Articles  Privacy

 

BA SÀM

Cơ quan ngôn luận của THÔNG TẤN XÃ VỈA HÈ

Archive for the ‘TQ xâm lược '79’ Category

913. QUAN HỆ VIỆT-TRUNG VÀ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA VIỆT NAM

Posted by basamnews on 22/04/2012

THÔNG TẤN XÃ VIỆTNAM

QUAN HỆ VIỆT-TRUNG VÀ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC MỚI CỦA VIỆT NAM

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ sáu, ngày 20/4/2012

TTXVN (Oasinhtơn 16/4)

Giáo sư  Marvin Ott, chuyên gia về Đông Nam Á tại Trung tâm Woodrow Wilson, Mỹ, có bài viết đăng trên trang mạng của Trung tâm với nhan đ “Thế khó của Việt Nam trước Trung Quốc: hướng đi trong môi trường chiến lược mới”. Sau đây là nội dung bài viết:

Mối quan hệ của Việt Nam với Trung Quốc là một phép thử về thách thức chiến lược mà Việt Nam phải đối mặt trên nền tảng lịch sử lâu dài. Việc nối lại quan hệ với Mỹ và gia nhập ASEAN là những biểu hiện của sự khéo léo về ngoại giao của Việt Nam.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung, Quân sự, TQ xâm lược '79 | 54 phản hồi »

740. Một nén hương cho ngày 17/2/1979

Posted by basamnews on 18/02/2012

Nhà báo Huy Đức: “… tại thôn Tổng Chúp … quân Trung Quốc đã giết 43 người gồm 23 phụ nữ, 20 trẻ em, trong đó có 7 phụ nữ đang mang thai. Tất cả đều bị giết bằng dao như Pol Pốt. 10 người bị ném xuống giếng, hơn 30 người khác, xác bị chặt ra nhiều khúc, vứt hai bên bờ suối.”

Tướng Nguyễn Trọng Vĩnh: “… do sức ép của Trung Quốc đối với các nhà lãnh đạo Việt Nam, và họ vẫn thường đưa ra “16 chữ vàng” rồi thì hữu tình , hữu nghị, rồi thì “4 tốt” để mà mê hoặc lãnh đạo chúng tôi để không làm gì cả.”

Đài Á châu Tự do – RFA

Một nén hương cho ngày 17/2/1979

 Định Nguyên, thông tín viên RFA

2012-02-17

Mời nghe audio


Trong lịch sử cận đại, Việt Nam được biết đến như là một quốc được gia hình thành bằng những cuộc chiến đẫm máu.

Nhưng chính nó lại lãng quên phũ phàng một cuộc chiến rất ngắn ngủi nhưng khốc liệt, dã man và đầy kịch tính  đã xảy ra giữa những người đã từng là đồng chí với nhau,đó là cuộc chiến tranh biên giới Việt Trung năm 1979. Định Nguyên điểm lại sự kiện đau buồn này qua bài tường trình sau:

Sự lãng quên vô tình?

Đọc tiếp »

Đăng trong Blog/Báo, Dân chủ/Nhân Quyền, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , | 57 phản hồi »

738. Nhân kỷ niệm 33 năm đánh đuổi quân Trung Quốc xâm lược: Trò chuyện với nhà văn Hoàng Quốc Hải

Posted by basamnews on 17/02/2012

Nhân kỷ niệm 33 năm đánh đuổi quân Trung Quốc xâm lược:

Trò chuyện với nhà văn Hoàng Quốc Hải

Nhà văn Nhật Tuấn thực hiện

Có thể nói nhà văn Hoàng Quốc Hải là con người của lịch sử. Từ năm 1993, bộ tiểu thuyết lịch sử gồm 4 tập: “Bão táp cung đình”, “Huyền Trân công chúa”, “Thăng Long nổi giận” và “Vương triều sụp đổ” của ông đã ra mắt độc giả. Bộ tiểu thuyết đã được trao giải “Bùi Xuân Phái – vì tình yêu Hà Nội” (2008). Tiếp theo ông viết thêm hai tập: “Đuổi quân Mông – Thát” (chống giặc Nguyên – Mông lần I) và “Huyết chiến Bạch Đằng” (chống giặc Nguyên – Mông lần thứ III) làm thành bộ “Bão táp triều Trần” gồm 6 tập (2.928 trang in khổ 14,15 x 20,5cm).

Tiếp theo nhà Trần, ròng rã 20 năm trời ông lại lội dòng lịch sử về nhà Lý với bộ tiểu thuyết 4 tập: “Thiền sư dựng nước”, “Con ngựa nhà Phật”, “Bình bắc dẹp nam”, “Con đường định mệnh” dày 3.514 trang in khổ 14,5 x 20,5cm.

Cho dù ngược dòng lịch sử, ông vẫn đau đáu lo đến vận nước hôm nay và mai sau. Nhân kỷ niệm 33 năm ngày Trung Quốc tấn công biên giới VN (17-2-1979/17-2-2012) tôi có cuộc trò chuyện với ông về chủ đề này.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | 36 phản hồi »

737. Đánh dấu 33 năm ngày quân TQ xâm lăng 6 tỉnh biên giới, Tô Huy Rứa sang thăm 6 ngày để “Củng cố quan hệ”

Posted by basamnews on 17/02/2012

VOV News

Củng cố quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt – Trung

Cập nhật lúc: 7:22 PM, 16/02/2012

(VOV) – Quan hệ Việt-Trung có ý nghĩa quan trọng đối với công cuộc xây dựng đất nước của mỗi nước; đối với hòa bình, ổn định ở khu vực và trên thế giới.

Nhận lời mời của Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, ông Tô Huy Rứa, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương, thăm và làm việc tại Trung Quốc từ ngày 14-20/2.

Đọc tiếp »

Đăng trong Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | Tagged: , , | 104 phản hồi »

732. ĐẠI GIẢI MẬT CON SỐ THƯƠNG VONG CỦA HAI BÊN TRONG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT NĂM 1979

Posted by basamnews on 16/02/2012

.BTV: 33 năm trước, vào ngày 17 tháng 2 năm 1979, Trung Quốc đã xua quân tấn công toàn tuyến biên giới phía Bắc nước ta. Cuộc chiến khốc liệt này đã cướp đi sinh mạng của hàng ngàn người lính Việt Nam, những người đã xả thân bảo vệ Tổ Quốc, cũng như của rất nhiều thường dân vô tội ở biên giới phía Bắc. Hôm nay, xin quý độc giả hãy giành những giây phút tưởng niệm, để nhớ đến những người lính Việt Nam đã anh dũng ngã xuống, hy sinh thân mình bảo vệ mảnh đất thân yêu mà chúng ta đang sống hôm nay. Cũng  không quên những người dân vô tội sống dọc các tỉnh biên giới, đã bị Trung Quốc giết hại 33 năm trước.

Liên quan đến cuộc chiến này, chúng tôi xin giới thiệu 2 tài liệu để độc giả tham khảo: Một tài liệu nói về con số thương vong của hai phía Việt – Trung và một tài liệu khác, nói về vai trò của Liên Xô liên quan đến cuộc chiến này. Đây là 2 tài liệu do phía Trung Quốc đưa ra, nên những từ ngữ sử dụng trong bài, chúng tôi xin được giữ nguyên văn.

————-

China.com

ĐẠI GIẢI MẬT CON SỐ THƯƠNG VONG CỦA HAI BÊN TRONG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT NĂM 1979

Vạn Lý Hải Cương

Người dịch: Quốc Thanh

27-9-2009

Ẩn số về thương vong của hai bên trong Chiến tranh Trung-Việt năm 1979

Về con số thương vong của hai bên Trung-Việt trong “Trận chiến phản kích tự vệ với Việt Nam” năm 1979, báo Lao Động của Việt Nam hồi năm đó nói, đã tiêu diệt hơn 3 vạn Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc; báo Giải Phóng quân của ta cho biết, quân ta thương vong 4.000 người, tiêu diệt 70.000 quân địch.

Theo ghi chép trong hồ sơ mật về trận chiến phản kích tự vệ với Việt Nam năm 1979 đã được giải mật từ lâu: con số thương vong của quân ta là hơn 27.000 người, trong đó, số sĩ quan binh lính chết trận là hơn 6.000, binh lính bị thương là hơn 21.000 người.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | 182 phản hồi »

731. Báo Trung Quốc: Vai trò của Liên Xô trong cuộc chiến biên giới Việt – Trung

Posted by basamnews on 16/02/2012

Mạng Sina

Vài tình tiết bí mật được tiết lộ trong tài liệu nội bộ về cuộc chiến phản kích tự vệ với Việt Nam năm 1979

Tác giả: Triệu Cấp Báo

Người dịch: Quốc Thanh

30-5-2011

Trong các bài viết về cuộc chiến với Việt Nam, hiện đa số đều nói đến vai trò rất lớn của Đặng Tiểu Bình, đương nhiên, vì ông ta là Phó Chủ tịch Quân ủy khi đó, nhưng cuộc chiến với Việt Nam là quyết định tập thể của trung ương, chứ không phải chỉ có mỗi một mình ông Đặng. Đồng chí Trần Vân cũng có vai trò rất lớn khi đó. Ngày ấy tôi đang học cao trung, có cha làm trong Bộ Tuyên truyền Thị ủy, hàng ngày cũng được đọc các bản báo cáo chiến trận. Năm 1980, tôi được đọc một bản tư liệu nội bộ của trung ương, tổng kết về cuộc chiến lần này. Vẫn còn nhớ một vài nội dung như sau:

I. Cuộc chiến biên giới lần này là cuộc chiến với bên ngoài, lần đầu tiên không có Mao Chủ tịch kể từ ngày lập quốc

Chiến tranh biên giới liên quan đến đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, hết sức phức tạp, nhiều cuộc chiến biên giới kể từ ngày lập quốc đến nay đều dưới sự chỉ huy trực tiếp của Mao Chủ tịch, cho nên, [cuộc chiến lần này] trong tình trạng không có Mao Chủ tịch, liệu có thể vượt qua thử thách, giành được thắng lợi hay không, đây là vấn đề lớn mà rất nhiều người thời ấy đã phải trăn trở. Vì thế, phải làm cho tốt khâu chuẩn bị tư tưởng. Đồng thời, quân đội nhiều năm chưa đánh trận, sức chiến đấu chẳng còn được bao nhiêu, đó cũng là điều đáng nghi vấn.

Đọc tiếp »

Đăng trong Chính trị, Chiến tranh VN, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | 22 phản hồi »

378. Viết nhân ngày Quốc khánh Trung Cộng (1/10): Đã đến lúc phải xóa món nợ ân oán giang hồ!

Posted by basamnews on 26/09/2011

Bauxite Việt Nam

Viết nhân ngày Quốc khánh Trung Cộng (1/10):

Đã đến lúc phải xóa món nợ ân oán giang hồ!

Vũ Cao Đàm

Tôi nảy ý định viết ra ý tưởng này từ lúc đọc lại bài khai bút đầu năm của anh Bút Chẳng Tà, trong đó có nhắc đến ngày Trung Cộng khởi chiến, tấn công quân đội Việt Nam Cộng hòa để xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa. Bài viết đưa lên mặt báo Bauxite Việt Namtrong khi trên trang mạng của Trung Cộng vẫn còn nhan nhản những bài chửi bới với giọng điệu của một kẻ cả vô giáo dục nhằm vào “Bọn Việt Nam vong ân bội nghĩa”, và kêu gào phải giết bọn “Việt Nam lòng lang dạ sói”, lấy máu “giặc Việt” để làm lễ tế thần cho trận chiến thu hồi Nam Sa.

Trong khi đó thì chúng ta lại vẫn thường nghe một số quan chức, và cả bạn bè, cố gắng phân trần, rằng nhân dân Việt Nam “Không bao giờ quên ơn Đảng Cộng sản và Nhà nước Trung Cộng”, làm như đây là món nợ truyền kiếp, mà người Việt chúng ta phải đời đời khắc cốt ghi xương.

Đọc tiếp »

Đăng trong Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Đảng/Nhà nước | 74 phản hồi »

105. TBT Lê Duẩn: về tập đoàn phản động Trung Quốc chống Việt Nam

Posted by basamnews on 14/06/2011

Đôi lời: Để hiểu thêm thực chất mối quan hệ Việt-Trung trong mấy chục năm nay, không còn chút mơ hồ nào nữa, đặc biệt trước rất nhiều hành động gây hấn trắng trợn của Trung Quốc trong thời gian gần đây, xin giới thiệu một tư liệu cá nhân nho nhỏ của cố TBT Lê Duẩn khi sinh thời, và một bản dịch từ tư liệu nước ngoài Bài phát biểu của ông về “tập đoàn phản động Trung Quốc”, cùng với đoạn trích Hiến pháp 1980 liên quan tới Trung Quốc.

1) Đây là bản chụp vài dòng bút ký cá nhân, như tự dặn với riêng mình, của cố Tổng bí thư BCHTW ĐCSVN Lê Duẩn năm 1978, một năm trước khi Trung Quốc đưa quân tấn công 6 tỉnh biên giới phía Bắc VN, được lưu trữ trong kho tư liệu riêng của gia đình ông. Đoạn này đề cập tới quan hệ với Trung Quốc.

Ông viết: “Phải xây dựng hạnh phúc cho nhân dân. Muốn có hạnh phúc cho nhân dân phải giàu mạnh và hùng cường. Đó là vì vị trí lịch sử và địa dư của Việt Nam. Không thể khác được. Vì chúng ta ở bên cạnh một nước mà lịch sử của nước đó chưa ra khỏi cuộc sống người ăn thịt người”.

Không nghi ngờ gì nữa, đó là ám chỉ tới người láng giềng Trung Quốc, đất nước với lịch sử từng có tập tục “người ăn thịt người” mà chính Văn hào Lỗ  Tấn đã đề cập tới nhiều lần trong tiểu thuyết Nhật ký người điên. (Mời xem thêm: Ăn thịt đồng loại – Wikipedia). Đương nhiên, qua nội dung này và bài phát biểu của ông, cũng như Lời nói đầu trong bản Hiến pháp 1980, sự đánh giá đó không phải với tuyệt đại bộ phận người dân Trung Quốc.

