Chuyện Ông Điếu Cầy & Ông Thái Bát
Nhà Báo Tự Do Nguyễn Văn Hải. Ảnh: blogdieucay
Tôi có chút giao tình với nhà văn Vũ Thư Hiên. Mối giao tình này, nói nào ngay, không đậm đà (hay mặn mà) gì cho lắm. Chúng tôi chả có điểm nào tâm đầu ý hiệp, ngoài việc đều có thời gian sống ở “chiến khu” – hay nói theo ngôn ngữ đời thường là cùng … bị ở tù!
Bởi thế, mỗi khi có dịp gặp nhau (sau khi đã cạn mấy ly đầy, rồi đầy vài ly cạn) thế nào cả hai cũng huyên thuyên về những chuyện “ở chiến khu.” Có lần, tôi nghe ông nói nói đến một người tù có tên Thái Bát. Nhân vật này là một tù nhân số lẻ – nghĩa là tù chính trị, thuộc diện tập trung cải tạo – loại tù không án, cứ cải tạo tốt là (automatic) được cho về nhà (đuổi gà) giúp vợ thôi.
Thử nghe nguyên chơi (nguyên văn) một mẩu chuyện trao đổi giữa hai ông, Vũ Thư Hiên và Nguyễn Thái Bát, ở trại tù Tân Lập:
“- Bác làm sao bị bắt ?
Ông già nấc lên từng chặp.
- Tôi theo cách mạng cướp chính quyền, cũng đã làm thôn đội rồi xã đội một hồi kháng chiến chống Pháp… Tôi theo cụ Hồ, sao, ông không tin hở ?
- Tôi tin chứ.
- Sau, hòa bình lập lại rồi, tôi nghỉ. Mọi sự khốn khó bắt đầu từ đấy.
- Người ta bảo bác bất mãn ?
- Không. Nhưng ở chế độ ta không làm cán bộ nữa là hết, thì người ta không tin mình nữa, không còn coi trọng mình nữa. Mà làm dân thì, ối giời ơi, khổ lắm, khổ đủ đường, ông chắc cũng biết, có cần kể cho ông nghe không ?
- Không cần.
- Cho nên các cháu nhà tôi đều nhao đi làm cán bộ. Thằng cả chưa đủ tuổi xung phong đi bộ đội. Con bé sau nó xin làm chân văn thư cho ủy ban xã không được, xin làm công an xã. Rồi nó được cảm tình Ðảng…
- Tiến bộ quá !
- Tiến bộ gì. Con bé nhà tôi năm nay hăm nhăm rồi. Vẫn chưa chồng. Khốn nạn, nó xinh, ông ạ. Mắt đen lay láy, mà nhanh lắm. Má lúm đồng tiền. Da cứ trắng hồng. Nó trông mẹ nó, như lột. Ông nấc lên, kéo vạt áo lau mắt.
- Cô ấy làm sao ?
- Chẳng làm sao cả – ông mếu máo – thằng công an xã, chi ủy viên, cứ gọi nó đi hội ý hội báo, bồi dưỡng… Rồi con bé nhà tôi phễnh bụng ra.
- …
- Tôi phẫn chí. Chưa ai biết cả, nhưng bà nhà tôi biết, tôi biết. Tôi uống rượu, say rồi, tôi chửi cha chúng nó, chửi cả lò nhà chúng nó …
- Chết thật !
- Ðến khi làng phong phanh biết con tôi chửa hoang, thì tôi chửi cả cái Ðảng của chúng nó…
- Chậc chậc, khiếp quá ! Sao bác dại thế ?
- Không chửi để cho chúng nó muốn làm gì thì làm à ? Ðảng gì mà họp thì thọt, bồi dưỡng đảng viên mới gì mà cứ tối đến mới í ới gọi nhau đi bồi dưỡng, bồi dưỡng cái mả cha chúng bay à ?!
Rác tai quá, bí thư xã, chủ tịch xã cho con gái ông đi dự lớp huấn luyện, kỳ thực là đi phá thai. Ông biết, ông cấm con gái ông phá. Cái thai nó tội tình gì ? Nó cũng là một con người chứ. Nó chưa ra đời. Nó chưa làm hại ai. Nó không như cái quân chó dái chạy nhông, quân ăn cứt uống đái làm hại đồng bào. Không được phá thai, cứ đẻ ra tao nuôi, giết cái thai là bất nhân, là vô đạo, ông trói con và chân giường mà dạy. Nhưng con ông xấu hổ, không nghe ông, cứ đi phá thai. Ông uống rượu nhiều hơn nữa, chửi dữ hơn nữa.
