Những thay đổi quyền lực chủ chốt
Những thay đổi quyền lực, cạnh tranh giữa các quốc gia, hiện đại hóa quân sự, các thách thức xuyên quốc gia, sức ép của thể chế và các lựa chọn chính trị để khai thác bất đồng liên quan đến lãnh thổ và chủ nghĩa dân tộc: tất cả nhân tố này đang khiến các hải trình qua châu Á trở nên gây tranh cãi nhiều hơn, “gợn sóng” hơn và đứng trước nguy cơ xung đột vũ trang.
>> Kỳ 1: Sự cố, đối đầu và khủng hoảng trên biển ở Châu Á
>> Kỳ 2: Chủ nghĩ dân tộc trên biển
>> Kỳ 3: Mô hình lý tưởng về niềm tin trên biển ở Châu Á
>> Kỳ 4: Thiếu thiện chí đã đánh đổ niềm tin trên biển
>> Kỳ 5: Quan chức an ninh Trung Quốc nêu quan điểm không giống ai
>> Kỳ 6: Sự cố biển có thể xấu do Bắc Kinh không chắc, không tĩnh
Khủng hoảng là chất xúc tác cho hòa bình trên biển
Phân tích trong tài liệu này gợi ý rằng bất đồng về lợi ích giữa các nước lớn ở khu vực biển châu Á từ Ấn Độ tới Thái Bình Dương - đặc biệt là xích mích giữa Trung Quốc với Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ - vẫn dai dẳng và đang gia tăng. Điều này sẽ tiếp tục được thể hiện trong cái gọi là sự cố biển: sự chạm trán ở phạm vi gần liên quan đến các tàu và máy bay của các nước cạnh tranh nhau, nhất là tại các khu vực nhạy cảm hoặc tranh chấp, sẽ dẫn tới những tính toán sai, gây thương vong, khủng hoảng và thậm chí xung đột.
Khả năng một sự cố riêng lẻ cũng có thể dẫn tới các vụ đụng độ quân sự là tương đối nhỏ, và khả năng đụng độ có thể leo thang thành chiến tranh lớn càng ít hơn. Nhiều sự cố đã diễn ra trong thập kỷ qua, và có ít bằng chứng cho thấy chúng dẫn tới mức cảnh báo cao, sự huy động quân đội trên diện rộng hay làm leo thang đe dọa sử dụng vũ lực.
Nhưng sự sôi động của cuộc cạnh tranh chiến lược cho thấy số lượng và tốc độ của các sự cố dường như đang tăng lên, khả năng một sự cố riêng lẻ có thể vượt ra ngoài tầm kiểm soát là có thật và các hậu quả của một sự phá hỏng như vậy có thể là rất lớn. Hơn nữa, một chuỗi các sự cố có thể tác động xấu tới quan hệ an ninh giữa các nước lớn, làm gia tăng khả năng một sự cố trong tương lai trở thành ngòi nổ xung đột. Vì vậy, các nỗ lực nghiên túc nhằm giảm thiểu các nguy cơ này rất quan trọng đối với hòa bình và ổn định cho khu vực trong tương lai.
Trước mắt, hy vọng về sự hợp tác toàn diện trên biển giữa các nước lớn trong khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương - một bản hòa tấu trên biển giữa các nước - gần như không có. Cũng cần phải thực tế về khả năng các CBMs nhỏ hơn có thể hóa giải nguy cơ xung đột hoặc sự leo thang của nó. Nhưng không có lựa chọn khác bởi khu vực rộng lớn này đang ngày càng trở thành trung tâm thịnh vượng và trật tự toàn cầu, trong đó các quốc gia biển hùng mạnh tranh nhau luôn tìm cách gia tăng và đảm bảo lợi ích của mình, nhưng lại thiếu các quy định thống nhất nhằm kiềm chế và thiếu thói quen hợp tác. Tình huống này sẽ liên quan đến các điểm tranh chấp thường xuyên và lúc nào cũng cần sự chú ý của ngoại giao để phòng tránh hoặc quản lý khủng hoảng, và không có gì đảm bảo rằng có thể tránh được xung đột.