Cũng không có gì khác biệt trong tinh thần của nội dung trên với quan điểm cứng rắn của vị lãnh đạo cao nhất trong Đảng CSVN trong suốt một thời gian dài đối với nhà cầm quyền Trung Quốc.

Như bao nhiêu bậc quân vương khác, không thể tránh được những mặt yếu, mạnh, hay, dở trong lúc trị vì, nhưng riêng cách nhìn và thái độ đối với người láng giềng phương Bắc, cố TBT Lê  Duẩn là vị lãnh đạo kiên quyết và rõ ràng nhất, như bao nhiêu thế hệ ông cha đã từng răn dạy.

2)  HIẾN PHÁP  NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM NĂM 1980, Lời nói đầu (Trích): “Vừa trải qua ba mươi năm chiến tranh giải phóng, đồng bào ta thiết tha mong muốn có hoà bình để xây dựng Tổ quốc, nhưng lại phải đương đầu với bọn bá quyền Trung Quốc xâm lược cùng bè lũ tay sai của chúng ở Cam- pu-chia. Phát huy truyền thống vẻ vang của dân tộc, quân và dân ta đã giành được thắng lợi oanh liệt trong hai cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chống bọn phản động Cam-pu-chia ở biên giới Tây Nam và chống bọn bá quyền Trung Quốc ở biên giới phía Bắc, bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của mình.”

3) Bài phát biểu của đồng chí Lê Duẩn về tập đoàn phản động Trung Quốc chống Việt Nam:

(Trích): “Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á“. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”

Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi“. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!

Tôi sẽ nói với các đồng chí nhiều hơn để các đồng chí có thể thấy thêm về tầm quan trọng quân sự trong vấn đề này.

Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?
Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.

Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?
Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!

Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!
Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?
Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Có bao nhiêu người?
Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!
Mao nói: Lạy Chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!

 Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?” Tôi nói: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi đánh các ông luôn. Các ông có biết điều đó không?

Tôi đã nói với Mao Trạch Đông như thế. Ông ta nói: “Có, có!” Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó. Quan điểm đó thật là phức tạp.”

CWIHP

Bài phát biểu của Lê Duẩn năm 1979

Mô tả: Bài phát biểu của đồng chí Lê Duẩn về tập đoàn phản động Trung Quốc chống Việt Nam.

 Nguồn: Thư viện Quân đội Nhân dân, Hà Nội. Tài liệu do Christopher Goscha có được và dịch cho CWIHP.

Nói chung, sau khi chúng ta đánh bại Mỹ, không đế quốc nào dám đánh chúng ta nữa. Chỉ có những người nghĩ rằng họ vẫn có thể đánh chúng ta và dám đánh chúng ta là những kẻ phản động Trung Quốc. Nhưng người dân Trung Quốc hoàn toàn không muốn thế. Tôi không biết những kẻ phản động Trung Quốc này sẽ tiếp tục tồn tại thêm bao lâu nữa. Tuy nhiên, miễn là họ tồn tại, thì họ sẽ tấn công chúng ta như họ vừa thực hiện (nghĩa là đầu năm 1979).

Nếu chiến tranh đến từ phương Bắc, thì  các tỉnh [Bắc Trung Bộ] Nghệ An, Hà Tĩnh và Thanh Hóa sẽ trở thành cơ sở cho toàn bộ đất nước. Các tỉnh này tốt nhất, là các căn cứ mạnh nhất, tốt nhất và hiệu quả nhất. Vì nếu vùng đồng bằng [Bắc Bộ] tiếp tục là vùng liên tục căng thẳng, thì tình hình sẽ rất phức tạp. Vấn đề không đơn giản chút nào. Nếu không phải là người Việt Nam, thì sẽ không có người nào đánh Mỹ, bởi vì lúc Việt Nam chiến đấu chống Mỹ, cả thế giới còn lại đều sợ Mỹ …

Mặc dù Trung Quốc đã giúp [Bắc] Triều Tiên chỉ với mục đích bảo vệ sườn phía Bắc của họ. Sau khi cuộc chiến kết thúc [ở Triều Tiên] và khi áp lực lên Việt Nam, ông ta (chỗ này hình như nói đến Chu Ân Lai khi đoạn văn sau đó cho thấy vậy) nói rằng, nếu Việt Nam tiếp tục chiến đấu, thì sẽ phải tự lo liệu. Ông ta sẽ không giúp thêm nữa và gây áp lực với chúng ta để ngừng chiến đấu.

Khi chúng ta ký Hiệp Định Geneva, rõ ràng là Chu Ân Lai đã chia đất nước ta làm hai [phần]. Sau khi nước ta bị chia thành hai miền Nam – Bắc như thế, một lần nữa ông ta gây sức ép lên chúng ta, không được làm gì đối với miền Nam Việt Nam. Họ ngăn cấm chúng ta đứng lên [chống lại Việt Nam Cộng hòa do Mỹ hậu thuẫn]. [Nhưng] họ, [người Trung Quốc,] không thể làm gì để ngăn cản chúng ta.

Khi chúng ta ở miền Nam và chuẩn bị chiến tranh du kích ngay sau khi ký Hiệp định Geneva, Mao Trạch Đông đã nói với Đại hội Đảng của chúng ta rằng, ngay lập tức, chúng ta phải buộc Lào chuyển hai tỉnh đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu không, người Mỹ sẽ tiêu diệt hai tỉnh này, một tình huống rất nguy hiểm [theo cái nhìn của Trung Quốc]! Ngay lập tức, Việt Nam đã phải làm việc với người Mỹ [liên quan đến vấn đề này]. Mao đã bức hiếp chúng ta bằng cách này và chúng ta đã phải làm điều đó.
Sau đó, khi hai tỉnh này đã được chuyển cho Viêng Chăn, những tên phản động [Lào]  ngay lập tức bắt giữ Souphanouvong (Chủ tịch Lào từ năm 1975-1986). Lào có hai tiểu đoàn bị bao vây lúc đó. Hơn nữa, họ vẫn chưa sẵn sàng chiến đấu. Sau đó, một tiểu đoàn đã có thể thoát khỏi sự [bao vây]. Lúc đó, tôi đưa ra quan điểm của tôi là, Lào phải được phép tiến hành chiến tranh du kích. Tôi mời Trung Quốc đến và thảo luận về vấn đề này với chúng ta. Tôi nói với họ: “Các đồng chí, nếu các đồng chí tiếp tục gây áp lực với Lào bằng cách này, thì lực lượng của họ sẽ hoàn toàn tan rã. Bây giờ họ phải được phép tiến hành chiến tranh du kích“.

Trương Văn Thiên (Zhang Wentian), người trước đó là Tổng Thư ký [Đảng Cộng sản Trung Quốc] và sử dụng bút danh Lạc Phú, trả lời tôi: “Vâng, các đồng chí, điều các đồng chí nói đúng. Hãy để chúng tôi cho phép tiểu đoàn đó của Lào đảm nhiệm chiến tranh du kích“.

Ngay lập tức, tôi hỏi Trương Văn Thiên: “Các đồng chí, nếu các đồng chí cho phép Lào gánh vác chiến tranh du kích, thì không có gì phải sợ việc phát động chiến tranh du kích ở miền Nam Việt Nam. Điều gì làm cho các đồng chí sợ đến nỗi các đồng chí ngăn cản hành động như thế?”

Ông ta [Trương Văn Thiên] đã nói: “Không có gì phải sợ!”

Trương Văn Thiên đã nói thế. Tuy nhiên, Ho Wei, Đại sứ Trung Quốc ở Việt Nam lúc đó, đã ngồi ở đó và nghe điều đã nói. Ngay lập tức, ông ta điện cho Trung Quốc (báo cáo điều Lê Duẩn và Trương Văn Thiên đã nói). Ngay lập tức, Mao trả lời: “Việt Nam không thể phát động chiến tranh du kích ở miền Nam. Việt Nam phải nằm chờ trong một thời gian dài!” Chúng ta rất nghèo. Làm sao chúng ta có thể đánh Mỹ nếu không có Trung Quốc làm căn cứ hậu tập? Nên chúng ta phải nghe theo họ, đúng không?

Tuy nhiên, chúng ta đã không đồng ý. Chúng ta đã bí mật tiếp tục phát triển lực lượng. Khi [Ngô Đình] Diệm kéo lê máy chém khắp miền Nam Việt Nam, chúng ta đã ban hành lệnh thành lập lực lượng quần chúng để chống lại lệnh đã được lập và nắm quyền [từ chính phủ Diệm]. Chúng ta đã không chú ý [đến Trung Quốc].

Khi cuộc nổi dậy giành chính quyền bắt đầu, chúng tôi đi Trung Quốc để gặp Chu Ân Lai và Đặng Tiểu Bình. Đặng Tiểu Bình đã nói với tôi: “Đồng chí, bây giờ sai lầm của đồng chí đã xảy ra rồi, đồng chí chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống“. Đó là áp lực mà họ đã áp đặt lên chúng ta.

Tôi nói [với Trung Quốc]: “Vâng, vâng! tôi sẽ làm điều đó. Tôi sẽ chỉ chiến đấu ở mức một trung đội trở xuống“.

Sau khi chúng ta chiến đấu và Trung Quốc nhận ra rằng chúng ta có thể chiến đấu hiệu quả, đột nhiên Mao có suy nghĩ mới. Ông ta nói rằng, vì Mỹ đánh chúng ta, ông ta sẽ đưa quân đội [Trung Quốc] đến giúp chúng ta xây dựng đường xá. Mục tiêu chính của ông ta là tìm hiểu tình hình đất nước ta để sau này ông ta có thể tấn công chúng ta và từ đó mở rộng xuống khu vực Đông Nam Á. Không có lý do nào khác.

Chúng tôi biết rõ ý đồ này, nhưng phải cho phép họ (sự xâm nhập của quân đội Trung Quốc). Thôi thì cũng được. Nhưng họ quyết định đưa quân vào. Tôi yêu cầu họ chỉ gửi người, nhưng quân lính của họ đã đến cùng với súng đạn. Tôi cũng phải chịu điều này.
Sau đó, ông ta (Mao Trạch Đông) bắt chúng ta phải nhận 20.000 quân của ông ta đến xây một con đường từ Nghệ Tĩnh vào Nam Bộ (thuật ngữ tiếng Việt chỉ miền Nam Việt Nam). Tôi từ chối. Họ tiếp tục yêu cầu nhưng tôi không nhượng bộ. Họ gây áp lực với tôi cho quân của họ vào nhưng tôi đã không chấp thuận. Họ tiếp tục gây sức ép nhưng tôi vẫn không chịu.

Tôi đưa ra những ví dụ này để các đồng chí thấy họ có âm mưu cướp nước ta từ lâu và âm mưu đó ác độc như thế nào.

- Sau khi Mỹ đưa hàng trăm ngàn quân vào miền Nam Việt Nam, chúng ta đã phát động cuộc tổng tấn công vào năm 1968 để buộc họ giảm leo thang. Để đánh bại Hoa Kỳ, một điều cần phải biết là làm thế nào để họ từ từ giảm leo thang. Đó là chiến lược của chúng ta. Chúng ta chiến đấu chống một kẻ thù lớn, kẻ thù với dân số 200 triệu người và thống trị thế giới. Nếu chúng ta không thể làm cho họ giảm leo thang từng bước, thì chúng ta sẽ thất bại và không thể tiêu diệt kẻ thù. Chúng ta phải đấu tranh để làm nhụt ý chí họ để buộc họ phải đi đến bàn đàm phán với chúng ta mà không cho phép họ đưa thêm quân.
Đến lúc họ muốn thương lượng với chúng ta, Ho Wei đã viết một bức thư cho chúng tôi, nói rằng: “Các ông không thể ngồi xuống đàm phán với Hoa Kỳ. Các ông phải đưa quân Mỹ vào miền Bắc Việt Nam để đánh với họ“. Ông ta gây áp lực với chúng tôi cách này, làm cho chúng tôi bối rối vô cùng. Đây không phải là vấn đề hoàn toàn đơn giản. Rất là mệt mỏi mỗi khi tình huống như thế phát sinh [với Trung Quốc].

Chúng tôi quyết định không thực hiện cách đó (nói đến lời khuyên của Hồ Wei không đàm phán với Hoa Kỳ). Chúng tôi phải ngồi xuống ở Paris. Chúng tôi phải làm cho họ (Mỹ) giảm leo thang để đánh bại họ. Trong thời gian đó, Trung Quốc đã thông báo [với Mỹ]: “Nếu các ông không tấn công tôi, tôi sẽ không tấn công các ông. Nhưng rất nhiều quân lính mà các ông muốn đưa vào Việt Nam, tùy các ông“. Trung Quốc nhất trí điều này và đã gây áp lực với chúng tôi bằng cách đó.

Họ (Trung Quốc) đã trao đổi nhiều với Mỹ và ép buộc chúng ta phục vụ như là một con bài để mặc cả theo cách này. Khi người Mỹ nhận ra rằng họ đã thua trận, ngay lập tức, họ sử dụng Trung Quốc để [tạo điều kiện] rút quân [ở miền Nam Việt Nam]. Nixon và Kissinger đã đến Trung Quốc để thảo luận vấn đề này.

- Trước khi Nixon đi Trung Quốc, [mục đích chuyến đi của ông ta là] giải quyết vấn đề Việt Nam bằng cách đó, để phục vụ lợi ích của Mỹ và giảm bớt thất bại của Mỹ, cũng như cùng lúc cho phép ông ta lôi kéo Trung Quốc về phía Mỹ. Chu Ân Lai đã đến gặp tôi. Chu Ân Lai nói với tôi: “Lúc này, Nixon đến gặp tôi chủ yếu là thảo luận về vấn đề Việt Nam, do vậy tôi phải đến gặp đồng chí để thảo luận điều đó với đồng chí“.

