm vang.

Chiến tranh Việt Nam đã kết thúc từ 35 năm trước. Nhưng vào một buổi sáng mới đây, những sinh viên trường Đại học Cần Thơ học kỹ thuật tháo lắp, lau chùi những khẩu súng trường tấn công Kalashnikov. Các cuộc tập luyện mang tính chất bắt buộc, mặc dù ít thường xuyên hơn so với trước đây. Và bây giờ thì người Mỹ không phải là kẻ thù, theo như các blogger Việt Nam tin tưởng như thế, mà kẻ thù là Trung Quốc, anh láng giềng bành trướng phương bắc của Việt Nam.

Tuy nhiên chuyện giao thương, chứ không phải là xung đột, có vẻ là điều ưu tiên với đa số mọi người ở đây.

Các ngư dân phàn nàn về việc đánh bắt cá bị thu hẹp lại. Nhưng nghề nuôi cá đã phát triển đáng kể trong thập kỷ qua, và nó đã giúp nâng cao mức sống cho nhiều người.

Trong giờ cho cá ăn, chủ doanh nghiệp Nguyễn Thị Loan kể về hoàn cảnh của mình, chỉ trong vài năm trước bà đã bắt đầu với chỉ một cái lồng đơn nuôi cá thôi. Giờ đây, bà đã có hơn nửa tá lồng cá và ba nhân công làm việc toàn thời gian. Bà cho biết hầu hết cá của bà được bán ra ngoài Bắc là Hà Nội, thủ đô Việt Nam. Nước này cũng xuất khẩu cá sang Âu châu và Hoa Kỳ.

Bà Nguyễn kể là xóm của bà từng được biết đến về hoạt động xuất khẩu con gái – trên danh nghĩa cung cấp các cô dâu cho những thương gia độc thân từ Đài Loan tới – nhưng [các hoạt động đó bây giờ] không còn nhiều nữa. Bà Nguyễn và chồng cho biết hiện nay họ kiếm được khoảng 17.000 đô la một năm bằng nghề nuôi cá, một con số gần như là chưa từng có trong một thập kỷ trước và là một nghề làm cho họ chắc chắn trở thành tầng lớp trung lưu ngày nay.

Mối quan tâm chính của bà bây giờ là sức khỏe của con sông. Bà lo ngại, phát triển quá mức có thể đầu độc dòng Mekong và công việc làm ăn của bà.

Những đe dọa về môi trường

Tại Cần Thơ, tôi tình cờ được tham dự một hội nghị bàn về sông Mekong và một con sông quen thuộc hơn – sông Mississippi ở Hoa Kỳ.

Stan Ponce là giám đốc trung tâm khu vực của cơ quan Khảo sát Địa chất Hoa Kỳ, một trong những nhà bảo trợ cho hội nghị.

“Có nhiều điểm giống nhau kinh khủng giữa hệ thống Sông Mississippi và hệ thống Sông Mekong, cả về văn hóa và phát triển kinh tế và khả năng tồn tại của các lưu vực sông”, ông cho biết.

“Chúng tôi cảm thấy mình có thể học được nhiều điều từ những gì đã làm cho con sông này bởi vì không có các con đê, không có quy mô công trình đập nước mà chúng tôi có. Cho nên khi chúng tôi nhìn vào việc khôi phục hệ thống sông Mississippi về lâu về dài, chúng tôi cảm thấy như chúng tôi có nhiều điều để học từ những gì đang diễn ra trong hệ thống sông Mekong này”. ông Ponce nói.

Nó là hệ thống sông mà nhà môi trường học Kỳ Quang Vinh nói là giờ đây đang bị đe dọa, đặc biệt tại đây, nước Việt Nam này.

Ông Kỳ cho biết là ông lo ngại về sự phát triển quá mức và những con đập đã được lên kế hoạch hoặc đã được xây dựng trên thượng nguồn ở Trung Quốc, Lào và Cambodia. Ông cũng lo ngại về biến đổi khí hậu và tác động của tình trạng nước biển đang dâng lên và nước biển sẽ lẫn trong nước ngọt của hệ sinh thái vùng châu thổ. Ông hy vọng các quốc gia cùng khai thác dòng sông sẽ cùng hành động để bảo vệ nó coi như là một nguồn tài nguyên cho tương lai.