Trong phần kết này, chúng tôi sẽ đề xuất một số kết luận chung rút ra từ các phân tích và nghiên cứu trong các phần trước. Sau đó, đề xuất một số khuyến cáo về cách các nước có thể giảm hiệu quả hoặc ít nhất quản lý nguy cơ khiến cuộc cạnh tranh biển ở châu Á có thể dẫn tới các chạm trán vũ trang nguy hiểm.
Các kết luận chung
Các bất đồng an ninh biển sôi động nhất ở châu Á liên quan đến các nước lớn rốt cuộc là xung quanh sự nổi lên của Trung Quốc. Quan hệ an ninh biển của quốc gia đang nổi lên này với Mỹ, Nhật Bản, Ấn Độ và một số quốc gia Đông Nam Á đều liên quan đến các yếu tố cạnh tranh và mất tín nhiệm, dẫn tới nguy cơ xung đột âm ỉ. Ngay cả quan hệ trên biển giữa Trung Quốc với Hàn Quốc cũng bị phủ bóng bởi sự ủng hộ của Bắc Kinh dành cho Triều Tiên. Vì vậy, ưu tiên cho các nỗ lực ngoại giao nhằm giảm nguy cơ xung đột trên biển ở châu Á nên nhằm vào các mối nguy hiểm về tương quan sức mạnh biển của Trung Quốc.
Sẽ là phi thực tế nếu cho rằng các thách thức này có thể được giải quyết thông qua một diễn đàn khu vực bao gồm tất cả các bên. Các nỗ lực song phương nhằm giải quyết các thách thức này trong những năm gần đây cũng chưa dẫn đến đâu. Đặc biệt từ năm 2007-2009, đã diễn ra một loạt các hoạt động, tuyên bố và cả sự hăng hái xung quanh ý tưởng thỏa hiệp Mỹ - Trung, kể cả quan hệ đối tác, nhằm đảm bảo an ninh cho vùng biển chung. Mỹ đã coi hợp tác là nguyên tắc cơ bản trong chiến lược biển năm 2007 của mình.
Các ý tưởng được đưa ra trong thời điểm này bao gồm phối hợp trong các vấn đề an ninh "phi truyền thống" hoặc xuyên quốc gia, như chống hải tặc và cứu hộ thiên tai, với hy vọng điều này có thể giúp cải thiện hơn nữa sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau trong quan hệ an ninh giữa các quốc gia. Kể từ đó, nhiều nỗ lực đã được tiến hành nhằm thuyết phục Bắc Kinh rằng các kênh đối thoại quân sự liên tục sẽ có lợi cho Trung Quốc. Nhưng sự cởi mở này đã bị khước từ, dù một số quan chức an ninh Trung Quốc thừa nhận rằng chúng có ý nghĩa.
Chắc chắn Bắc Kinh đang dần yên tâm hơn với một số hình thức cam kết an ninh với các đối thủ cạnh tranh chiến lược tiềm ẩn, nhưng ít nhất trong lĩnh vực biển, các hình thức này chủ yếu là các biện pháp liên quan một cách gián tiếp đến các vấn đề, khu vực hoặc năng lực cạnh tranh và mối quan tâm chính. Vì vậy, các CBMs gián tiếp này chỉ có một tác động ngoài lề đối với vấn đề về niềm tin, sự ổn định và quản lý khủng hoảng.
Ví dụ, các cuộc đối thoại về chính sách quốc phòng, dù rõ ràng là tốt hơn bất kỳ cách nào khác, thường là nơi để trao đổi một cách công thức về triển vọng quốc gia: số phận của MMCA giữa Mỹ và Trung Quốc. Các chuyến thăm của tàu hải quân - cách mà PLA-N ngày càng phát huy - vẫn là các hành động chủ yếu mang tính biểu tượng cho cam kết ngoại giao bình thường, đằng sau đó là thái độ cảnh giác và đôi khi là ý định thu thập thông tin tình báo của cả hai bên. Các quan chức hải quân hiểu rõ các hoạt động này. Họ biết rằng các tương tác đôi khi thiện chí với các lực lượng hải quân mà họ không tin tưởng không phải là do họ muốn tạo ra một sự khác biệt cơ bản nhằm loại trừ trường hợp một tương tác nào đó trong tương lai sẽ là đấu súng chứ không phải là trao đổi nhân sự.