Tóm lại, ông Bát chửi sướng miệng thì thôi. Còn những đứa bị ông chửi thì thù ông mục mả. Trưởng công an xã báo cáo công an huyện. Công an huyện lập hồ sơ. Cứ mỗi lần ông Bát chửi là một lần công an xã báo cáo, mỗi lần báo cáo được gửi lên là hồ sơ tên phản động Nguyễn Thái Bát lại dày thêm một chút. Cho tới ngày người ta bắt ông đi cải tạo về tội ‘tuyên truyền phản động, chống Ðảng, chống chế độ.” (Vũ Thư Hiên, Đêm Giữa Ban Ngày. California:Văn Nghệ, 1997).
Với tội danh này, chả trách, ông Thái Bát đã chết rục trong tù – vẫn theo như lời kể của nhà văn Vũ Thư Hiên:
“Ông chết vào ngày Quốc Khánh, cái ngày mà ông Bát đã đi cướp chính quyền năm bốn lăm... Xác ông được đưa xuống trạm xá chờ cán bộ trại mang hồ sơ xuống xác nhận chính là tên phản động Nguyễn Thái Bát đã chết chứ không phải tên nào khác.
Khi cửa các phòng giam đã khóa lại rồi, tôi cứ ngồi bên cửa sổ mà nhìn về phía trạm xá. Trời tối hẳn mới thấy nghe tiếng búa nện chan chát trên ván thiên – dấu chấm hết cho một kiếp người…”
Ông Thái Bát đã chết rồi nhưng dòng đời , tất nhiên, vẫn lạnh lùng trôi. Và những kẻ “tuyên truyền phản động, nói xấu Ðảng và chế độ” (đương nhiên) vẫn phải tiếp tục vào tù.
Mới đây – theo RFA, nghe được vào hôm 4 tháng 5 năm 2012 – mới có thêm ba công dân Việt Nam nữa (ông Nguyễn văn Hải, ông Phan Văn Hải và bà Tạ Phong Tần ) vừa “bị khởi tố với tội danh xuyên tạc sự thật, nói xấu Đảng và Nhà nước… Cả ba người bị xét xử theo điều 88 Bộ Luật hình sự Việt Nam, mà mức án cao nhất lên đến 20 năm tù giam…”
Tôi không rõ là bà Tạ Phong Tần và ông Phan Thanh Hải đã nói năng linh tinh ra sao khiến Đảng và Nhà Nước phải phiền lòng đến thế? Riêng ông Nguyễn Văn Hải, theo như tôi biết, không phải là người hay nói. Ông ấy không được đào tạo để trở thành luật gia hay luật sư như hai người bạn chung vụ. Vốn xuất thân là một người lính, ông Hải có khuynh hướng hành động hơn là luận thuyết.
Bản tin thượng dẫn còn có thêm chi tiết là: “Trước khi bị bắt hồi năm 2008, blogger Điếu Cày – Nguyễn Văn Hải từng tham gia những cuộc biểu tình chống Trung Quốc xâm phạm lãnh hải Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.”
Thì ra thế!
Từ trái qua phải: Song Chi, Phương Thi, Trăng Đêm, Điếu Cày, Huỳnh Công Thuận, Bùi Chát và Đông A SG. Ảnh: Blog cũ Nguyễn Tiến Trung. Chú thích: SC.
Và nếu đúng thế thì vụ này (e) sẽ lôi thôi lắm, lôi thôi lâu, và chắc chắn là sẽ lôi thôi lớn. Tuy ông Điếu Cầy không uống rượu say rồi chửi “mục mả” chúng nó ra, hay rủa xả chúng là “quân ăn cứt uống đái làm hại đồng bào” (như ông Thái Bát) nhưng việc ông tham gia những cuộc biểu tình chống Trung Quốc cũng gây phương hại không kém cho sĩ diện của qúi vị lãnh tụ Đảng và Nhà Nước.
Theo quan niệm chính thống của Nhà Nước thì “Bác Hồ ta đó chính là bác Mao.” Do đó, chống Trung Quốc (chống lãnh tụ vĩ đại của nhân dân nước bạn) là bêu xấu chính bác Hồ kính yêu của chúng ta – chớ còn chối cãi gì nữa?