Đoạn cuối của dòng sông

Ba mươi dặm về phía cửa sông, chúng tôi gần kết thúc chuyến đi, tại thành phố Mỹ Tho của vùng châu thổ. Bình minh lên rực rỡ và cửa sông chỉ còn cách có một giờ đồng hồ đi bằng xuồng cao tốc, khi người điều khiển xuồng thả một trái tạc đạn(?).

Anh cho biết là cảnh sát đường sông sẽ không cho chúng tôi đi xa thêm nữa. Người ngoại quốc không được phép tới gần cửa sông, mà chỉ có các ngư dân địa phương được phép, và thậm chí họ cũng bị kiểm tra giấy tờ, anh kể.

Tiền bạc không thể làm anh ta đổi ý, và với lý do xác đáng: cảnh sát ở đây là một bọn khét tiếng là khó chịu, hơn cả thế sau khi có những đụng độ thường xuyên với các nông dân địa phương quanh chuyện tranh chấp đất đai.

Cuối cùng, chúng tôi quay trở lại bờ, và tìm được một tài xế taxi sẵn sàng đưa chúng tôi tới đó bằng đường bộ.

Hai tiếng đồng hồ sau, lúc 9 giờ sáng, tôi đã chạm tới một trong chín cửa sông Mekong, nơi nó đổ ra Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông].

Thật tình mà nói, có một chút thất vọng. Không một bóng người. Bãi biển bẩn thỉu; ánh sáng quá chói để chụp bất kỳ bức ảnh đẹp nào.

Tuy nhiên, có cảm giác khuây khỏa khi cuối cùng đã hiện diện ở đây sau hai tháng, đi qua sáu nước và gần 3.000 dặm.

Cũng có một cảm giác giải tỏa khi biết rằng, thật là ngạc nhiên khi dòng sông vẫn khỏe, theo hầu hết thông tin thu thập được – ít nhất là cho tới lúc này.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

 

Đăng trong Môi trường | Tagged: , , | Leave a Comment »

Việt Nam: Hành hạ thể xác những con gấu

Posted by basamnews on 16/02/2010

GlobalPost

Việt Nam: Hành hạ thể xác những con gấu

“Các chủ trang trại” khắp vùng Nam Á thực hiện việc buôn bán đáng kinh tởm những túi mật gấu, thứ được định giá do chất mật đắng trong đó.

Joel Elliot – Viết riêng cho GlobalPost

Ngày 15-2-2010

 

HÀ NỘI, Việt Nam – Một con gấu ngựa cái trưởng thành, rõ ràng là bị tiêm thuốc mê, đang nhìn chòng chọc với cặp mắt lờ đờ từ bên trong “chiếc cũi chật chội” giam hãm nó – một cái chuồng quá nhỏ nên nó không thể đứng trên cả bốn chân, đành đứng trên hai chân sau.

Dù thế nào đi nữa thì nó cũng không làm được điều đó trong điều kiện khủng khiếp của mình.

Cứ hàng tháng, hàng tuần, hay thậm chí là hàng ngày, người chủ của nó đến tiêm thuốc cho nó, thông thường nhất là loại thuốc gây mê thú y (công thức C13H16CINO) – được các bác sĩ thú ý sử dụng một cách hợp pháp để gây mê cục bộ cho đối tượng nào đó, nhưng cũng được những kẻ hiếp dâm dùng một cách phi pháp với cùng mục đích – và đâm nó nhiều lần bằng một ống tiêm dài để tìm túi mật và hút dung dịch mật ra.

Các nhà hoạt động bảo vệ động vật cho biết sự phổ biến của trò đó, trong lúc những con gấu vừa nhai bàn chân mình vừa rên rỉ, đã gia tăng nhanh suốt cả thập niên này. Thế nhưng việc đột kích vào các trang trại để cứu lũ gấu, và cố gắng giáo dục công chúng, họ hy vọng sẽ hạn chế được hành động khai thác mật gấu ở các trang trại.