Tôi trả lời: “Đồng chí, đồng chí có thể nói bất cứ điều gì đồng chí thích, nhưng tôi không nghe theo đồng chí. Đồng chí là người Trung Quốc, tôi là người Việt. Việt Nam là của tôi (đất nước của tôi), hoàn toàn không phải của các đồng chí. Các đồng chí không có quyền nói [về vấn đề Việt Nam] và các đồng chí không có quyền thảo luận [các vấn đề đó với Mỹ]. Hôm nay, các đồng chí, chính tôi sẽ nói với các đồng chí điều mà thậm chí tôi chưa hề nói với Bộ Chính trị, rằng đồng chí đã nêu ra vấn đề nghiêm trọng và vì thế tôi phải nói:

- Năm 1954, khi chúng tôi giành chiến thắng tại Điện Biên Phủ, tôi đã ở [tỉnh] Hậu Nghĩa. Bác Hồ đã điện nói với tôi rằng, tôi phải vào miền Nam để tập hợp [các lực lượng ở đó] và nói chuyện với đồng bào miền Nam [về vấn đề này]. Tôi đi bằng xe tải vào miền Nam. Trên đường đi, đồng bào ra chào đón tôi vì họ nghĩ rằng chúng tôi đã giành chiến thắng. Đau đớn vô cùng! Nhìn đồng bào miền Nam, tôi đã khóc. Vì sau đó, Hoa Kỳ sẽ đến và tàn sát [người dân] một cách khủng khiếp.

Khi vừa tới miền Nam, ngay lập tức, tôi đã điện cho Bác Hồ để xin ở lại [miền Nam] và không trở lại miền Bắc để tôi có thể đánh thêm mười năm nữa hoặc hơn. Đồng chí đã gây khó khăn cho tôi như thế này (muốn nói đến vai trò của Chu Ân Lai trong việc chia cắt Việt Nam tại Geneva năm 1954), đồng chí có biết không“?

Chu Ân Lai nói: “Tôi xin lỗi đồng chí. Tôi đã sai. Điều đó tôi sai” (muốn nói đến sự chia cắt Việt Nam tại Geneva). Sau khi Nixon rời khỏi Trung Quốc, một lần nữa, ông ta (Chu Ân Lai) đến Việt Nam để hỏi tôi về một số vấn đề liên quan đến cuộc chiến ở miền Nam Việt Nam. Tuy nhiên, ngay lập tức, tôi nói với Chu Ân Lai: “Nixon đã gặp các đồng chí rồi. Chẳng bao lâu nữa, họ (Hoa Kỳ) sẽ tấn công chúng tôi thậm chí còn mạnh hơn“.

Tôi hoàn toàn không sợ. Cả hai (Mỹ và Trung Quốc) đã thương lượng với nhau để đánh tôi mạnh hơn. Ông ta (Chu Ân Lai) đã không bác bỏ quan điểm này là vô căn cứ và chỉ nói rằng: “Tôi sẽ gửi thêm súng đạn cho các đồng chí“.

Sau đó ông ta (Chu Ân Lai) nói (về mối lo ngại âm mưu bí mật Trung – Mỹ): “Không có điều đó“. Tuy nhiên, hai bên đã thảo luận làm thế nào để đánh chúng ta mạnh hơn, gồm các cuộc tấn công bằng bom B-52 và phong tỏa cảng Hải Phòng. Rõ ràng là như thế.
– Nếu Liên Xô và Trung Quốc đã không mâu thuẫn với nhau, thì Hoa Kỳ không thể tấn công chúng ta quyết liệt như họ đã tấn công. Khi hai [cường quốc Trung Quốc và Liên Xô] xung đột, người Mỹ đã không bị [phe đối lập là khối xã hội chủ nghĩa] cản trở. Mặc dù Việt Nam có thể thống nhất và đoàn kết với cả Trung Quốc lẫn Liên Xô, để đạt được điều này rất phức tạp, lúc đó chúng ta phải dựa vào Trung Quốc nhiều thứ. Lúc đó, hàng năm Trung Quốc cung cấp viện trợ 500.000 tấn thực phẩm, cũng như súng ống, đạn dược, tiền bạc, chưa kể đến viện trợ đô la. Liên Xô cũng đã giúp bằng cách này. Nếu chúng ta không thể làm điều đó (đoàn kết và thống nhất với Trung Quốc và Liên Xô), mọi thứ sẽ rất nguy hiểm.

Mỗi năm tôi đã phải đi Trung Quốc hai lần để nói chuyện với họ (lãnh đạo Trung Quốc) về [các sự kiện] ở miền Nam Việt Nam. Về phía Liên Xô, tôi không phải nói gì cả (về tình hình ở miền Nam Việt Nam). Tôi chỉ nói một cách chung chung. Khi giao thiệp với Trung Quốc, tôi đã phải nói rằng cả hai [nước] đang đánh Mỹ. Tôi đã đi một mình. Tôi phải có mặt về vấn đề này. Tôi đã đến đó và nói chuyện với họ nhiều lần bằng cách này, mục đích chính là để xây dựng quan hệ gần gũi hơn giữa hai bên (nghĩa là Trung Quốc và Việt Nam). Chính xác là vào thời điểm đó Trung Quốc gây áp lực với chúng ta để xa lánh Liên Xô, cấm chúng ta không được đi với Liên Xô.

Họ đã làm rất căng. Đặng Tiểu Bình, cùng với Khang Sinh đã đến và nói với tôi: “Đồng chí, tôi sẽ giúp đồng chí vài tỷ [có lẽ là nhân dân tệ] mỗi năm. Đồng chí không thể nhận bất cứ thứ gì từ Liên Xô“.

Tôi không đồng ý điều này. Tôi nói: “Không, chúng ta phải đoàn kết và thống nhất với toàn bộ phe [xã hội chủ nghĩa]“.

Năm 1963, khi Khrushchev phạm sai lầm, ngay lập tức [Trung Quốc] ban hành một tuyên bố 25 điểm và mời đảng chúng ta đến cho ý kiến . Anh Trường Chinh và tôi đã đi cùng với một số anh em khác. Trong cuộc thảo luận, họ (Trung Quốc) lắng nghe chúng tôi đến, hình như là điểm thứ 10, nhưng khi đến điểm “không từ bỏ phe xã hội chủ nghĩa”, họ đã không nghe… Đặng Tiểu Bình nói: “Tôi chịu trách nhiệm về tài liệu của chính tôi, tôi muốn nghe ý kiến ​​của các đồng chí, nhưng tôi không chấp nhận quan điểm này của các đồng chí“.

Trước khi chúng tôi ra về, Mao gặp anh Trường Chinh và tôi. Mao ngồi xuống trò chuyện với chúng tôi và cuối cùng ông ta tuyên bố: “Các đồng chí, tôi muốn nói cho các đồng chí biết điều này. Tôi sẽ là chủ tịch của 500 triệu nông dân đang thiếu đất, và tôi sẽ mang một đạo quân tiến xuống khu vực Đông Nam Á“. Đặng Tiểu Bình cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Chủ yếu là vì nông dân nghèo, trong tình cảnh khó khăn cùng cực!”

Khi chúng tôi ra ngoài, tôi nói với anh Trường Chinh: “Đó anh thấy đó, âm mưu chiếm nước ta và Đông Nam Á. Bây giờ đã rõ rồi“. Họ dám tuyên bố điều đó như thế. Họ nghĩ chúng ta không hiểu. Đúng là không lúc nào họ không nghĩ đến đánh Việt Nam!

Tôi sẽ nói với các đồng chí nhiều hơn để các đồng chí có thể thấy thêm về tầm quan trọng quân sự trong vấn đề này.

Mao hỏi tôi: Ở Lào, có bao nhiêu cây số vuông đất?
Tôi trả lời: Khoảng 200.000 cây số vuông.

Mao hỏi: Dân số của họ bao nhiêu?
Tôi trả lời: Khoảng 3 triệu!

Mao nói: Như vậy là không nhiều! Tôi sẽ đưa dân tôi đến đó, thật mà!
Mao hỏi: Có bao nhiêu cây số vuông đất ở Thái Lan?
Tôi trả lời: Khoảng 500.000 cây số vuông.
Mao hỏi: Có bao nhiêu người?
Tôi trả lời: Khoảng 40 triệu!
Mao nói: Lạy Chúa! Tỉnh Tứ Xuyên của Trung Quốc có 500.000 cây số vuông, nhưng có tới 90 triệu người. Tôi cũng sẽ đưa một số người dân của tôi tới Thái Lan!

Đối với Việt Nam, họ không dám nói về việc đưa người tới theo cách này. Tuy nhiên, ông ta (Mao) nói với tôi: “Đồng chí, có đúng là người của các đồng chí đã chiến đấu và đánh bại quân Nguyên?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta hỏi: “Có phải cũng chính người của đồng chí đã đánh bại quân Thanh?” Tôi nói: “Đúng“. Ông ta nói: “Và quân Minh nữa, phải không?” Tôi nói: “Đúng, và cả các ông nữa. Tôi đánh các ông luôn. Các ông có biết điều đó không?

Tôi đã nói với Mao Trạch Đông như thế. Ông ta nói: “Có, có!” Ông ta muốn chiếm Lào, cả Thái Lan, cũng như muốn chiếm tất cả các nước Đông Nam Á. Đưa người dân đến sống ở đó. Quan điểm đó thật là phức tạp.

Trong quá khứ (nói đến vấn đề có thể xuất phát từ mối đe dọa của Trung Quốc trong thời gian này), chúng ta đã chuẩn bị rất nhiều, không phải là chúng ta không chuẩn bị. Nếu chúng ta không chuẩn bị, tình hình gần đây sẽ rất nguy hiểm. Không phải là vấn đề đơn giản.

Mười năm trước, tôi đã triệu tập các anh em trong quân đội đến gặp tôi. Tôi nói với họ rằng Liên Xô và Mỹ mâu thuẫn với nhau. Đối với Trung Quốc, họ đã bắt tay với đế quốc Mỹ. Trong tình hình căng thẳng này, các đồng chí phải nghiên cứu vấn đề này ngay lập tức. Tôi sợ rằng quân đội không hiểu ý tôi, nên tôi nói với họ rằng, không có cách nào khác để hiểu vấn đề này. Nhưng họ vẫn thấy khó hiểu. Hoàn toàn không dễ. Nhưng tôi không thể nói bằng cách nào khác. Và tôi đã không cho phép những kẻ khác túm lấy tôi.
Khi tôi đến Liên Xô, Liên Xô cũng làm khó tôi về Trung Quốc. Liên Xô đã triệu tập một cuộc họp gồm 80 đảng [cộng sản] để hỗ trợ Việt Nam, nhưng Việt Nam không tham dự hội nghị này, vì [buổi hợp này] không chỉ đơn giản chỉ nhằm giúp Việt Nam, mà còn có mục đích lên án Trung Quốc. Nên Việt Nam đã không đi.

Liên Xô nói: “Bây giờ các đồng chí bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế [hay] là cái gì? Tại sao các đồng chí làm điều này?” Tôi nói: “Tôi hoàn toàn không bỏ rơi chủ nghĩa quốc tế. Tôi không bao giờ làm điều này. Tuy nhiên, để là người quốc tế, trước tiên phải đánh bại Mỹ. Và nếu một nước muốn đánh bại Mỹ, thì phải có sự thống nhất và đoàn kết với Trung Quốc. Nếu tôi đến hội nghị này, thì Trung Quốc sẽ gây nhiều khó khăn lớn với chúng tôi. Các đồng chí, hãy hiểu cho tôi“.

Tại Trung Quốc cũng có nhiều ý kiến và tranh luận ​​khác nhau. Chu Ân Lai đồng ý việc hình thành một mặt trận với Liên Xô để chống Mỹ. Một lần, khi tôi đi Liên Xô để dự lễ kỷ niệm quốc gia, tôi có đọc một bức điện Trung Quốc gửi sang Liên Xô, nói rằng: “Bất cứ khi nào có ai đó tấn công Liên Xô, thì Trung Quốc sẽ đứng bên cạnh các bạn“. Đó là vì đã có một hiệp ước hữu nghị giữa Liên Xô và Trung Quốc từ thời trước đó (tháng 2 năm 1950).

Ngồi cạnh Chu Ân Lai, tôi hỏi ông ta: “Trong bức điện gửi đến Liên Xô gần đây, đồng chí đồng ý thành lập một mặt trận với Liên Xô, nhưng tại sao các đồng chí không thành lập một mặt trận chống Mỹ?” Chu Ân Lai nói: “Chúng tôi có thể thành lập mặt trận chống Mỹ. Tôi chia sẻ quan điểm đó. Các đồng chí, tôi sẽ thành lập một mặt trận với các đồng chí [Việt Nam]“. Bành Chân cũng ngồi ở đó, nói thêm: “Quan điểm này cực kỳ chính xác!” Nhưng khi vấn đề được thảo luận tại Thượng Hải, Mao nói là không thể và hủy bỏ nó. Các đồng chí thấy nó phức tạp như thế nào.

Mặc dù Chu Ân Lai giữ vững một số quan điểm này, ông ta dù sao cũng đồng ý xây dựng một mặt trận và [ông ta] đã giúp Việt Nam rất nhiều. Cám ơn ông ta rằng tôi có thể hiểu [nhiều về những gì đang diễn ra ở Trung Quốc]. Nếu không thì sẽ rất nguy hiểm. Có lần, ông ta nói với tôi: “Tôi đang làm hết sức mình để tồn tại ở đây, sử dụng Li Chiang tích lũy và hỗ trợ cho các đồng chí“. Thì ra vậy (tức là Chu Ân Lai đã sử dụng Li Chiang, để giúp người Việt Nam). Có nghĩa là, không có Chu Ân Lai, điều này sẽ hoàn toàn không thể xảy ra. Tôi đang mắc nợ ông ta.