Sự tham gia của Trung Quốc trong các cuộc tập trận kết hợp trên biển với các nước khác mà họ không tin tưởng có xu hướng diễn ra ở quy mô nhỏ và ít phức tạp, và tập trung vào các vấn đề "phi truyền thống" hoặc xuyên quốc gia như tìm kiếm và cứu hộ, hỗ trợ đối phó thiên tai hoặc chống khủng bố. Sự đảm bảo mà các hoạt động này có thể đem lại liên quan đến các năng lực và ý định của bên kia là rất ít. Tuy nhiên, chúng có thể tạo ra một khả năng phán đoán hành động và phản ứng của bên - ví dụ như xác định mức độ thành thạo trong điều khiển tàu và thủy thủ của mỗi bên. Các hoạt động như vậy cũng có thể giúp phát triển các thủ tục thông tin cho phép tàu thuyền từ các nước khác nhau tránh tai nạn khi hoạt động ở gần nhau. Và những thành quả khiêm tốn này có thể được củng cố thông qua việc cùng tham gia hoạt động trong các sứ mệnh an ninh phi truyền thồng.
Tuy nhiên, ngay cả việc hợp tác tăng cường trong các hoạt động như vậy cũng không giúp giảm bớt những bất đồng căn bản về lợi ích quốc gia. Điều này được chứng minh bởi thực tế là một quan hệ đối tác Mỹ - Trung chống cướp biển tại vịnh Aden diễn ra đúng thời gian suy giảm trong quan hệ an ninh biển giữa hai nước tại các vùng biển gần Trung Quốc, nơi Bắc Kinh đã quyết định là lợi ích không thể thương lượng của mình.
Trong khi đó, việc Trung Quốc sẵn lòng cam kết nghiêm túc thực thi các loại CBMs trực tiếp hơn vẫn rất hạn chế. Càng ít khả năng đạt tiến bộ lớn trong các cơ chế chính thức nhằm phòng tránh hoặc quản lý sự cố biển giữa các lực lượng của Trung Quốc và Mỹ, Nhật Bản hoặc Ấn Độ. Và trong khi Bắc Kinh có thể sẵn sàng thử nghiệm hoạt động tuần tra phối hợp với nhiều nước nhỏ hơn như Indonesia và Việt Nam, họ lại không thấy có lợi ích trong việc tiến hành hoạt động tương tự với Nhật Bản.
Hiện nay, Trung Quốc và Washington vẫn cách xa nhau về quan điểm trong vấn đề cơ bản là mục đích của cam kết quân sự là xây dựng niềm tin hay là để phản ánh niềm tin. Liệu CBMs trực tiếp có được thực thi trước khi đạt sự tín nhiệm về chính trị? Quan điểm của Washington là CBMs cần thiết nhất khi mất niềm tin lẫn nhau. Vì vậy tại Mỹ, có những người ủng hộ việc tạo ra một hoặc nhiều thỏa thuận INCSEA song phương với Trung Quốc dựa trên mô hình Liên Xô - Mỹ những năm 1970, văn bản đã tạo cho Mỹ nhiều thập kỷ kinh nghiệm trong quản lý cuộc cạnh tranh giữa các cường quốc một cách chặt chẽ nhất.
Nhưng Trung Quốc lập luận rằng thỏa thuận và niềm tin trong các vấn đề chính trị nên được thiết lập trước khi các cuộc đối thoại quân sự nghiêm túc, các biện pháp xây dựng niềm tin và hợp tác trên biển có thể được diễn ra. Cách nghĩ này trở nên đặc biệt có vấn đề khi Bắc Kinh định nghĩa "niềm tin" là sự thích nghi của Mỹ đối với cái mà Trung Quốc coi là lợi ích cốt lõi của mình - nhất là những lợi ích trực tiếp xung đột với của các nước đóng góp cho an ninh khu vực. Về điểm này, dường như ngay cả một loạt các nguy cơ và nguy hiểm trong năm 2010 cũng không làm thay đổi quan điểm của Bắc Kinh.