“Các chủ trại” khai thác mật đã mời chào dịch vụ rút mật ngay tại chỗ và bán với giá thấp hơn 2 đô la một centimet khối. Những người bào chế thuốc Bắc cổ truyền (thuốc Tàu) khẳng định rằng thành phần của nó có thể chữa khỏi một loạt các chứng bệnh, bao gồm bệnh trĩ và mù lòa.

Nhiều con gấu to bằng hoặc hơn một người đàn ông, mà khi sống trong điều kiện tự nhiên nó sẽ di chuyển hàng dặm mỗi ngày, giờ thì nó húc đầu vào những thanh chắn của chiếc lồng chật hẹp, hoặc gặm những thanh sắt, lắc lư từ bên này qua bên kia hay rống lên với những người tới thăm. Chúng bị rụng lông và răng, và khi đem so sánh với những con gấu được sống trong môi trường thuận lợi hơn thì dường như ở đây là loại gấu mắc chứng điên loạn.

 

Ngay cả những con gấu trong các trang trại lấy mật đó có vẻ không bị thương nhưng cũng không khỏe, và hầu hết các túi mật của chúng đã bị lấy đi sau khi được cứu thoát, theo lời  ông Tuân Bendixsen, Giám đốc Quỹ Động vật châu Á tại Việt Nam.

“Chúng tôi đã phát hiện ra rằng, với 80 hay 90% số gấu trong các trang trại, các túi mật của chúng không bị hủy hoại, nhưng đều trong tình trạng vô dụng,” ông Bendixsen cho biết. “Anh đâm nó quá nhiều lần trong cùng một vị trí, anh hủy hoại gan của nó, anh hủy hoại mật, và nó để lại vết sẹo”.

Ông Bendixsen nói đây là cuộc sống hàng ngày của khoảng 14.000 con gấu ngựa trên khắp Nam Á – gần một nửa số gấu loại này còn sót lại được tổ chức International Union for the Conservation of Nature liệt kê thuộc diện đang bị đe dọa. Hoạt động khai thác mật gấu là bất hợp pháp tại hầu hết các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Thế nhưng nó vẫn tồn tại dai dẳng ở đây và Ấn Độ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Lào và Cambodia, nơi mà các phòng khám Trung y dược có nhu cầu mạnh, và là nơi mà các giới chức địa phương hiếm khi thực thi luật pháp một cách nghiêm túc.

Các tổ chức nhân đạo như Animals Asia đang làm việc với chính phủ Việt Nam và Trung Quốc để cố gắng triệt tận gốc hoặc giảm bớt hoạt động khai thác mật gấu. Cho tới nay, tổ chức này cho biết họ đã cứu được 219 con gấu tại Trung Quốc và 48 con tại Việt Nam, đưa gấu Việt Nam tới một nơi nuôi dưỡng mới, rộng 12 hecta thuộc Vườn Quốc gia Tam Đảo, đầy đủ những thiết bị như vòng dây đu có treo bánh xe ở ngoài trời, đồ chơi bằng tre và một suối nước.

Vào thời điểm này, 18 con gấu mà tổ chức Animals Asia đã cứu được vài tuần trước gần Thành phố Hồ Chí Minh (Sài Gòn) và đã chuyển tới Hà Nội để chờ kiểm dịch, nơi chúng sẽ sinh sống cho tới khoảng đầu tháng ba. Thậm chí trong thời gian kiểm dịch, sự khác thường trong hành vi của chúng là đáng chú ý, bác sĩ thú y của Animals Asia, Kirsty Officer cho biết.

“Lần đầu tiên khi chúng tới đây, nhiều con không quen được với những người xung quanh [những người không phải đến để rút mật của chúng], cho nên chúng tấn công bất cứ ai tới gần”, ông Officer kể. “Nhưng trong vài tuần, chúng đã yên ổn ngồi trong chuồng của mình để đợi nhận một bữa ăn ngon lành”.

Song việc giải thoát đã trở nên quá muộn cho Raspberry, một con gấu đực trưởng thành, với những bộ phận trên cơ thể đầy những vết mưng mủ và sẹo, có nghĩa là gan và túi mật của nó đều bị sưng to. Các bác sĩ thú ý đã cố gắng cứu nó, những không có kết quả.