Hơn thế nữa, theo tường thuật của nhà báo Thế Vinh (Báo Năng lượng Mới số 117 ra ngày 4/5/201) thì “Chính Nguyễn Văn Hải cùng các thành viên trong đó có Phan Thanh Hải và Tạ Phong Tần đã lợi dụng các sự kiện chính trị, tổ chức và tham gia các cuộc biểu tình gọi là chống Trung Quốc xâm chiếm Hoàng Sa – Trường Sa và tẩy chay Olympic Bắc Kinh rước đuốc qua TP HCM vào các ngày 9/122007, 16/12/2007 và 19/1/2008 tại TP HCM.”
Thiệt là hết thuốc!
Ta vốn coi “bên kia biên giới là nhà bên này bên kia biên giới cũng là quê hương” mà Điếu Cầy hành sử như vậy thì coi sao được chớ. Với Chủ Trương Bốn Tốt và Phương Châm Mười Sáu Chữ Vàng thì Tầu với Ta – tính ra – như một mà. Chả trách, ngoài tội “xuyên tạc sự thật, nói xấu Đảng và Nhà nước” – nhà báo Thế Vinh còn thay mặt ngành tư pháp Việt Nam kết án công dân bất hảo Nguyễn Văn hải thêm hai tội danh nữa: xúi dục biểu tình và phá rối trị an.
Điếu Cầy phen này chắc chết (chết chắc) trong tù, y như cái ông Thái Bát năm xưa thôi. Ở tuổi 60 làm sao người tù Điếu cầy có thể sống sót được (thêm mươi hay hai mươi năm nữa) trong trại giam của những người cộng sản?
Đây, rõ ràng, là một câu hỏi khó. Tuy nhiên, nó chưa khó bằng câu hỏi tiếp theo: Làm thế nào để chế độ hiện hành có thể kéo dài thêm mười hay hai mươi năm nữa mà lo (chi) cho sinh mạng của Điếu Cầy?
Tưởng Năng Tiến
5/2012
Ba Sài Gòn & Hồn Pháp Luật
Pháp luật là kết tinh trí tuệ và lương tri của cả nhân loại. Một vài cá nhân, lúc này hay lúc khác, có thể sử dụng nó cho các mục đích phi nhân đạo, nhưng chừng nào trí tuệ và lương tri còn tồn tại, thì pháp luật vẫn còn có đầy đủ giá trị của nó, nó vẫn sẽ được bảo vệ.
Nguyễn Thị Từ Huy
Có bữa, tôi nghe Anh Ba Sài Gòn bỏ nhỏ: “Đã là dân tất nhiên người ta có thể kể ra hàng ngàn chuyện buộc phải ‘bỏ qua’ nhưng giá như có một lời xin lỗi, chỉ một lời thôi …”
“Ví dụ như ngư dân đánh cá đã không được bảo vệ trên ‘biển của mình’ và tuyệt vọng khốn cùng vì bị quân giặc bắt giữ đòi tiền chuộc. Ví dụ như 70 người dân Phú Yên bất ngờ thiệt mạng trong một đêm vì mưa lớn kèm thủy điện đồng loạt xả lũ. Ví dụ như hàng triệu người dân đang sống trong những khu quy hoạch treo vài chục năm. Ví dụ như hàng vạn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết thỏa đáng. Ví dụ như những con đường ngốn vài trăm tỷ tiền dân ‘vừa chạy thử đã hỏng’. Ví dụ như hàng trăm lô cốt khiến dân tình hàng ngày kẹt xe dài cổ hít khói bụi… Hay gần đây nhất là chuyện của một người thầy giáo ‘đương thời’ trở thành ‘hết thời’ chỉ vì mong muốn làm một ông thầy thực sự lương thiện. Có thấy ai xin lỗi ai gì đâu?”
Nghe rồi, tất nhiên, tôi chỉ cười trừ (và cười buồn) thôi. Cái nước mình nó thế mà. Anh Ba, chả qua, bức xúc quá mà xả bầu tâm sự (chút xíu) vơi bớt nỗi sầu nhân thế, thế thôi.
Tưởng thế nhưng không phải thế.