Tuy nhiên, không đúng để nói rằng các lãnh đạo khác của Trung Quốc hoàn toàn chia sẻ quan điểm của Chu Ân Lai. Họ khác nhau nhiều thứ. Phải nói rằng, người kiên quyết nhất là người có tinh thần Đại Hán và là người muốn chiếm Đông Nam Á, đó chính là Mao Trạch Đông. Tất cả các chính sách [của Trung Quốc] đều nằm trong tay ông ta.
Điều tương tự cũng áp dụng đối với các nhà lãnh đạo hiện tại của Trung Quốc. Tuy nhiên, chúng ta không biết tương lai sẽ ra sao, [sự thật của vấn đề là] họ đã tấn công chúng ta. Trong quá khứ, Đặng Tiểu Bình đã làm hai điều mà hiện đang bị đảo lộn. Đó là, khi chúng ta giành chiến thắng ở miền Nam Việt Nam, nhiều [lãnh đạo] Trung Quốc không hài lòng. Tuy nhiên, dù sao Đặng Tiểu Bình cũng chúc mừng chúng ta. Vì lý do này, ngay lập tức ông ta đã bị những người khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.
Khi tôi đi Trung Quốc lần cuối, tôi dẫn đầu phái đoàn, và tôi đã gặp phái đoàn Trung Quốc do Đặng Tiểu Bình đứng đầu. Khi nói về vấn đề lãnh thổ, gồm cả việc thảo luận về một số hòn đảo, tôi nói: “Hai đất nước chúng ta ở gần nhau, Có một số vùng lãnh thổ của chúng ta vẫn chưa được xác định rõ ràng. Hai bên nên thành lập các cơ quan để xem xét vấn đề này. Các đồng chí, làm ơn đồng ý với tôi [về vấn đề này]”. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) đồng ý, nhưng sau khi làm như vậy, ngay lập tức ông ta bị nhóm lãnh đạo khác xem như là người theo chủ nghĩa xét lại.

Nhưng bây giờ ông ta (Đặng Tiểu Bình) điên rồi. Bởi vì ông ta muốn cho mọi người thấy rằng ông ta không phải là người theo chủ nghĩa xét lại, cho nên ông ta đã tấn công Việt Nam mạnh hơn. Ông ta để cho họ tiếp tục tấn công Việt Nam.

Sau khi đánh bại Mỹ, chúng ta giữ lại hơn một triệu quân, các đồng chí lãnh đạo Liên Xô hỏi chúng tôi: “Các đồng chí định đánh với ai mà giữ lại một đội quân thường trực lớn như vậy?” Tôi nói: “Sau này, các đồng chí sẽ hiểu“. Lý do duy nhất chúng ta giữ quân đội thường trực như thế là vì mối đe dọa của Trung Quốc đối với Việt Nam. Nếu không có [một mối đe dọa như thế], thì điều này (quân đội thường trực lớn) sẽ không cần. Gần đây, bị tấn công trên hai mặt trận, [chúng ta có thể thấy rằng] rất nguy hiểm nếu chúng ta đã không được duy trì một đội quân lớn.

(B) (Ý nghĩa của chữ “B” này trong văn bản gốc không rõ ràng) – Sau Đệ nhị Thế chiến, tất cả mọi người tin rằng tên sen đầm quốc tế là đế quốc Mỹ. Họ có thể tiếp quản và bắt nạt cả thế giới. Tất cả các nước, gồm các nước lớn đều sợ Mỹ. Chỉ có Việt Nam là không sợ Mỹ.

Tôi hiểu vấn đề này vì công việc đã dạy tôi. Người đầu tiên sợ [Mỹ] là Mao Trạch Đông. Ông ta nói với tôi, đó là, Việt Nam và Lào, rằng: “Ngay lập tức, các ông phải chuyển giao hai tỉnh của Lào đã được giải phóng cho chính phủ Viêng Chăn. Nếu các ông không làm như vậy, thì Mỹ sẽ sử dụng điều đó làm lý do tấn công. Đó là mối nguy lớn”. Về phía Việt Nam, chúng tôi đã nói: “Chúng ta phải chiến đấu chống Mỹ để giải phóng miền Nam Việt Nam“. Ông ta (Mao) nói: “Các ông không thể làm điều đó. Miền Nam Việt Nam phải nằm đợi trong một thời gian dài, đợi một đời, 5-10 đời hoặc thậm chí 20 đời kể từ bây giờ. Các ông không thể đánh Mỹ. Đánh Mỹ là nguy hiểm“. Mao Trạch Đông đã sợ Mỹ đến mức độ đó…

Nhưng Việt Nam không sợ. Việt Nam đã tiếp tục chiến đấu. Nếu Việt Nam không đánh Mỹ thì miền Nam Việt Nam sẽ không được giải phóng. Một đất nước chưa được giải phóng sẽ vẫn là một đất nước lệ thuộc. Không ai có được độc lập nếu chỉ có một nửa đất nước được tự do. Không có được độc lập cho đến năm 1975, đất nước chúng ta cuối cùng có được độc lập hoàn toàn. Có độc lập, tự do sẽ đến. Tự do phải là tự do cho cả nước Việt Nam …

Engels đã nói về chiến tranh nhân dân. Sau đó, Liên Xô, Trung Quốc và chính chúng ta cũng đã nói [về vấn đề này]. Tuy nhiên, ba nước rất khác về nội dung [chiến tranh nhân dân]. Không đúng là chỉ vì các bạn có hàng triệu người, thì các bạn có thể làm bất cứ điều gì các bạn muốn. Trung Quốc cũng nói đến chiến tranh nhân dân, tuy nhiên, [họ cho rằng] “khi kẻ thù tiến lên, thì chúng ta phải rút lui“. Nói cách khác, phòng thủ là chính, và chiến tranh được chia thành ba giai đoạn, vùng nông thôn được sử dụng để bao vây thành thị, trong khi [các lực lượng chính] chỉ ở lại trong rừng núi… Người Trung Quốc ở thế phòng thủ và rất yếu [trong Đệ nhị Thế chiến]. Ngay cả với 400 triệu người đọ sức với quân đội Nhật Bản có 300.000 – 400.000 quân, Trung Quốc vẫn không thể đánh bại họ.

Tôi phải lặp lại điều này như thế, vì trước khi Trung Quốc gửi cố vấn cho chúng ta, một số anh em Việt Nam chúng ta không hiểu. Họ nghĩ rằng [Trung Quốc] rất có khả năng. Nhưng họ không có kỹ năng và do đó chúng ta đã không làm theo [những lời khuyên của Trung Quốc].

Năm 1952, tôi rời miền Bắc sang Trung Quốc vì tôi bị bệnh và cần điều trị. Đây là lần đầu tiên tôi đi nước ngoài. Tôi đặt câu hỏi cho họ (Trung Quốc) và thấy nhiều điều rất lạ. Có những khu vực [đã bị] quân Nhật chiếm đóng, mỗi khu có dân số khoảng 50 triệu người, nhưng không có lấy một chiến binh du kích…

Khi tôi từ Trung Quốc trở về, tôi đã gặp Bác [Hồ]. Bác hỏi tôi:

- Đây là lần đầu tiên chú đi ra nước ngoài, phải không?

Vâng, đây là lần đầu tiên tôi đi ra nước ngoài.

- Chú đã thấy gì?

Tôi thấy hai điều: Việt Nam rất dũng cảm và họ (Trung Quốc) không dũng cảm chút nào.
Tôi hiểu điều này kể từ ngày đó. Chúng ta (Việt Nam) hoàn toàn khác với họ. Lòng can đảm vốn có trong con người Việt Nam và do đó chúng ta chưa bao giờ có một chiến lược phòng thủ (ý nói ở thế thủ). Mọi người dân chiến đấu.

Gần đây, họ (Trung Quốc) đã mang hàng trăm ngàn quân vào xâm chiếm nước ta. Hầu hết, chúng ta đã sử dụng lực lượng dân quân và quân đội trong vùng để tấn công họ. Chúng ta không ở thế thủ và do đó họ phải lùi bước. Họ không thể quét sạch dù một trung đội Việt Nam, trong khi chúng ta đã xóa sổ vài trung đoàn và hàng chục tiểu đoàn của họ. Có được như vậy là vì chiến lược tấn công của chúng ta.

Đế quốc Mỹ đã đánh với chúng ta trong một cuộc chiến kéo dài. Họ rất mạnh, nhưng họ đã thua. Nhưng có một yếu tố đặc biệt, đó là những mâu thuẫn gay gắt giữa Trung Quốc và Liên Xô. [Vì điều này,] họ đã tấn công chúng ta mạnh như thế này.

… Việt Nam đã chiến đấu chống Mỹ, và đã chiến đấu rất quyết liệt, nhưng chúng ta biết rằng Hoa Kỳ là một nước rất lớn, khả năng tích lũy hơn 10 triệu quân và đưa tất cả các loại vũ khí được xem là mạnh của họ vào để đánh chúng ta. Vì vậy, chúng ta đã phải chiến đấu trong một thời gian dài để làm cho cho họ giảm leo thang. Chúng ta là những người có thể làm được điều đó, Trung Quốc thì không thể. Khi quân đội Mỹ tấn công Quong Tre (Quảng Trị?), ngay lập tức Bộ Chính trị ra lệnh đưa quân đội vào chiến đấu. Chúng ta không sợ.

Sau đó tôi đi Trung Quốc gặp Chu Ân Lai. Ông ta nói với tôi: “Điều đó (cuộc tấn công vào Quảng Trị) có lẽ là chưa từng có, có một không hai. Chỉ có một [cơ hội] trên đời này, không có cơ hội thứ hai. Không ai dám làm những điều các đồng chí đã làm“.
… Chu Ân Lai là người đứng đầu Bộ Tham mưu. Ông ta dám nói, ông ta thẳng thắn hơn. Ông ta nói với tôi: “Nếu tôi biết trước cái cách mà các đồng chí sử dụng, chúng tôi không cần Vạn lý Trường chinh“.

Vạn lý Trường chinh là gì? Vào đầu cuộc hành quân có 300.000 quân, đến cuối Vạn lý Trường chinh chỉ còn 30.000 quân. 270.000 người đã chết. Thực sự ngu ngốc khi thực hiện cách này. Nói như vậy để các đồng chí biết chúng ta đang đi trước họ như thế nào. Trong tương lai không xa, nếu chúng ta chiến đấu chống lại Trung Quốc, chúng ta chắc chắn sẽ giành chiến thắng … Tuy nhiên, sự thật là nếu một nước khác [không phải Việt Nam] chiến đấu chống lại Trung Quốc, không rõ họ có giành được chiến thắng như thế này không (như Việt Nam).

… Nếu Trung Quốc và Liên Xô thống nhất với nhau, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta hay không. Nếu hai nước thống nhất và liên kết với nhau để giúp chúng ta, không chắc Hoa Kỳ có dám đánh chúng ta cái cách mà họ đã đánh. Họ sẽ do dự ngay từ đầu. Họ sẽ do dự như thời Kennedy. Việt Nam, Trung Quốc và Liên Xô, tất cả đã giúp Lào và ngay lập tức Mỹ ký một hiệp ước với Lào. Họ không dám gửi quân Mỹ sang Lào, họ để cho Đảng [Nhân dân Cách mạng] Lào tham gia chính phủ ngay lập tức. Họ không dám tấn công Lào nữa.

Sau đó, khi hai nước [Liên Xô và Trung Quốc] xung đột với nhau, Mỹ được [Trung Quốc] thông báo là họ có thể tiến tới và tấn công Việt Nam mà không sợ. Đừng sợ [sự trả đũa của Trung Quốc]. Chu Ân Lai và Mao Trạch Đông đã nói với Mỹ: “Nếu các ông không tấn công tôi, thì tôi sẽ không tấn công các ông. Các ông có thể đưa nhiều quân vào miền Nam Việt Nam mà các ông muốn. Tùy các ông“.

… Hiện tại, chúng ta có biên giới với một nước rất mạnh, một nước với ý đồ bành trướng mà nếu muốn được thực hiện, phải bắt đầu với một cuộc xâm lược Việt Nam. Vì vậy, chúng ta phải chung vai gánh vác, vai trò lịch sử khác nhau. Tuy nhiên, chúng ta chưa bao giờ trốn tránh trách nhiệm lịch sử. Trước đây, Việt Nam đã thực hiện nhiệm vụ của mình, và lần này Việt Nam xác định không cho phép họ bành trướng. Việt Nam giữ độc lập riêng mình và làm như vậy cũng là để bảo vệ nền độc lập của các nước Đông Nam Á. Việt Nam kiên quyết không để Trung Quốc thực hiện âm mưu bành trướng. Trận đánh gần đây [với Trung Quốc] chỉ là vòng một. Hiện họ vẫn còn chuẩn bị nhiều lĩnh vực. Tuy nhiên, bất kể họ chuẩn bị đến mức độ nào, Việt Nam cũng sẽ thắng …

Tiến hành chiến tranh không phải là đi bộ thong thả trong rừng. Gửi một triệu quân vào cuộc chiến chống lại một nước ở bên ngoài liên quan đến vô số khó khăn. Gần đây họ đưa 500.000 – 600.000 binh lính để đánh chúng ta, nhưng họ đã không có thiết bị vận tải đầy đủ để cung cấp lương thực cho quân đội của họ. Trung Quốc hiện đang chuẩn bị 3,5 triệu quân, nhưng họ phải để lại một nửa số quân đó ở biên giới [Trung-Xô] để ngăn chặn Liên Xô. Vì lý do đó, nếu họ đưa 1 hoặc 2 triệu quân vào để đánh chúng ta, chúng ta sẽ không sợ bất cứ điều gì. Chúng ta chỉ có 600.000 quân tham gia, và trong tương lai gần, nếu chúng ta phải đánh với 2 triệu quân, sẽ không có vấn đề gì cả. Chúng ta không sợ.

Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta biết cách đánh. Nếu họ đưa 1 triệu quân, họ sẽ chỉ giành được một chỗ đứng ở miền Bắc. Đi xuống vùng trung du, vùng đồng bằng và Hà Nội và thậm chí xuống dưới sẽ khó khăn hơn nữa.

Các đồng chí, như các đồng chí biết, bọn Hitler tấn công quyết liệt theo cách này, nhưng khi họ (Đức Quốc xã) đến Leningrad, họ không thể vào được. Với thành phố, người dân và các công trình phòng thủ, không thể nào thực hiện các cuộc tấn công hiệu quả chống lại mỗi người và mọi người. Thậm chí đánh trong hai, ba hoặc bốn năm, họ vẫn không thể vào. Mỗi làng ở đó (ở miền Bắc) thì giống như thế. Đường lối của chúng ta là: mỗi huyện là một pháo đài, mỗi tỉnh là một chiến trường. Chúng ta sẽ chiến đấu và họ sẽ không thể nào vào được cả.

Tuy nhiên, không bao giờ đủ khi chỉ đánh kẻ thù ở tiền tuyến. Phải có một đội quân hậu tập trực tiếp mạnh mẽ. Sau trận đánh gần đây kết thúc, chúng tôi đánh giá rằng, trong tương lai không xa, chúng ta phải đưa thêm vài triệu người đến mặt trận phía Bắc. Nhưng kẻ thù đến từ phía bắc, hậu phương trực tiếp cho cả nước phải là Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh … Hậu phương trực tiếp bảo vệ thủ đô phải là Thanh Hóa và Nghệ Tĩnh. Chúng ta có đủ người. Chúng ta có thể đánh chúng bằng nhiều cách … Chúng ta có thể sử dụng 2-3 quân đoàn để giánh một cú mạnh vào chúng, sẽ làm cho chúng lảo đảo, trong khi chúng ta tiếp tục giữ đất của chúng ta. Để đạt được mục đích này, mỗi người lính phải là một người lính thực và mỗi đội phải là một đội hình thực sự.

- Bây giờ đã đánh xong một trận rồi, chúng ta không nên chủ quan. Chủ quan và đánh giá thấp kẻ thù là sai lầm, nhưng thiếu tự tin cũng sai. Chúng ta không chủ quan, chúng ta không đánh giá thấp kẻ thù. Nhưng chúng ta cũng tự tin và vững tin vào chiến thắng của chúng ta. Chúng ta cần phải có cả hai điều này.

- Bây giờ Trung Quốc có âm mưu đánh [chúng ta] để mở rộng xuống phía Nam. Nhưng trong thời đại hiện nay họ không thể đánh và dọn dẹp một cách dễ dàng. Trung Quốc chỉ đánh Việt Nam có vài ngày mà cả thế giới đã hét lên: “Không được đụng đến Việt Nam“! Thời đại hiện nay không giống như thời xưa. Trong những ngày này, không chỉ có chúng ta và họ (muốn nói Trung Quốc). Bây giờ cả thế giới đang gắn chặt với nhau. Loài người vẫn chưa hoàn toàn đi vào giai đoạn xã hội chủ nghĩa, nhưng đây là lúc mọi người đều muốn độc lập và tự do. [Ngay cả] trên các đảo nhỏ, người dân cũng muốn độc lập, tự do.

Cả nhân loại hiện nay như thế. Điều đó là rất khác với thời xưa. Thời đó, người dân chưa nhận thức rõ những điều này. Do đó, câu của Bác Hồ: “Không có gì quý hơn độc lập tự do” là một ý tưởng của thời đại hiện nay. Đụng đến Việt Nam là đụng đến nhân loại và xâm phạm độc lập, tự do … Việt Nam là một quốc gia tượng trưng cho độc lập và tự do.

- Khi phải chiến đấu chống Mỹ, anh em chúng ta trong Bộ Chính trị đã thảo luận với nhau về vấn đề này, cân nhắc liệu chúng ta có dám đánh Mỹ hay không. Tất cả đều đồng ý đánh. Bộ Chính trị đã bày tỏ quyết tâm: để chiến đấu chống Mỹ, chúng ta không sợ Mỹ. Tất cả đều đồng tâm. Khi tất cả đã đồng ý đánh Mỹ, không sợ Mỹ, chúng ta cũng không sợ Liên Xô. Tất cả đều đồng ý. Chúng ta cũng không sợ Trung Quốc. Tất cả đều đồng ý. Nếu chúng ta không sợ ba điều này, chúng ta có thể đánh Mỹ. Đó là cách chúng tôi đã thực hiện trong Bộ Chính trị hồi đó.

Mặc dù Bộ Chính trị đã gặp và tổ chức các buổi thảo luận như thế và mọi người đồng lòng, sau này có một người đã nói với một đồng chí điều mà tôi đã nói. Đồng chí đó đặt câu hỏi cho Bộ Chính trị, hỏi lý do gì mà Anh Ba một lần nữa lại nói rằng, nếu chúng ta muốn đánh Mỹ, thì chúng ta không nên sợ Trung Quốc? Tại sao anh ấy phải nói như vậy nữa?

Lúc đó, anh Nguyễn Chí Thanh, người đã bị nghi là có cảm tình với Trung Quốc, đứng lên và nói: “Kính thưa Bộ Chính trị và kính thưa Bác Hồ, lời phát biểu của Anh Ba là đúng. Phải nói như thế (ý nói không cần phải sợ Trung Quốc), vì họ (Trung Quốc) gây rắc rối cho chúng ta nhiều điều. Họ chặn chúng ta ở chỗ này, rồi họ trói tay chúng ta ở chỗ kia. Họ không cho chúng ta đánh…

Trong khi chúng ta đánh ở miền Nam Việt Nam, Đặng Tiểu Bình quy định rằng tôi chỉ có thể đánh ở mức trung đội trở xuống và không được đánh ở mức cao hơn. Ông ta (Đặng Tiểu Bình) nói: “Ở miền Nam, do các ông phạm sai lầm về việc đã khởi động đánh trước, các ông chỉ nên đánh ở mức trung đội trở xuống, không được đánh ở mức cao hơn“. Họ gây áp lực lên chúng ta như thế.

- Chúng ta không sợ ai cả. Chúng ta không sợ bởi vì chúng ta có lẽ phải. Chúng ta không sợ ngay cả anh trai của chúng ta. Chúng ta cũng không sợ bạn bè của chúng ta. Dĩ nhiên, chúng ta không sợ kẻ thù của chúng ta. Chúng ta đã đánh họ rồi. Chúng ta là con người, chúng ta không sợ bất cứ ai. Chúng ta độc lập. Cả thế giới biết chúng ta độc lập.

Chúng ta phải có một quân đội mạnh mẽ, bởi vì đất nước chúng ta đang bị đe dọa và bị bắt nạt … Không thể khác được. Nếu không, thì sẽ nguy hiểm vô cùng, nhưng đất nước chúng ta nghèo.

- Chúng ta có một quân đội mạnh, điều đó không có cách nào làm nhụt chí chúng ta. Có một số chính sách của Trung Quốc đối với chúng ta: xâm lược và chiếm đóng nước ta, tìm cách làm suy yếu chúng ta về kinh tế và làm cho điều kiện sống của chúng ta khó khăn. Vì những lý do này, để chống lại Trung Quốc, trước hết, chúng ta phải, không những chiến đấu, mà còn làm cho chúng ta mạnh mẽ hơn. Để đạt được mục đích này, theo tôi, quân đội của chúng ta không nên là một lực lượng lãng phí nguồn lực của nhà nước, mà nên là một lực lượng sản xuất mạnh mẽ. Khi kẻ thù đến, họ (những người lính) cầm súng ngay lập tức. Khi không có kẻ thù, thì họ sẽ sản xuất đàng hoàng. Họ sẽ là biểu tượng tốt nhất và cao nhất trong sản xuất, sản xuất nhiều hơn bất cứ người nào khác. Dĩ nhiên, đó không phải là một câu chuyện mới …

- Hiện nay, trên vai quân đội của chúng ta đang gánh vác một nhiệm vụ lịch sử: bảo vệ độc lập và tự do của chúng ta, trong khi cùng lúc bảo vệ hòa bình và độc lập trên toàn thế giới. Nếu chính sách bành trướng của bè lũ phản động Trung Quốc không thể thực hiện được nữa, sẽ là lợi ích của cả thế giới. Việt Nam có thể làm điều này. Việt Nam có 50 triệu người rồi. Việt Nam có những người bạn Lào và Campuchia và có địa thế vững chắc. Việt Nam có phe [XHCN] và tất cả nhân loại đứng về phía ta. Rõ ràng là chúng ta có thể làm điều này.

… Các đồng chí có biết người nào trong đảng chúng ta, trong nhân dân của chúng ta, nghi chúng ta sẽ thua Trung Quốc? Dĩ nhiên là không có ai cả. Nhưng chúng ta phải duy trì các mối quan hệ bạn bè của chúng ta. Chúng ta không muốn hận thù dân tộc. Tôi lặp lại: tôi nói điều này bởi vì tôi chưa bao giờ cảm thấy căm thù Trung Quốc. Tôi không cảm thấy như thế. Đó là họ đánh chúng ta.

Hôm nay tôi cũng muốn các đồng chí biết rằng trong thế giới này, người đã bảo vệ Trung Quốc là chính tôi! Đó là sự thật. Tại sao vậy? Bởi vì trong hội nghị tháng 6 năm 1960 tại Bucharest, 60 đảng đứng lên chống lại Trung Quốc, nhưng chỉ có mình tôi là người bảo vệ Trung Quốc. Việt Nam chúng ta là thế. Tôi sẽ tiếp tục lặp lại điều này: Tuy họ cư xử tồi tệ, chúng ta biết rằng người của họ là bạn của chúng ta. Về phía chúng ta, chúng ta không cảm thấy xấu hổ với Trung Quốc. Tuy nhiên, âm mưu của một số lãnh đạo (Trung Quốc) là một vấn đề khác. Chúng ta coi họ chỉ là một bè lũ. Chúng ta không nói tới đất nước họ. Chúng ta không nói người dân Trung Quốc xấu với chúng ta. Chúng ta nói bè lũ phản động Bắc Kinh. Tôi nói lại điều này một lần nữa một cách nghiêm túc như thế.

Vì vậy, chúng ta hãy kiểm soát tình hình chặt chẽ, trong tư thế sẵn sàng chiến đấu, và không bao giờ nới lỏng sự cảnh giác. Về mối quan hệ với Trung Quốc cũng vậy. Tôi tin rằng trong 50 năm, hoặc thậm chí trong 100 năm, chủ nghĩa xã hội có thể thành công, và lúc đó chúng ta sẽ không bị vấn đề này nữa. Nhưng sẽ mất một thời gian [dài] như thế. Vì vậy, chúng ta phải chuẩn bị và sẵn sàng trên mọi phương diện.

Hiện nay, chắc chắn không ai còn nghi ngờ nữa. Nhưng cách đây năm năm, tôi dám chắc rằng [không có] đồng chí nào nghi ngờ Trung Quốc có thể đánh chúng ta. Nhưng có. Đó là vì các đồng chí [này] không có kiến ​​thức về vấn đề này. Nhưng đó không phải là trường hợp của chúng tôi (Lê Duẩn và ban lãnh đạo). Chúng ta biết rằng Trung Quốc đã và đang tấn công chúng ta [cách đây] mười năm hoặc hơn. Vì vậy chúng ta không ngạc nhiên [về cuộc tấn công của Trung Quốc vào tháng 1 năm 1979].

Ngọc Thu, dịch từ: Wilson Center.

Đăng trong Chính trị, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: | 123 phản hồi »

Việt Nam không phải là con chuột to lớn chưa từng có ở châu Á

Posted by basamnews on 23/08/2010

The Washington Times

Sanders: Việt Nam không phải, xin nhắc lại là không phải, là Con chuột

to lớn chưa từng có ở châu Á

Bài của Sanders Sol, The Washington Times

Chủ Nhật 22 Tháng Tám 2010

 

Khung cảnh hầu như không thuận lợi cho cuộc thảo luận về địa chính trị nói chung.

Có nước trà – nhưng không có bánh xốp – trong trường quay nhỏ bé, không được sang trọng của tôi tại West Village, Phố Hudson. Đó là năm 1951. Tôi đã bị sa thải khỏi vị trí một người viết kịch bản cho Đài Tiếng nói Hoa Kỳ, một phần là do sự ủng hộ hung tợn của tôi cho nền độc lập của Việt Nam. Khách mời của tôi – người mà tôi vừa gặp – là một người lánh nạn sống nhờ lòng hảo tâm của tổ chức Maryknoll Fathers & Brothers.  Tôi đã tìm thấy ông, được nhiều bạn bè người Việt cho biết lai lịch của ông xứng đáng hơn đối thủ là ông Hồ Chí Minh, người có được tiếng tăm nhờ vào sự tuyên truyền.
Chiều hôm đó, vị tổng thống tương lai của Nam Việt Nam, ông Ngô Đình Diệm, đã thuyết giảng cho tôi nhiều vấn đề, trong đó có mối quan hệ rối rắm giữa Việt Nam và Trung Quốc. Ông Diệm cho rằng chỉ khi có một lực lượng thứ ba can thiệp vào thì nền độc lập trước một Trung Quốc hùng mạnh, đã thống nhất, mới có thể thực hiện được.
Trong tiếng thở dài của mình khi nói về lý do tại sao sự ủng hộ mạnh mẽ của Mỹ cho những nỗ lực của Pháp ở nước ông sẽ thất bại, ông Diệm đã đặc biệt chỉ ra các mối đe dọa mới của chủ nghĩa cộng sản Trung Quốc. Điều này đã xuất hiện một vài tháng trước đó tại ba cửa ngõ biên giới phía Bắc của Việt Nam. Trên thực tế, chỉ vài tuần trước đó, tôi đã từ bỏ một bản báo cáo của năm về cuộc xung đột, bằng việc đoan chắc rằng những bế tắc giữa Pháp và du kích Việt Minh chắc chắn sẽ đem đến sự can thiệp của Trung Quốc. Ông Diệm đã xác nhận giả thuyết của tôi.