“Vùng bụng của Raspberry là một mớ bầy nhầy bị nhiễm trùng dẫn đến hoại tử”, bà Heather Bacon, một bác sĩ thú ý khác thuộc Animals Asia, cho biết. “Các bộ phận trên cơ thể nó rõ ràng là đã bị hoại tử. Vậy mà mật lẫn mủ trên cơ thể nó vẫn đang được hút ra để đem bán cho khách hàng.”

Vậy liệu có loại thuốc nào có giá trị chữa bệnh như thứ thuốc mà Trung y dược nhận là có khả năng chữa bệnh từ mật gấu?

Đúng và không đúng, ông Bendixsen nhận xét. Loại hoá chất có giá trị nhất trong mật gấu là loại UCDA, hay còn gọi là acid ursodeoxycholic, loại được sử dụng ở Hoa Kỳ và các nước khác để chữa trị một số bệnh về gan. Tuy nhiên, một lượng lớn các chất cũng có những thuộc tính tương tự, và chúng có sẵn (không cần phải lấy từ mật gấu: người dịch).

Các cuộc phỏng vấn những người bán hàng dược thảo trong khu buôn bán ở Hà Nội không thể kết luận được thực tế là liệu những cuộc vận động giáo dục công chúng có thành công trong việc giảm bớt nhu cầu hay không, khi những người buôn bán chỉ muốn mua bán trao đổi hoặc là muốn được thoát khỏi mấy tay nhà báo.

Animals Asia không có khả năng giải thoát tất cả 4.000 con gấu bị giam cầm tại Việt Nam, ông Bendixsen cho biết, nhưng các sở thú ở Mỹ thì hân hạnh được tiếp nhận chúng.

“Anh chỉ phải thuyết phục chính phủ Việt Nam thôi”, ông nói cùng với một nụ cười.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Kinh tế Việt Nam, Môi trường | Tagged: , , , | Leave a Comment »

Hạn chế người bán hàng rong trên đường phố gây ra chia rẽ ở Hà Nội

Posted by basamnews on 09/02/2010

South China Morning Post

Hạn chế người bán hàng rong trên đường phố gây ra chia rẽ ở Hà Nội

Bài của Greg Torode

Ngày 5-4-2008

 

Thủ đô Hà Nội của Việt Nam đã đi tới ngưỡng cửa của sự lúng túng nhất đó trong quá trình hiện đại hóa – câu hỏi về việc sẽ làm gì đối với những người bán hàng rong vỉa hè.

Hầu hết các thành phố trong khu vực có lẽ đã phải đối phó với vấn đề này từ lâu, một số cấm toàn diện và số khác thì quy định phải có giấy phép, song trường hợp của Hà Mội đang gây lo lắng đặc biệt.

Hà Nội là một thành phố tìm ra được nguồn gốc của mình cách đây 1.000 năm – và một số lượng đáng kể những gì mà ở thời đó những người nông dân đã rời khỏi vùng Châu thổ Sông Hồng để đem bán các đồ gốm sứ của mình tại thủ đô.

Hình ảnh cổ xưa của một người phụ nữ thôn quê trẻ tuổi kĩu kịt đôi quang gánh hàng hóa trên vai lưu giữ lại một trong những vẻ đẹp trường cửu nhất của thành phố.

Nhiều người vẫn dậy trước khi mặt trời mọc hàng giờ để đến chợ phiên sớm trước cả khi những bước chân rộn ràng trên các con phố cùng với những sản vật đem theo.

Thật lạ, cuộc rượt đuổi tới hiện đại hóa chỉ làm tăng thêm trong họ về số lượng, một phần của cơn thác lũ hàng trăm ngàn những người dân quê trẻ tuổi xoay xở kiếm tiền trong cơn gấp gáp của thành phố nhắm bắt kịp các láng giềng của nó.

Hàng dãy những người nông dân bán hàng rong đã được tăng cường ngày càng nhiều bởi sự gia nhập của một đội ngũ các doanh nhân vỉa hè trong những năm gần đây khi mà các cải cách bắt đầu bén rễ.