Không bao lâu sau, vào hôm 18 tháng 10 năm 2010, BaSG bị tó. Tôi lại chép miệng thở dài: “Cái nước mình nó thế!” Ở một đất nước mà mọi công dân đều có thể là những tù nhân dự khuyết thì triệu tập hay bắt bớ (lai rai) là chuyện thường ngày vẫn xẩy ra thàng ngày, ở huyện. Chắc cũng chỉ phải “làm việc” độ vài ba hôm, hay nhiều lắm là vài ba tháng – “để làm rõ một số vấn đề” – vậy thôi.
Tưởng vậy nhưng cũng không phải vậy. Anh Ba bị nhốt luôn gần hai năm trời. Mãi tới ngày tháng 14 tháng 4 năm 2012, mới thấy báo Người Lao Động loan tin rằng cùng với hai bị can khác – ông Nguyễn Văn Hải và bà Tạ Phong Tần – BaSG “bị truy tố tội Tuyên truyền Chống Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam” vì đã “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt Đảng Cộng sản Việt Nam.”
Trời! Nói gì nghe thấy ghê vậy, mấy cha?
Coi: anh Ba chỉ đưa ra nhận xét là hai chữ “xin lỗi” không có trong tự điển của giới người cầm quyền ở Việt Nam, văn hoá ứng xử của họ “không có cái vụ xin lỗi,” vậy thôi. Đây là một nhận xét này hoàn toàn khách quan và chính xác, chớ có ai dám “xuyên tạc, châm biếm, đả kích, tỏ thái độ chống đối gay gắt” ai đâu? Dù vậy, vẫn theo bài báo thượng dẫn, BaSG “đã nhận tội và có đơn xin khoan hồng, xem xét giảm nhẹ hình phạt.”
Anh Ba thiệt là biết điều hết sức. Mà không phải đợi tới lúc này thằng chả mới biết chuyện như vậy đâu nha. Trước đó, khi luận bàn về “Tội Bất Kính Với Vua Và Điều 88 BLHS” – vào ngày 24 tháng 3 năm 2009 – BaSG cũng đã tỏ ra nhũn nhặn vô cùng:
“Ở hầu hết các nước có thể chế Cộng hòa thì những hành vi biểu lộ sự không đồng ý, chỉ trích, phê phán nhà nước đều là bình thường. Ngay cả hành vi phản kháng có tính quy mô và nguy hiểm nhất đối với chính phủ hiện hữu là sự thành lập một Đảng phái chính trị đối lập [với Đảng cầm quyền] thì cũng không hề bị cấm đoán.
Vâng đấy là chuyện ở nước người… ta chớ có nên hào hứng quá mà tưởng bở!”
BaSG – rõ ràng – rất hiểu thân phận (con sâu cái kiến) cũng như thời đại (nhiễu nhương) của mình. Chính anh đã long trọng cảnh báo rằng: “Phần hồn của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng.”
Thế nào là “phần hồn của pháp luật”?
Với tư cách là một luật gia, anh Ba luận giải một cách hùng hồn, rành mạch và khúc triết – như sau:
“Hồn pháp luật không chỉ đơn thuần là ý thức pháp luật trong mỗi công dân, nó là sự mặc nhiên thừa nhận, tin tưởng và thượng tôn vào lẽ phải và công lý, vào sự đúng đắn, công bằng, bình đẳng mà pháp luật đang đại diện. Được sống trong một xã hội có pháp luật là được hưởng thụ một sự an toàn và bình yên. Trong xã hội mà pháp luật được thượng tôn thì các giá trị tự do, dân chủ, nhân quyền đương nhiên được pháp luật bảo đảm.
Thành quả của cách mạng, giá trị cơ bản của đạo đức, tư tưởng tiến bộ nhất của một dân tộc, nguyên khí của những bậc hiền tài và sự chắt lọc tinh hoa văn hóa nhân loại đều được kết tinh nơi pháp luật. Chính nhờ có nền pháp luật ổn định mà dân chúng được yên vui, văn chương nghệ thuật được bày tỏ, kinh tế được phát triển, môi trường sống, lãnh thổ được bảo vệ và quốc gia trở nên hùng cường.
Khi dân chúng tôn thờ pháp luật và tự nguyện tuân theo thì công việc của công quyền không còn nặng tính cai trị cưỡng ép, các thủ tục hành chính không còn ai kêu ca. Khi họ thừa nhận pháp luật công bằng thì đất đai giải tỏa cũng không mấy ai khiếu kiện chống đối. Chỉ còn lại những người hiểu việc, hiểu trách nhiệm của mình mà làm, quan là kẻ làm thuê cho dân nên quyền uy và khoảng cách giữa quan và dân không phải là điều đáng e sợ…
Tuy nhiên, nếu thiếu phần hồn cao đẹp, thì pháp luật chỉ còn trơ ra thân xác phì nộn của một tên bạo chúa đầy sức mạnh nhưng chỉ phụng sự cho sự tham lam, độc ác và cảm tính của chính hắn mà thôi.