Chỉ cho tới lúc này, sau đó nhiều thập kỷ, với những kẻ ly khai bị lộ mặt thật ở Paris với có lý do được che đậy trong việc theo đuổi những tham vọng thương mại của mình tại Trung Quốc, chúng ta mới biết rằng Bắc Kinh đã thực sự đóng một vai trò quan trọng trong thất bại cuối cùng của Pháp tại Điện Biên Phủ ba năm sau đó.

Đúng như điều được ghi tại Tòa nhà của Cục Lưu trữ Liên bang Hoa Kỳ: “Những gì của quá khứ là sự mở đầu.” Liên tục, người Việt đã ghi bàn trong những chiến thắng tạm thời đối với Trung Quốc. Năm 1979 – chỉ lấy một ví dụ mới nhất – Bắc Kinh đã cố gắng để “dạy cho Việt Nam một bài học” sau khi cộng sản Hà Nội, với sự chấp thuận của hầu như cả thế giới, họ đã xâm chiếm một quốc gia đồng minh của Trung Quốc, Campuchia, để lật đổ chế độ Khmer Đỏ gớm ghiếc. Cuộc tấn công bất ngờ của Trung Quốc đã đột ngột bị đánh bật trở lại.

Nhưng Bắc Kinh của hôm nay là một vấn đề khác.

Trung Quốc đang rót hàng tỷ tỷ nhân dân tệ vào quân đội của mình, trong khi chôn vùi các ngành công nghiệp phía bắc Việt Nam với hàng nhập khẩu và công nhân bất hợp pháp. Nước này cũng đã tiến xuống sông Mekong vào nước láng giềng Lào, quyết tâm không để lặp lại sự thất bại về hậu cần vốn góp phần vào thất bại năm 1979 của họ.

Quan hệ không rõ ràng của Việt Nam với Trung Quốc, bất chấp món nợ lớn của mình đối với văn hóa Trung Hoa, đã được phản ánh ngay cả trong những phe nhóm của Đảng Cộng sản cầm quyền ủng hộ Bắc Kinh và ủng hộ Moscow. Một biên tập viên của tờ báo đảng thậm chí còn bị sa thải gần đây do một bài xã luận “chống Trung Quốc”.

Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton đã công kích kịch liệt vào tất cả những điều này trong hội nghị thượng đỉnh ASEAN gần đây và trong các cuộc đàm phán song phương với lãnh đạo Việt Nam tại Hà Nội. Bà đã ném vào phía Bắc Kinh một lời phê phán di dỏm mà cay độc không ngờ, lên án những tuyên bố ngu xuẩn của Trung Quốc đối với vùng Biển Nam Trung Hoa [Biển Đông] – bao gồm cả các hòn đảo nhỏ cách đại lục 1.800 hải lý. Vùng Biển này hiện nay là một tuyến hàng hải chủ chốt của thế giới và là nguồn dầu khí ngày càng quan trọng cho một nước Trung Quốc phụ thuộc vào năng lượng.

Phản ứng của Bắc Kinh là ngay tức thì, đánh vào chủ nghĩa đế quốc Mỹ và thúc ép cho một nghị quyết song phương giữa Trung Quốc và ASEAN. Điều đó có thể chứng minh cho một tình thế có lợi với các thành viên ASEAN, những bên có yêu sách với nhau về chủ quyền chưa được giải quyết. Trên thực tế, bộ trưởng ngoại giao Philippines-Manila đã ký kết các “thỏa thuận” trên biển với Bắc Kinh – một cách để nhanh chóng nói lên rằng Hoa Kỳ nên tránh ra khỏi tranh chấp.

Những tàu quân sự Mỹ chỉ thực hiện các cuộc viếng thăm bến cảng có tính phô trương nhằm tăng cường quan hệ Washington-Hà Nội. Song điều đó cũng không ngăn được các quan chức Việt Nam cố có được vũ khí quân sự từ Moscow.

Những gì đang diễn ra là trò chơi cũ rích của những người cộng sản Việt Nam, đào hố ngăn cách để các nước lớn chống lại nhau – như họ đã làm nên thành công trong việc bóp nặn thêm viện trợ từ Bắc Kinh và Moscow trong cuộc chiến tranh với người Mỹ. Cùng một cái bẫy đã được bung lên nhờ vào các Thượng nghị sĩ John McCain và John Kerry vào những năm 1990 khi họ thúc đẩy sự công nhận và trợ giúp của Mỹ – mà không có nhượng bộ lớn nào – tại thời điểm mà Hà Nội đã tuyệt vọng để có được quan hệ  với Washington.

Nhưng những nỗ lực của Việt Nam để nhân bản mô hình phát triển kinh tế  của Trung Quốc đã không thành công. Mặc dù với một lực lượng lao động chi phí thấp hơn, có thể được rèn luyện để trở nên xuất sắc, song Việt Nam đã khiến các nhà đầu tư sợ hãi với mức độ tham nhũng trong đội ngũ viên chức và bất tài trong bộ máy quan liêu tới mức ngang ngửa với Trung Quốc.

Sau một cú bộc phát tương đối ngắn, nền kinh tế của Hà Nội – bị tổn thương phần nào do cuộc suy thoái toàn cầu – một lần nữa đã sút kém, như được thấy bởi sự mất giá của tiền tệ lần thứ ba trong chín tháng. Các đợt phá giá là những nỗ lực khập khiễng nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và không khuyến khích một thị trường đen bùng lên với hơn 7 tỉ USD mỗi năm từ những người Việt Nam sống tại Bắc Mỹ, Australia và Pháp gửi về – là nguồn thu ngoại hối lớn nhất.

Phần lớn châu Á, có thể chính xác hay không, cho là chính quyền Obama đang từng bước rút lui trước sức mạnh ngày càng tăng của Trung Quốc. Một liên minh mạnh hơn với Việt Nam cộng sản, không hẳn là một đối tác hoàn toàn đáng tin cậy, nhưng có thể là một khối gắn kết sẵn có nếu Washington quan tâm đến việc đảo ngược hình ảnh của  cuộc rút lui quân sự.

Nhưng nó sẽ không bù đắp để một nước Mỹ có ảnh hưởng lên chiến lược Trung Quốc tổng thể, một chiến lược mà vẫn còn phải đi cầu khẩn van xin.

• Sol Sanders, một cựu phóng viên nước ngoài và là cựu phân tích gia, viết hàng tuần tập trung vào chính trị quốc tế, kinh doanh và kinh tế

Nguồn: The Washington Times

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Kinh tế Việt Nam, Quan hệ Mỹ - Việt, Quan hệ Mỹ-Trung, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , | Leave a Comment »

ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT ĐỂ CỦNG CỐ ĐỊA VỊ

Posted by basamnews on 29/07/2010

THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM

ĐẶNG TIỂU BÌNH SỬ DỤNG CHIẾN TRANH TRUNG-VIỆT ĐỂ CỦNG CỐ

ĐỊA VỊ

Tài liệu tham khảo đặc biệt

Thứ Năm, ngày 22-7-2010

Tuần san châu Á số từ 11-18/7/2010 đăng bài của Giang Tấn về những ân oán trong quan hệ Trung-Việt. Theo Giang Tấn, cuộc chiến tranh biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam năm 1979 chủ yếu là do một mình Đặng Tiểu Bình quyết định nhằm củng cố địa vị của mình.

 

Dẫn lời ông Nghê Sáng Huy, một người từng trải qua những năm tháng chiến tranh Trung-Việt, tác giả cuốn “Mười năm chiến tranh Trung-Việt” vừa được Nhà xuất bản Thiên Hành Kiện (Hồng Công) ấn hành vào đầu tháng 6/2010, Giang Tấn cho biết vào năm 1977, Đảng Cộng sản Trung Quốc triệu tập Hội nghị Trung ương 3 khóa X, khôi phục các chức vụ lãnh đạo cho Đặng Tiểu Bình, gồm Phó Chủ tịch nước, Phó Thủ tướng Quốc vụ viện, Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương và Tổng Tham mưu trưởng quân đội. Một năm sau đó, Đặng Tiểu Bình lại được bầu làm Chủ tịch Chính hiệp Toàn quốc. Cách mạng Văn hóa vừa kết thúc, Đặng Tiểu Bình muốn trước tiên phải lập lại trật tự, thúc đẩy đường lối tư tưởng, nên đưa ra trọng điểm công tác cho cả nước là chuyển dịch sang xây dựng kinh tế. Tuy nhiên, khi đó ở Trung Quốc, tư tưởng tả khuynh trong, ngoài đảng và ở quần chúng vẫn tiếp tục “trượt” theo quán tính. Đặc biệt là nhóm trong Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc do Hoa Quốc Phong cầm đầu vẫn chủ trương tiếp tục duy trì lý luận và thực tiễn của Cách mạng Văn hóa thêm một thời gian. Trong quân đội Trung Quốc cũng có không ít cán bộ cao cấp tỏ ra không thông với chính sách và đường lối của Đặng Tiểu Bình. Chính vì thế, Đặng Tiểu Bình thấy rằng muốn phá vỡ cục diện này, phải tiến hành cải cách mở cửa. Nhưng nếu chỉ dựa vào chức vụ của Đặng Tiểu Bình khi đó thì khó có thể xoay chuyển được tình thế, mà phải cần đến một phương thức có thể quét sạch được mọi chướng ngại của thế lực cực tả đối với cải cách mở cửa.

Theo ông Nghê, nếu như khi đó đưa ra những đánh giá lịch sử về Mao Trạch Đông, phủ định đường lối “hai phàm là” của Hoa Quốc Phong (Phàm là quyết sách Mao Chủ tịch đưa ra, chúng ta phải kiên quyết bảo vệ; Phàm là chỉ thị của Mao Chủ tịch, chúng ta đều phải tuân thủ trước sau như một – P/v TTXVN), thời cơ vẫn chưa chín muồi. Do đó, Đặng Tiểu Bình quyết định lợi dụng chức vụ Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương kiêm Tổng Tham mưu trưởng và sự tín nhiệm của phái nguyên lão trong quân đội đối với mình để tìm kiến sự đột phá từ quân đội. Đặng Tiểu Bình cho rằng cần thiết phải phát động một cuộc chiến tranh chống lại “kẻ xâm lược”, thông qua chiến tranh để chuyển hướng đấu tranh trong nước, tái cố kết sự đoàn kết dân tộc của người dân. Đặng Tiểu Bình cũng muốn nhân cơ hội sau chiến tranh tiến hành điều chỉnh nhân sự trong quân đội. Quả nhiên, sau chiến tranh Trung-Việt, Đặng Tiểu Bình đã làm một cuộc “thay máu” đối với quân đội, đưa một loạt cán bộ trẻ, cán bộ trung niên vào vị trí lãnh đạo. Có thể nói, tiến hành chiến tranh là con đường nhanh nhất giúp Đặng Tiểu Bình xác lập quyền uy tuyệt đối trong Đảng Cộng sản và quân đội Trung Quốc, đẩy mạnh thực hiện kế hoạch cải cách mở cửa.

Ông Nghê cho rằng Trung Quốc đánh Việt Nam là do Việt Nam đưa quân vào Campuchia và Trung Quốc ủng hộ Campuchia chống lại Việt Nam. Ban đầu, Trung Quốc gọi đây là “phản kích tự vệ” sau đó lại đổi thành “đánh trả”. Cuộc chiến tranh biên giới Trung-Việt, theo ông Nghê, tuy đã khiến Việt Nam rút một phần quân khỏi Campuchia, phá vỡ thế bao vây chiến lược của Liên Xô đối với Trung Quốc, làm rõ quân bài chiến lược của Mỹ và Liên Xô, rèn luyện quân đội, nhưng kết quả đạt được rất hạn chế: Không lấy được đất đai của Việt Nam, cũng không lật đổ được chính quyền Việt Nam (nguyên văn là “tập đoàn thống trị Lê Duẩn”). Và mặc dù các mục đích mà Quân ủy Trung ương Trung Quốc đề ra cơ bản đạt được, nhưng nếu xét về lợi ích chỉnh thể của quốc gia, cái hại vẫn lớn hơn cái lợi. Tại sao vậy? Ông Nghê cho rằng trước tiên là cuộc chiến tranh Trung-Việt đã được các nước phương Tây do Mỹ đứng đầu lấy làm cái cớ để cô lập Trung Quốc. Hai là, việc Trung Quốc xuất binh tấn công Việt Nam đã làm kinh động các nước Đông Nam Á. Ba là, cắt đứt quan hệ giữa Trung Quốc với thế giới thứ ba, khiến Bắc Kinh rơi vào thế cô lập. Bốn là, Trung Quốc mất đi uy tín trong xử lý quan hệ cấp quốc gia. Năm là, chiến tranh Trung-Việt gây tổn thất nặng nề về mặt kinh tế cả cho Việt Nam lẫn Trung Quốc.

Khi nói về trình tự tiến hành chiến tranh, ông Nghê cho biết một cuộc chiến tranh tất yếu phải đi theo những trình tự do pháp luật quy định. Trước đây, quan niệm pháp trị của người Trung Quốc không cao và nó được biểu hiện trong một số cuộc chiến tranh lớn. Ví dụ: Chiến tranh Triều Tiên chủ yếu do một mình Mao Trạch Đông quyết định, Chiến tranh Trung-Việt chủ yếu do một mình Đặng Tiểu Bình quyết định. Một người hoặc một vài người vội vàng quyết định tiến hành chiến tranh, theo ông Nghê, khó có thể tránh khỏi việc quyết định đó mang màu sắc tình cảm phiến diện, chủ quan của cá nhân, rất dễ phạm phải sai lầm mang tính lịch sử và hậu quả cũng vô cùng đáng sợ.