Nhưng không phải chỉ Trung Quốc dị ứng với các tác động hỗn hợp của CBMs. Một số nước khác, nhất là Nhật Bản, có thể thấy vừa may mắn mà cũng là không may với các CBMs trên biển của nước khác với Trung Quốc. Nhật Bản có thể thấy bất cứ tiến bộ bất thường nào trong tương lai trong CBMs trên biển hoặc cam kết giữa Mỹ - Trung sẽ làm gia tăng nguy cơ lợi ích của Tokyo bị gạt ra ngoài lề khi Mỹ và Trung Quốc xích lại gần nhau hoặc khi hai nước áp dụng chế độ quản lý chung "G2". Trong khi đó tại Ấn Độ Dương, mọi động thái hướng tới hợp tác biển bền vững với Trung Quốc của Mỹ hay Ấn Độ đều có thể khiến nước còn lại lo lắng, trừ phi họ cũng được tham vấn trong suốt quá trình.
Trong một không khí chủ nghĩa dân tộc và đối đầu giữa các nước lớn, các quá trình thương lượng chính thức hoặc ràng buộc CBMs với Trung Quốc, như một thỏa thuận INCSEA, có thể dễ dàng trở thành sự tranh giành ảnh hưởng và uy tín. Chẳng hạn Nhật Bản không chắc chắn rằng Trung Quốc sẽ sẵn sàng đối xử với họ như một đối tác ngang bằng trên bàn đàm phán. Trong trường hợp thương lượng Mỹ - Trung, Bắc Kinh có thể sử dụng các cuộc tiếp xúc này để thúc đẩy việc chấp nhận cách hiểu của họ về Công ước Luật biển, và chấm dứt các hoạt động do thám của Mỹ tại EEZ của Trung Quốc. Và trong quan hệ Trung - Ấn, một INCSEA hoặc các cuộc đàm phán khác về CMBs biển trực tiếp sẽ là một phép thử xem Bắc Kinh có sẵn lòng đối xử với New Delhi như một người cùng địa vị hay không. Cũng có thể sẽ đòi hỏi New Delhi phải chấp nhận một vai trò hợp pháp và lâu dài của Trung Quốc về đảm bảo an ninh biển - kể cả các hoạt động hải quân liên tục - tại Ấn Độ Dương.
Mọi nỗ lực nhằm đa phương hóa INCSEA liên quan đến Trung Quốc dường như sẽ thất bại nếu thiếu các thỏa thuận song phương như bước đệm để đạt tới nó. Một cách tiếp cận đa phương như vậy cũng có thể tạo cho Bắc Kinh cơ hội chia rẽ Mỹ và các đồng minh hoặc đối tác. Nói rộng ra, các vai trò có thể có của các bên thứ ba trong việc củng cố sự quản lý hòa bình các tranh chấp chính của các nước lớn tại Ấn Độ - Thái Bình Dương là rất hạn chế.
Theo cuốn Sức mạnh và Lựa chọn, các nước nhỏ và vừa như Singapore và Australia, hoặc các thể chế như của ASEAN, có ít cơ hội hòa giải giữa các nước lớn trong các vấn đề quan trọng đối với an ninh quốc gia của họ; nói cách khác, các nước lớn lẽ ra phải sẵn sàng trao cho các cơ chế như Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF) một sứ mệnh ngoại giao phòng vệ thật sự và các nguồn lực để thực hiện sứ mệnh đó. Đây rõ ràng là một tình huống không dễ chấp nhận đối với các nước vừa như Australia, khi họ đóng góp nhiều cho sự ổn định khu vực và an ninh trên các tuyến đường biển.
Thời gian cứ trôi qua mà không có động thái nào hướng tới một cơ chế CBMs trực tiếp trên biển Ấn Độ - Thái Bình Dương, thì căng thẳng giữa một Trung Quốc đang nổi lên với các nước khác sẽ càng tích tụ. Đây là tình huống tiến thoái lưỡng nan tồi tệ nhất về an ninh biển trong khu vực, trong đó tích tụ các năng lực cạnh tranh, đặc biệt là năng lực gây bất ổn như tàu ngầm và tên lửa.
Tuy nhiên, thời gian cũng có thể tạo ra một số cải thiện: một cơ chế xây dựng niềm tin và quản lý khủng hoảng không chính thức có thể được mở ra. Rõ ràng mức độ phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế rất cao sẽ khiến các chính phủ phải ưu tiên cho hòa bình thay vì các mục tiêu an ninh kiểu "được ăn cả ngã về không".
Còn tiếp
- Châu Giang theo Lowy Institute
Articles
Privacy