Có thể nói phần hồn hay khía cạnh tinh thần chính là sức mạnh cốt yếu nhất của pháp luật chứ không phải phần vật chất với hàng vạn điều cấm đoán mà dân chúng không tự nguyện thi hành.
“Phần hồn” của pháp luật Việt Nam bị đe dọa nghiêm trọng
Bởi được gán cho các đặc tính thượng tôn và cao quý nên hồn pháp luật rất nhạy cảm với sự vấy bẩn, chê bai, phỉ báng và nhất là khi nó bị một thứ quyền lực khác đè lên trên đầu. Các xác kềnh càng của pháp luật với đủ thứ trang bị vũ lực, phạt vạ, nhà tù càng trở nên nguy hiểm khi phần hồn của nó bị ma quỷ nhập vào.
- Hệ thống tư pháp bị phát hiện là thiếu tính độc lập, bị quyền lực chỉ đạo trước khi điều tra, xét xử… khiến cho hồn pháp luật hoảng sợ phải đi trú ẩn.
- Pháp luật bị quan chức lạm dụng thành đại lượng đổi chác và tham nhũng. Súng ống để phụng sự cho pháp luật lại trở thành công cụ dọa nạt và đem bắn vào dân chúng chưa rõ tội tình gì. Mới đây ở Hà Nội chỉ trong một tuần mà có đến hai cái chết ở trong đồn công an đều do bị đánh. Tìm kiếm trên Google cụm từ “công an đánh dân” sẽ ra hàng trăm ngàn kết quả với những tin tức, hình ảnh ghê hồn.
Sự lạm quyền khiến cho hồn pháp luật bị tha hóa.
- Ở Việt Nam không những có ‘dân oan’, mà còn có những ‘nhà báo oan’, ‘nhà thơ oan’, ‘nhà văn oan’, ‘luật sư oan’, ‘doanh nghiệp oan’ và ‘blogger oan’… ở khắp nơi. Dân oan mất đất mất nhà, nhà báo bị vào tù oan vì đưa tin chống tham nhũng, văn nghệ sĩ bị tước đoạt giải thưởng, bị vào sổ đen không cho đăng bài viết, bị buộc phải dẹp bỏ trang web cá nhân, luật sư bị tước thẻ hành nghề, doanh nghiệp bị phá sản, blogger bị bắt bớ, tù tội… Sự oan ức hằn sâu vào tư duy con người chính vì pháp luật không được thực thi đúng đắn.
Sự oan ức khiến cho hồn pháp luật bị teo tóp lại.
- Bao nhiêu đơn thư khiếu nại, tố cáo chỉ là thứ nước đổ đầu vịt, bặt vô âm tín không được trả lời, thậm chí chỉ có đi nộp đơn và xin cái chữ ký đã nhận đơn mà đã bị gây khó khăn. Có người may mắn được trả lời thì lại vướng vào tình trạng trên bảo dưới không nghe, bị kẻ thi hành phớt lờ như không. Nhiều ngàn lá đơn khiếu nại chưa được giải quyết, có người làm hàng trăm tờ đơn khiếu nại lên nhiều cấp, kiên trì từ đời cha ông đến đời con cháu mà chưa biết công lý rốt cục có hình dáng như thế nào…
Sự im lặng và vô cảm của những người có thẩm quyền khiến cho hồn pháp luật trở nên thờ thẫn.
- Những dự án bô-xít gây nguy hại cho môi trường, cho an ninh quốc gia được thông qua bất chấp sự phản đối của hàng ngàn trí thức. Rừng đầu nguồn và phòng hộ biên giới được dễ dãi giao cho người Trung Quốc với giá rẻ mạt. Lãnh hải bị đe doạ, cuộc mưu sinh và sinh mạng của ngư dân trên biển không đảm bảo, những danh từ méo mó như “tàu lạ”… khiến cho hồn pháp luật bị nghi ngờ.
- Quần chúng tự phát dùng bạo lực, lưu manh côn đồ đánh đập sư sãi, dân thường ngay trước mặt công an… khiến cho hồn pháp luật dường như bị ma ám...