Ông Nghê cho biết chiến tranh Trung-Việt không những không được Đại hội Đại biểu Nhân dân Toàn quốc (Quốc hội) thảo luận thông qua, mà cũng không được Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn. Theo ông Nghê, chiến tranh phải công khai với nhân dân, cho phép nhân dân bày tỏ thái độ của mình. Nhân dân vốn là chủ nhân của đất nước, nên có quyền được biết tình hình, có quyền được bày tỏ thái độ. Việc nhân dân có thể bày tỏ thái độ một cách tự do đối với một cuộc chiến tranh cũng có lợi cho việc ngăn ngừa một số cá nhân nào đó đi ngược lại ý nguyện của đại đa số nhân dân, phát động chiến tranh./.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: , , , , , | Leave a Comment »

Với một VN tự do kinh doanh, ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc chiến?

Posted by basamnews on 02/03/2010

History News Network

Với một Việt Nam tự do kinh doanh, ai đã thực sự chiến thắng trong cuộc

chiến?

William Thompson

Ngày 1-3-2010

Ông Thompson, Giáo sư Quản trị Công, Đại học Nevada, Las Vegas, là tác giả của cuốn sách Legalized Gambling: A Reference Handbook (Santa Barbara and Denver: ABC-Clio, 1994 and 1997- xuất bản lần 2).

 

Vào dịp cuối năm, tôi đã đi thăm Việt Nam và tôi đã thay đổi suy nghĩ của mình. Giờ đây tôi kết luận rằng chúng ta đã thắng trong cuộc chiến Việt Nam. Có điều chúng ta đã không có mặt ở đó để ăn mừng chiến thắng.

Tôi đã ở Việt Nam trong chuyến thăm con trai tôi, một thầy giáo ở Trường Quốc tế Nam Sài Gòn (vâng! Sài Gòn). Tôi đã đi “xích lô” từ Bưu điện [TP] Hồ Chí Minh, đầy những người bán hàng rong, tới Chợ Bến Thành – từ một điểm nóng của chủ nghĩa tư bản tới nơi khác. Tôi đã đáp một chuyến xe lửa tới bãi biển Mũi Né, lưu lại tại một khu nghỉ mát cao cấp có phong cách phương Tây. Tôi đã đi bằng xe buýt qua những khu vực xe cộ lưu thông không thể tưởng tượng nổi để tới Công viên Quốc gia Cát Tiên. Tại đó, tôi đã hỏi anh hướng dẫn viên người Đức của mình (anh ta làm cho Deutschland, tổ chức của Đức tương tự như Peace Corps của chúng ta), nói cho tôi biết điều gì thật sự là “cộng sản” bên trong nước Việt Nam. Sau khi nghĩ ngợi, anh ta nói: “Ôi, tôi đoán chừng có lẽ một thứ duy nhất là cái công viên này, do chính phủ làm chủ. Tôi không thể nghĩ ra cái gì khác được.”

Tôi đã đi tới kết luận là anh ta đã đúng. Về thứ duy nhất là cộng sản mà tôi đã tìm thấy trên đất nước này là công viên quốc gia, cùng các công viên trong thành phố và một ít các viện bảo tàng.

Chiến tranh Mỹ – Việt Nam đã nổ ra với nhiều mục đích – mặc dù các mục đích này được giải thích không rõ ràng và mập mờ. Một lập luận cho cuộc chiến là “thuyết domino”. Đồng thời với chính sách ngăn chặn (như những gì đã được George F. Kennan giải thích năm 1947), thuyết domino đã giải thích rằng nếu như cộng sản có thể thắng ở một quốc gia, thì họ sẽ tìm cách xâm chiếm quốc gia không cộng sản tiếp theo ở kế bên, cho tới khi tất cả các nước sụp đổ như những quân bài domino. Toàn thế giới là mục tiêu của tư tưởng domino, như những gì được nói rõ trong bản tuyên ngôn của Marx và Engels. Nếu như miền nam Việt Nam sụp đổ vào tay những người cộng sản được Liên Xô và Trung Quốc giúp đỡ, thì chúng ta tin rằng Lào, Cambodia, Thái Lan, Miến Điện, Singapore, Malaysia, và Philippines cũng sẽ sụp đổ như vậy, tiếp đến là toàn thể châu Á – và sau đó là cả thế giới.

Tổng thống Lyndon B. Johnson đã tuyên bố trong một bài diễn văn đọc vào ngày 7 tháng 4 năm 1965 rằng: “Qua cuộc chiến tranh này … là thực tế khác: cái bóng đang ngày càng rõ nét hơn của Cộng sản Trung Quốc. Các nhà lãnh đạo Hà Nội bị thúc giục bởi Bắc Kinh. Đây là một chế độ đã tiêu diệt nền tự do ở Tây Tạng, đã tấn công Ấn Độ, và đã bị Liên hiệp Quốc lên án về hành động xâm lược Triều Tiên. Đó là một quốc gia đang trợ giúp cho các nhóm bạo lực trên khắp các lục địa. Cuộc chiến đấu ở Việt Nam là một phần của một kiểu mẫu rộng lớn hơn trong mục đích hiếu chiến đó”.

Cũng có những lý do về ý thức hệ để có mặt trong cuộc chiến này. Chúng ta muốn chứng tỏ tính khả thi của chủ nghĩa tư bản tự do kinh doanh trong cuộc chạy đua với quyền sở hữu nhà nước về kinh doanh.

Tổng thống Johnson đã tiếp tục bài diễn văn với hy vọng rằng thậm chí đối thủ của chúng ta có thể nhìn thấy sự sáng suốt của việc hợp tác với nhau để có nhiều hơn hoạt động thương mại. “Tôi có thể hy vọng rằng Tổng thư ký Liên hiệp quốc có thể sử dụng uy tín của mình … để đề xướng, càng sớm càng tốt, với các quốc gia trong khu vực, một kế hoạch hợp tác để gia tăng sự phát triển. Về phần chúng ta, tôi sẽ đề nghị Quốc hội cùng tham gia vào một hoạt động đầu tư trị giá một tỉ đô la trong nỗ lực này ngay từ khi nó còn đang trên đường thực hiện … Nhiệm vụ không gì hơn là tăng thêm hy vọng và sự tồn tại của hơn một trăm triệu dân chúng”.

Có một mục tiêu nhân đạo trong cuộc chiến này. Johnson đã nói về nỗi khiếp sợ và bạo lực ở miền Nam Việt Nam. “Đó là một cuộc chiến về sự tàn bạo chưa từng có. Những người nông dân bình dị là mục tiêu của ám sát và bắt cóc. Phụ nữ và trẻ em bị siết cổ nửa đêm vì những người đàn ông của họ trung thành với chính phủ của mình. Những ngôi làng bé nhỏ và không được bảo vệ đã bị tấn công lén lút. Những cuộc lùng ráp với quy mô lớn được chỉ đạo nhắm vào các thị trấn và những cuộc tấn công kinh hoàng vào trung tâm các thành phố.”

Dù mục tiêu của chúng ta là thế nào đi nữa thì chúng ta cũng đã từ bỏ những ý niệm cho rằng lực lượng của chúng ta đã lật đổ chế độ cộng sản đang tồn tại ở miền Bắc Việt Nam, mà là được sử dụng để bảo vệ sự tồn tại của thể chế tự do kinh doanh ở miền Nam Việt Nam. Chúng ta đã làm như thế với ý nghĩ rằng chúng ta đang bảo vệ cho “nước Nam Việt Nam độc lập”. “Chúng ta không muốn điều gì cho bản thân mình, mà chỉ duy nhất là người dân miền Nam Việt Nam được phép dẫn dắt đất nước của riêng họ đi theo con đường của riêng họ”. Không có lời báo trước nào được đưa ra cho một thực tế là chỉ có một quốc gia Việt Nam cho tới khi người Pháp ra đi vào năm 1954. Những nỗ lực của chúng ta ủng hộ một nước Việt Nam phân chia – không phải là quảng bá cho một quốc gia thống nhất, một quốc gia độc lập. Đã có hai nước Việt Nam chỉ trong một thập kỷ.

Năm 1973, Hoa kỳ tham gia vào cuộc đàm phán hòa bình với hứa hẹn rằng một chế độ Nam Việt Nam có thể được duy trì. Chúng ta đã thỏa thuận ngưng chiến và rút hết các đơn vị và lực lượng quân sự của chúng ta, và miền Bắc đã đồng ý rằng họ sẽ không xâm chiếm miền Nam. Những thực tế chính trị đã dẫn tới những kết quả khác nhau. Việc rút quân của chúng ta đi kèm với việc chấm dứt viện trợ quân sự của chúng ta do Quốc hội đưa ra. Bắc Việt Nam đã dần dần xâm chiếm miền Nam. Năm 1975, quân đội Bắc Việt Nam đã chiếm Sài Gòn.

Trong ba mươi lăm năm, tôi đã nghe được là chúng ta đã “thua” trong cuộc chiến tranh đó. Mặc dù vậy, những gì tôi đã trông thấy qua kỳ nghỉ mới đây đã đưa tôi tới việc phủ nhận cái kết luận đó. Cuộc chiến đó ta đã “thắng”. Vấn đề là chúng ta đã không ở đó đủ lâu để nhìn thấy chiến thắng. Trớ trêu là chiến thắng “của chúng ta” đã giành được, không phải do quân đội Mỹ, mà đúng hơn là bởi quân đội và người dân Việt Nam.

Lúc cộng sản mới giành quyền kiểm soát mà họ đã làm, như Washington từng lo ngại, là kết quả của sự mất tự do, nhà cửa, và cuộc sống – một hệ quả gần như là tất yếu của chiến tranh, khi Quân đội Bắc Việt Nam bỏ tù nhiều người miền Nam. Đó cũng là kết quả của sự áp đặt hệ tư tưởng cộng sản. Tài sản cá nhân đã bị tịch thu và những hoạt động kinh doanh tự do đã bị kìm chế bằng vũ lực.

Song những gì quan trọng hơn đã diễn ra. Việc rút quân khỏi Việt Nam của Hoa Kỳ đã đảm bảo cho sự sụp đổ của chinh phủ Cambodia vốn đã dễ tan vỡ, bị hạ bệ và thay thế bằng Khmer Đỏ của Pol Pot. Làn sóng bạo lực khủng khiếp mà chúng ta đã lo ngại sẽ tuôn vào miền Nam Việt Nam thì lại đã đến với Cambodia. Sự áp đặt thứ chủ nghĩa cộng sản nông dân của Pol Pot đã dẫn tới những cuộc di tản tại các thành phố của Cambodia, cưỡng bức lao động ở nông thôn, và giết người hàng loạt trên “những cánh đồng chết”. Hành động giết người được nhắm vào các đối thủ chính trị – như các nhà sư Phật giáo và các thương gia – và trên những thứ di sản của nước ngoài này, có cả người Trung Quốc và người Việt Nam. Hơn hai triệu người đã bị giết hại trong tội ác diệt chủng ở Cambodia.

Không có đơn vị quân đội nào của Mỹ còn ở lại Việt Nam, chúng ta gần như không có thái độ nào nhằm chấm dứt việc giết chóc đó. Hoa Kỳ đã làm được rất ít trong việc sử dụng sức ép ngoại giao để ngăn chặn Pol Pot. Thay vào đó, chính quyền Carter đã đưa ra sự trợ giúp đối với Pol Pot bằng việc ủng hộ sự công nhận của Liên hiệp quốc đối với chính quyền của ông ta.

Thế nhưng hành động giết người ở Cambodia đã đi đến kết thúc. Bằng cách nào? Khmer Đỏ đã chỉ đạo những cuộc đột kích biên giới vào Việt Nam, và Việt Nam đã phản công. Ngày 25 tháng 12 năm 1978, Việt Nam đã xâm chiếm Cambodia. Pol Pot đã bị hạ bệ, một chính phủ mới được hình thành, và hành động giết chóc đã được chấm dứt. Chính phủ cộng sản mới lên của một nước Việt Nam hợp nhất đã chấm dứt nạn diệt chủng.

Chính phủ bù nhìn mới ở Cambodia cũng là cộng sản, nhưng liệu điều này có nghĩa là những quân bài domino đang đổ hay không? Khó có thể nói. Trong khi theo đuổi những mục tiêu trong chính sách ngăn chặn của Kennan, những nỗ lực của chúng ta đã dựa trên cơ sở giả định rằng, việc trở thành những người cộng sản anh em sát cánh nhau, Trung Quốc và người Việt Nam sẽ ưa thích nhau. Không phải vậy đâu! Họ đã có cả một thiên niên kỷ thù hận và họ chỉ tạm thời giữ mối quan hệ do xung đột với người Mỹ (và trong cả những cuộc chiến tranh trước đó với người Pháp và người Nhật). Trung Quốc và Việt Nam từng là những kẻ thù truyền kiếp.

Khi Việt Nam đạt được việc thống nhất lãnh thổ, thì họ đã xua đuổi những người gốc Trung Hoa. Trung Quốc đã tỏ phản ứng bị xúc phạm. Tháng 2 năm 1979, Trung Quốc từ bỏ cuộc chơi con bài domino, đưa 120.000 quân sang Việt Nam. Việt Nam đã chống trả, chặn đứng người Trung Quốc trước khi họ có thể tiến tới Hà Nội, và phản công qua biên giới Trung Quốc. Trong vòng một tháng, Trung Quốc đã rút khỏi Việt Nam. Chỉ có duy nhất một thứ bị đánh bại là thuyết domino.