Trên những con đường nho nhỏ của phố phường Hà Nội cổ kính, ngày càng nhiều thêm những chiếc xe hơi vật vã luồn lách tương phản với những người bán hàng rong tha thẩn với đủ thứ từ đậu, hành,dưa, cho tới xe máy [?] là những phần trong đôi quang gánh của họ.

Có những quán cắt tóc vỉa hè hành nghề với chiếc gương được gắn vào thân cây, những người bán thuốc lá di động với những món hàng được gắn vào thành những cái vỉ và những người thợ mài dao kéo lang thang từ nhà nọ tới nhà kia. Vào đêm khuya cùng sáng sớm, những người bán cơm mì thường lệ đi lui đi tới, chốc chốc lại gióng giả lên những tiếng rao ngân nga đặc trưng của riêng mình ngưng đọng lại trong từng con ngõ vắng.

Mối xung khắc giữa chất cổ kính và đời sống hiện đại moi bới lên những tương phản trần trụi: những tay buôn tỉnh lẻ gây sửng sốt các quán bar được tiếp sinh lực bằng chai whisky hiếm có giá 20 dola Mỹ dễ dàng chẳng khác nào một chị nông dân mua phần cơm 2,500 đồng (1,2 dola Hong Kong).

Nó có thể không phải là một sự tương phản để mà được phép chần chừ lâu hơn nữa. Giới quyền thế giàu có và quan liêu đã chán ngán những người bán hàng rong gây tắc ngẽn giao thông trên đường phố. Thèm muốn một nước Singapore sạch sẽ, ngăn nắp, họ kiên quyết chải chuốt cho thành phố trước lễ kỷ niệm 1.000 năm của nó vào năm 2010.

Tuy nhiên, họ phải đối mặt với một cuộc chiến. Một quyết định bởi Ủy ban Nhân dân Hà Nội hạn chế hoạt động của những người bán hàng rong và việc phạt tiền đã bị đình hoãn từ tháng Một tới tháng Bảy giữa những than phiền lan rộng của người bán hàng rong cũng như những cư dân sinh sống tại đây, mà nhiều người trong số họ vẫn tự hào về cái không khí cũ mòn của thành phố.

Những thứ của họ là một mối quan hệ cộng sinh – phục vụ ngay tại nhà, với giá cả luôn không bị ảnh hưởng bởi tiền thuê cửa hàng.

Chị bán hàng rong 32 tuổi Nguyễn Thị Ngân, nói về một cuộc chiến vẫn có những lợi ích của nó.

“Sáng nào tôi cũng dậy sớm từ 4 giờ để đi chợ Long Biên. Thi thoảng phải đợi mãi tận 6 giờ mới mua đủ rau cho cả ngày. Thế rồi tôi quẩy gánh rau loanh quanh trong thành phố. Mỗi này tôi bán khoảng 30 cân rau kiếm dăm bảy chục nghìn.”

“Kiếm ăn kiểu này nó tiện cho tôi chạy đi chạy lại để còn trông nom các cháu nhỏ.”

“Nếu các ông ý quyết là cấm tất tật những người bán hàng rong thì tôi lại phải đi làm nhà máy. Chỗ tôi ở cũng có mấy cái nhà máy giầy nhưng lương chả là bao, với lại phải đi sớm về khuya.”

Trịnh Viết Bình, 52 tuổi, hàng ngày phải chiến đấu với mấy bà bán hàng rong trong khi chạy xe ôm, nhưng ông cũng được hưởng lợi vì giá rau quả rẻ trong lúc thành phố đang phải vật vã với nạn lạm phát.

“Tôi cho là cái quyết định của ông nhà nước là đúng vì các bà bán hàng rong làm cho thành phố nó rất là hỗn loạn. Họ lại còn chả tôn trọng luật lệ với lại vệ sinh gì cả. Nhưng nhiều lúc tôi cũng mua hàng của họ vì nó rẻ.”

Đưa Hà Nội trở thành Singapore không phải là một cuộc chiến mà có thể giành thắng lợi trong có một đêm.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Môi trường, Văn hóa | Tagged: | Leave a Comment »