Tất cả những hành động và lối suy nghĩ ấy đã đầu độc và hủy hoại hồn pháp luật nhanh chóng khiến nó lâm vào tình trạng hấp hối…”
Tôi hoàn toàn không đồng ý với anh Ba về câu kết luận bi quan vừa dẫn. Phần hồn của pháp luật có thể bị đe dọa, tổn thương hay teo tóp nhưng luôn luôn hiện hữu và sống mãi với chúng ta.
Không cần tìm đâu xa, người ta có thể tìm thấy được phần hồn pháp luật ngay trong gia đình BaSG, qua lời trưởng nữ của anh – cháu Phan Ngọc Minh :”Bố con chỉ có một cái tội duy nhất là yêu nước.”
Dù anh Ba có “nhận tội” và “xin khoan hồng” chăng nữa, “phần hồn pháp luật” trong con tim nồng nhiệt và chân chính của anh vẫn sẽ được ghi nhận và đậm nét mãi với thời gian.
Tưởng Năng Tiến
5/2012
Những Bước Đi Lùi
“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…”
-Tạ Phong Tần (Thành Viên Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do)
Lâu rồi, có bữa, tôi nghe nhà văn Vũ Thư Hiên (bùi ngùi) nhắc lại một kỷ niệm buồn ở Bất Bạt – Sơn Tây:
“Nơi tôi được đưa đến là một trại giam quân đội… Trên cái bàn gỗ mộc bụi bặm và mốc thếch lăn lóc mấy tờ Quân Đội Nhân dân nhàu nát. Tôi vồ lấy chúng, đọc ngấu nghiến để rồi thừ ra, thất vọng – tin tức trong báo chả nói với tôi điều gì mới.”
“Thời gian không đứng về phía chúng tôi. Những tờ báo giống y như những tờ này tôi đọc hàng ngày, một năm trước. Chúng sẽ giống như thế một năm sau, hoặc nhiều năm sau. Thế giới đã mắc bệnh bại liệt... Ngoài kia vẫn là đêm tối, chưa có gì hứa hẹn bình minh. Mà bây giờ đã là mùa hè năm 1969.”
(Vũ Thư Hiên, Đêm Giữa Ban Ngày. California:Văn Nghệ, 1997).
Khoảng thời gian mà Vũ Thư Hiên vồ vập và đọc ngấu nghiến mấy tờ báo Quân Đội Nhân Dân (rồi “thất vọng” và than rằng ““Thời gian không đứng về phía chúng tôi”) thì một công dân Việt Nam khác vừa mở mắt chào đời. Bà sinh ngày 15 tháng 9 năm 1968. Bốn mươi năm sau, với tư cách là một thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, blogger Tạ Phong Tần đã dõng dạc tuyên bố:
“Đã qua rồi cái thời người dân chỉ được biết những gì nhà cầm quyền muốn cho họ biết, và không được biết những gì nhà cầm quyền muốn bưng bít, giấu nhẹm bằng cách quản lý chặt chẽ toàn bộ hệ thống báo chí trong nước…”
“Khi bạn đưa thông tin lên blog của bạn, tức bạn đã đem sự hiểu biết của bạn truyền tải cho người khác để mọi người cùng được biết, qua đó, mọi người cùng bàn luận, cùng kiểm tra xem, dùng quyền công dân của mình đòi hỏi công chức Nhà nước phải thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn mà luật pháp quy định.”
“Có thể sự hiểu biết của bạn chỉ là một phần nhỏ nào đó trong đời sống xã hội, nhưng nhiều người góp lại sẽ tạo nên một bức tranh hiện thực xã hội hoàn chỉnh. Khi tự mình làm một nhà báo công dân, chính bạn đã góp phần công khai, minh bạch hóa xã hội, cùng chung sức xây dựng một xã hội dân sự cho đất nước chúng ta.”
Quan niệm đúng đắn và tích cực vừa nêu, tiếc thay, đã không được chia sẻ bởi những kẻ đang nắm quyền lực ở Việt Nam. Vốn đa nghi, và trí trá, giới người này có khuynh hướng xem blog (nói riêng) và web (nói chung) chỉ là “âm mưu của những con nhện” – những kẻ đang âm mưu “diễn biến hoà bình” – cần phải được theo dõi và kiểm soát, nếu được.