Khi những hành động giết chóc bị chặn đứng, và trò chơi domino chấm dứt, thì có một sự kết liễu đối với tư tưởng cộng sản. Sự áp đặt kinh tế học cộng sản đã dẫn tới những tình cảnh mà Hoa Kỳ đã tiên đoán: tình trạng thiếu sức sản xuất, thiếu hàng hóa, và thiếu ăn. Ở một đất nước mà nền nông nghiệp là chủ yếu nhưng đã phải nhập khẩu gạo từ Ấn Độ. Người Việt Nam là những con người vốn dĩ giàu nghị lực với khả năng vô bờ bến, đã được thấy qua sự quyết tâm của họ đứng lên chống lại người Mỹ, người Pháp, người Trung Quốc và người Cambodia. Nhưng giờ đây họ được lệnh đứng vào hàng ngũ và cúi đầu trước những sắc lệnh của các quan chức chính quyền cùng hệ tư tưởng. Năng lượng của họ đã bị bít chặt.

Những người lãnh đạo của họ không phải hoàn toàn không thấy được. Một câu chuyện phổ biến là có một vị tướng lãnh đạo đã bước lên bục phát biểu ở Đại hội toàn quốc lần thứ 6 năm 1986. Ông nói rằng ông kêu gọi người dân và quân lính của mình đổ mồ hôi, nước mắt, và cả máu để chiến đấu không phải để giành lấy “điều này!” Họ đã chiến đấu để có được một cuộc sống tốt đẹp hơn. Nhưng mọi sự càng trở nên tồi tệ hơn. Ông đã kêu gọi đảng “hãy để cho người dân được tự do dùng nội lực của mình sản xuất ra hàng hóa cho lợi ích của mình”.

Các nhà lãnh đạo đã không thể tranh cãi được với vị tướng này, và một thời kỳ gọi là “đổi mới” (sửa chữa lại, phục hồi, cải cách) đã được đề xướng trong đại hội đảng năm đó.

Hệ thống cai trị ở Việt Nam vẫn được lãnh đạo bởi Đảng Cộng sản Việt Nam, song những gì mà họ có, xét về mặt kinh tế, là những gì mà quân đội Mỹ đã chiến đấu để bảo vệ. Những hoạt động buôn bán, đầu tư vốn, sản xuất và phát triển xuất khẩu trên thị trường tự do là một phần của “đổi mới”. Nghèo đói đã được cắt giảm một nửa, thu nhập tăng gấp đôi, tăng trưởng kinh tế đã trở nên mạnh mẽ, và lương thực giờ đây đã có đủ để xuất khẩu. Dân chúng không còn đói. Những thay đổi trong cơ cấu kinh tế đã đưa đến việc Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm vận vào năm 1994, và Việt Nam giờ đây là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới WTO.

Sài Gòn vẫn là “Sài Gòn” đối với dân chúng, mặc dù chính quyền gọi nó là Thành phố Hồ Chí Minh. Ở phía nam thành phố, một công ty Đài Loan đã cải tạo hàng ngàn hecta đầm lầy và phát triển một khu ngoại ô lớn có tên là Phú Mỹ Hưng. Các trung tâm mua bán và các đường phố thương mại có những nhà hàng, khách sạn, những căn nhà và các căn hộ chung cư. Các căn nhà lân cận với Trường Quốc tế Nam Sài Gòn, do người Đài Loan sở hữu, nhưng theo cách giáo dục của Anh cho trẻ em từ Việt Nam và trẻ em đến từ 30 quốc gia khác.

Xung quanh góc khu vực này là Hiệu sách Phú Mỹ Hưng. Hầu hết sách trong đó bằng tiếng Việt, nhưng tôi đã đánh bạo nhìn quanh. Có những tờ báo và các cuốn tạp chí du lịch của Mỹ. Cũng có một cuốn sách tiếng Anh mà tôi đã mua được: “Viet Nam Vision 2020: The 10th National Congress of the Communist Party of Viet Nam.” Cuốn sách giải thích là đất nước đang được hưởng năm thứ hai mươi lăm liên tục tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ tăng trưởng trung bình là 5,5% mỗi năm, đứng thứ hai trên thế giới, chỉ sau Trung Quốc. Sản lượng nông nghiệp đã tăng gấp đôi trong mười lăm năm qua. Việt Nam là nước thứ hai sau Brazil về xuất khẩu café, thứ tư về xuất khẩu cao su, và thứ tư về xuất gỗ và đồ gia dụng bằng gỗ. Có mười ba xưởng lắp ráp xe máy trong nước.

Các doanh nghiệp nhà nước đang được thay thế bởi các công ty tư nhân. “Con số toàn bộ các doanh nghiệp tư nhân đã tăng lên từ 132 năm 1991, thành 80.000 năm 2003, và 170.000 năm 2006.” Có 9,7 triệu “doanh nghiệp cá thể”, và một nửa các gia đình ở Việt Nam có liên quan tới việc sở hữu doanh nghiệp. Bảy mươi ba quốc gia đã đầu tư vào nước này.

Có sự quan ngại về tình trạng tham nhũng trong bộ máy công chức. Bản Báo cáo “Tầm nhìn” 2020 đã công khai chỉ trích nạn hối lộ và tham nhũng trong các quan chức của đảng, và chỉ ra rằng “đảng đã kỹ luật 40.000 đảng viên dưới các hình thức khiển trách, cảnh cáo, sa thải, khai trừ hoặc bỏ tù”.

Ý niệm về chiến thắng của các giá trị Mỹ được phản ánh trong những mục tiêu mà đảng này đã chỉ ra trong bản báo cáo:

Để giải phóng mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh mọi tiềm năng cũng như các nguồn nhân lực … Để tiến mạnh tới một nền kinh tế thị trường, tuân thủ những nguyên lý thị trường … Để động viên tất cả mọi người dân nâng cao mức thu nhập của mình qua những cách thức hợp pháp … Để làm nên những thay đổi quan trọng trong cải cách hành chính, và giảm bớt tác phong quan liêu, nạn tham nhũng, và lãng phí … Để thực hiện một hệ thống phân phối cơ bản theo kết quả công việc, hiệu quả kinh tế, mức độ đóng góp vốn và những nguồn khác … Để tạo nên một môi trường hợp pháp thuận lợi, các cơ chế và chính sách để thu hút tất cả các nguồn tài nguyên xã hội cho phát triển … Để quản lý có hiệu quả các hoạt động của những thị trường cơ bản cùng hàng ngũ với một hình mẫu cạnh tranh lành mạnh … Để phát triển vững vàng thị trường tài chính … Để phát triển thị trường nhà đất, trong đó có thị trường cho quyền sử dụng đất … Để cho đất đai là một nguồn vốn thực sự cho đầu tư … Để ngay lập tức thu hút vốn đầu tư … cho việc thực hiện các dự án quan trọng về việc khai thác dầu lửa và khí đốt.

Bản báo cáo đã đi xa hơn khi thúc giục rằng “phải có sự trợ giúp cho việc phát triển các doanh nghiệp, mà không có sự can thiệp vào quá trình sản xuất và kinh doanh của họ … Những cố gắng phải được thực hiện để đảm bảo rằng tất cả mọi công dân đều có quyền tự do đầu tư vào hoạt động kinh doanh của mình mà không có hạn chế trong mọi lĩnh vực …”

Sarah Palin (1) và Mike Huckabee (2) không cần những người Cộng hòa thuê ông Newt Gingrich (3) để viết thêm “một hợp đồng với nước Mỹ”. Những người Cộng hòa chỉ cần nhìn vào bản Báo cáo Tầm nhìn năm 2020 về kế hoạch Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2010. Cuộc chiến đã thắng!

 

Ghi chú của người hiệu đính:

(1) Sarah Palin: cựu thống đốc tiểu bang Alaska và là ứng viên chức Phó Tổng thống cùng với John McCain là ứng cử cho chức tổng thống trong kỳ bầu cử vừa qua. Liên danh này đã thất bại. Hiện tại Sarah Palin đang làm cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, đài có khuynh hướng ủng hộ đảng Cộng hòa.

(2) Mike Huckabee: cựu thống đốc tiểu bang Arkansas và là ứng viên đảng Cộng hòa tranh cử chức tổng thống vừa qua nhưng đã thua John McCain ở vòng đầu. Hiện tại Mike Huckabee đang cộng tác viên cho đài truyền hình Fox, phụ trách chương trình talk show Huckabee.

(3) Newt Gingrich: là cựu Chủ tịch Hạ viện Hoa Kỳ (chức vụ này hiện do bà Nancy Pelosi, thuộc đảng Dân chủ nắm giữ). Newt Gingrich đã từng giúp Larry Hunter viết “Contract with America”, đưa ra các chi tiết về hành động mà đảng Cộng hòa hứa hẹn sẽ làm nếu đảng Cộng hòa giành quyền kiểm soát Hạ viện. Nhờ vậy mà đảng Cộng hòa chiếm đa số trong Hạ viện từ năm 1995, đến 2006 thì bị đảng Dân chủ giành quyền kiểm soát. Hiện nay, Newt Gingrich là nhà tư vấn và là phân tích gia về chính trị.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong Chiến tranh VN, Kinh tế Việt Nam, Lịch sử, Quan hệ Việt-Trung, TQ xâm lược '79 | Tagged: , , , , , , , , | Leave a Comment »

Trung Quốc nên có ngày cựu chiến binh

Posted by basamnews on 28/02/2010

China Daily

Trung Quốc nên có ngày cựu chiến binh

Yuan Boyang

Ngày 26-2-2010

 

Trong thời gian diễn ra lễ hội mùa xuân mừng năm con Hổ, Guo Yimin đã không được đoàn tụ với gia đình. Người cựu chiến binh của cuộc phản công tự vệ chống lại Việt Nam đã phải sống một mình tại biên giới giữa Trung Quốc và Việt Nam ở quận Aidian, tỉnh Quảng Tây để làm trọn lời hứa 30 năm trước với người bạn chiến đấu đã hy sinh của mình năm 1979: “Người nào còn sống sót thì phải đem hài cốt của người kia về quê nhà”.

Hoàn cảnh của người bạn chiến đấu với Guo không phải là tệ nhất, ít nhất là ai đó vẫn còn nhớ tới ông và đã làm gì đó cho ông. Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên, hàng ngàn binh lính Trung Quốc thậm chí đã được chôn cất không rõ tên tuổi ở nước ngoài, một thực trạng gây nên bao nhiêu lời trách móc khôn nguôi từ các gia đình và bạn bè còn sống sót của họ. Và đây không phải là vấn đề duy nhất đối với các cựu chiến binh Trung Quốc.

Người chết đã ra đi từ lâu, trong khi những người sống sót phải đối mặt với nhiều khó khăn hơn. Một lý do là trong số các cựu binh Trung Quốc thuộc một nhóm người nào đó, đói nghèo là một hiện tượng phổ biến. Đối với các cựu chiến binh của cuộc chiến tranh Triều Tiên, khoản trợ cấp hàng tháng của chính phủ vào khoảng 400 nhân dân tệ, trong khi các cựu binh trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam được trợ cấp chưa tới 200 nhân dân tệ một tháng. Mức trợ cấp này nằm dưới mức sống tối thiểu, thấp hơn nhiều so với mức trợ cấp trung bình của một công nhân bình thường cùng lứa tuổi nghỉ hưu.

Một lý do khác, điều đáng thương hơn là các cựu chiến binh phải chịu đựng thái độ thiếu tôn trọng và khinh miệt của xã hội. Như trang Peolple.com.cn cho biết, cựu binh Fu Xiqing, người đã bị mất một chân trong cuộc kháng chiến chống Nhật, đã phải sống những năm cuối đời của mình tại Thiên Tân với công việc vệ sinh đường phố; Yang Yunfeng, người chiến binh đã tiêu diệt những kẻ xâm lược bằng mã tấu trên cầu Lugou, nhưng trớ trêu là ông đã trở thành kẻ ăn mày không được hoan nghênh tại cổng Bảo tàng Kỷ niệm cuộc chiến tranh chống Nhật của nhân dân Trung Quốc.

Trong khi đó, các cựu chiến binh Nhật Bản có thể nhận được hơn một trăm ngàn Yen (7.600 nhân dân tệ) mỗi tháng như là món “tiền thưởng”. Các cựu binh Đài Loan được khoản trợ cấp 15.000 Đài tệ (3.200 nhân dân tệ) hàng tháng. Và ngày ‘11-11′, được gọi là Ngày Độc thân ở Trung Quốc, là một ngày nghỉ đặc biệt theo nghi thức giành cho các binh sĩ giải ngũ ở hoa Kỳ – Ngày Cựu chiến binh – một ngày để chứng tỏ lòng yêu nước vĩ đại và sức mạnh gắn kết dân tộc.

Người lính từng là một cái tên danh dự ở Trung Quốc, là “những người đáng yêu nhất”. Thế nhưng ngày nay, đa số những người này đều không được đối xử tốt. Xã hội không nên quá vô ơn khi chúng ta lặp đi lặp lại rằng chúng ta sẽ không bao giờ quên lịch sử. Các cựu binh trong cuộc chiến tranh chống Nhật giờ đây đã ở độ tuổi 90, còn các cựu binh trong cuộc chiến Triều Tiên thì khoảng 80 tuổi và trong cuộc chiến tranh Trung Quốc-Việt Nam là 60 tuổi. Để tạo cho họ một cuộc sống tử tế, có phẩm giá trong những năm cuối đời, chúng ta không có nhiều thời gian.

Ngày Cựu chiến binh đã được đề nghị tại kỳ họp Quốc hội trước đây, song nó đã không được giải quyết. Một phiên họp mới của Quốc hội sẽ bắt đầu vào tuần tới. Trung Quốc cần phải có một ngày như vậy dành cho những chiến binh lớn tuổi, để vào một khoảnh khắc trong ngày đó chúng ta có thể nói lời “mãi mãi biết ơn” và nghe họ đáp lại “không bao giờ hối tiếc. Nếu như chúng ta để cho khoảnh khắc đó mất đi, chúng ta có thể bị mất đi cơ hội cuối cùng.

 

Bài đã đăng trên trang Ba Sàm 2010, nhưng bị tin tặc xâm nhập, xóa mất, nay đăng lại, nên không còn các phản hồi ban đầu của độc giả.

 

Đăng trong TQ xâm lược '79, Trung Quốc | Tagged: , , , | Leave a Comment »