Tất nhiên là không thể được. Tầu còn bó tay thì nói chi ta. Chuyện quản lý internet ở nước bạn (“bốn tốt”) láng giềng, được giáo sư giáo sư Cao Huy Thuần tóm gọn, như sau: “80 mươi triệu con chuột thì mèo đâu ra mà bắt cho hết.”
Nhà nước Trung Hoa vĩ đại đã từng thành công mỹ mãn trong việc huy động dân chúng tiêu diệt vài tỉ con chim (sẻ) mà nay đang loay hoay không biết đối phó ra sao với mấy chục triệu con chuột (điện). Quyết tâm của họ, xem chừng, hơi thấp. Quyết tâm của ta, xem ra, cũng… không cao gì cho lắm!
Báo Công An Nhân Dân, số ra ngày 5 tháng 10 năm 2007, đã mô tả blog như là một thứ “hệ lụy” và “quản lý blog” là chuyện … buộc cẳng chim trời:
“Theo ước tính từ Bộ Thông tin và Truyền thông, có khoảng 3 triệu blog tại Việt Nam. Và mỗi ngày có hàng chục ngàn blog mới được khai sinh và việc một người sử dụng nhiều blog với những mục đích khác nhau là hoàn toàn có thể. Đã có những phát sinh và hệ lụy từ blog…”
“Tuy nhiên, liệu có quản lý được không? Quản lý một blog mà danh tính của nó có thể thay đổi trong chớp mắt và những thông tin hiển thị không thực sự chính xác thì đó là cách buộc cẳng chim trời. Hầu hết các blog đều là dịch vụ của một nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài, vì vậy việc quản lý sẽ càng trở nên nan giải hơn…”
“Trong bộn bề của những ngày bắt đầu Bộ Thông tin và Truyền thông, trong rất nhiều những vấn đề cần giải quyết và đưa ra những hướng dẫn cụ thể, đưa ra việc quản lý blog với những quy chế hướng dẫn cụ thể là điều chưa khả thi.”
Ủa, nói vậy thì chừng nào chuyện “quản lý blog” mới “khả thi” đây – mấy cha?
Câu trả lời tìm được vào gần một năm sau, khi Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng ký Nghị Định 97/2008/NĐ-CP – về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ internet và thông tin điện tử trên internet – vào ngày 28 tháng 8 năm 2008. Theo đó: Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định của Nghị định này thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự, nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
Hơn năm năm đã trôi qua, với thời gian số chuột ở nước ta – xem ra – có vẻ mỗi lúc một tăng gia, chứ không hề giảm. Ta không có tới tám mươi triệu con chuột (như Tầu) nhưng tính rẻ cũng cỡ đâu chừng… bốn triệu! Mèo đâu ra mà bắt cho hết, mấy cha?
CAM (công an mạng) lại không thể đào tạo dễ dàng như mấy ông bạn đồng nghiệp, bên ngành giao thông. Loại sau, khỏi cần huấn luyện, cứ quăng ra đường là tụi nó xông xáo đi ghi giấy phạt để… kiếm (thêm) chút cháo. Chớ còn rình bắt chuột (điện) thì đòi hỏi cần phải có nghiệp vụ khá cao mà lại chả được ăn cái… giải (rút) gì, ngoài số tiền lương… chết đói.
Bắt không hết thì đành dọa xuông thôi, kiểu như nông dân đặt mấy thằng bù nhìn trên những cánh đồng để hù đám chim trời vậy mà. Thử nghe lời ông Tom Cat – một vị quần chúng tự phát, trong thế giới internet – vừa đe những blogger ở Việt Nam, trên trang Dân Luận:
Anh Bùi Thanh Hiếu thân mến, có lẽ tôi không phải trình bày dài dòng với anh như với tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, bởi vì những hoạt động của anh không vang tới Bộ Chính Trị như tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ, nhưng ở mức độ thấp hơn, anh có 3 hoạt động khiến những người làm an ninh và bảo vệ tư tưởng văn hóa đặc biệt khó chịu: đó là cổ vũ cho các hoạt động chống đối ở Thái Hà, tham gia tích cực biểu tình, viết tập truyện ‘Đại Vệ Chí Dị’. Tôi xin mạn phép cảnh báo anh Hiếu là đã có quyết định chính thức của cơ quan chức năng để vô hiệu hóa anh. Tôi rất lấy làm tiếc về điều này, và thật sự tôi hy vọng với những dòng cảnh báo này anh sẽ chấm dứt hoàn toàn 3 hoạt dộng chống đối trên, như vậy thì cơ quan Công An có thể sẽ tha cho anh, tôi thật sự không muốn anh vào tù và bé Tí Hớn của anh thiếu vắng sự dạy bảo của người cha, rất mong anh suy nghĩ.
Trân trọng
Tom Cat
P/S: Tom Cat xin cảnh báo 2 người nữa cũng đang có nguy cơ rất cao bị ‘vô hiệu hóa’ đó là ông Nguyễn Hữu Vinh và ông Nguyễn Xuân Diện, xin hai ông biết rằng chính quyền đã hết kiên nhẫn với hai ông khi sự kiện tàu Bình Minh 02 đã trôi qua 7 tháng mà các ông vẫn muốn ‘restart’ các cuộc biểu tình nhằm mục đích gây rối. Nếu chỉ cần kích động thêm 1 lần biểu tình nữa thì hai ông sẽ bị vô hiệu hóa triệt để. Xin thật lòng cảnh báo.”
Mà “vô hiệu hoá” và “vô hiệu hoá triệt để” khác nhau làm sao vậy cà? Một đằng là vô tù; còn đằng khác (chắc) là vô nghĩa địa, sau khi (cho) xe đụng chết luôn hay sao? Đằng nào thì nghe cũng ghê thấy mẹ luôn. Tuy thế, quí ông Bùi Thanh Hiếu, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Hữu Vinh (dường như) đều bị nặng tai nên mọi lời đe doạ của quần chúng tự phát –Tom Cat – kể như nước đổ lá khoai!
Thế là Nhà Nước lại phải có biện pháp mạnh (hơn) theo như tin nghe được từ RFI, vào hôm 06 tháng 4 năm 2012:
“ Tại buổi hội thảo hôm thứ Sáu vừa qua, thứ trưởng Thông tin và Truyền thông Đỗ Quý Doãn đã tuyên bố rằng, các văn bản pháp luật trong lĩnh vực Internet không còn phù hợp nữa, cho nên cần phải ‘bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các chế tài’, nhằm tạo hành lang pháp lý cho ‘sự phát triển bền vững của Internet’ ở Việt Nam. Nói cách khác, dự thảo nghị định mới đi xa hơn trong việc kiểm soát thông tin trên Internet ở Việt Nam.”
Nghe mà thấy thương quá sức, muốn ứa nước mắt luôn:”các văn bản pháp luật trong lĩnh vực Internet không còn phù hợp nữa, cho nên cần phải ‘bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các chế tài.”
Thời gian, rõ ràng, đã đứng về phía khác – phía của ông Vũ Thư Hiên và mọi người dân Việt, trong cũng như ngoài nước. Buộc cẳng chim trời hay buộc chỉ chân voi đều là những chuyện (rất) khó thành công.
– Ủa, không thành công thì thành nhân chớ có mất mát gì đâu mà sợ?
– Sợ chớ, theo luật tiến hoá thì đi tới mới có hy vọng thành nhân. Còn cố kìm giữ cả một dân tộc trong tăm tối, dốt nát và nghèo đói… là bước lùi. Bước lui thì chỉ có thể thành dã nhân thôi! Thì tui cũng tiện mịêng mà nói chơi cho vui vậy, chớ đừng có lo chuyện những người đang cầm quyền ở VN có thể biến cả dân tộc này thành … vượn. Khoảng cách mà họ có thể tiếp tục bước lùi cũng chả còn được bao xa và bao lâu nữa đâu. Chắc chắn là không thể lâu như bản án hàng chục năm tù mà họ sắp áp đặt lên cuộc đời của những thành viên của Câu Lạc Bộ Nhà Báo Tự Do, trong đó có Tạ Phong Tần (*) Gió đã chuyển rồi!
Tưởng Năng Tiến
4/2012
(*) Xin đón đọc Tuyển Tập Tạ Phong Tần, do tuần báo Trẻ Dallas, Texas xuất bản. Độc giả có thể đặt mua ngay từ bây giờ qua địa chỉ sau:
Toà soạn báo Trẻ
3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.
ĐT: 972-675-4383/ Email: tusachtreusa@gmail.com
Có Những Cổng Trời
Miền quê trông ngóng âm thầm
Thương con không biết giam cầm nơi nao
Đêm nay tiếng nấc nghẹn ngào
Mẹ tuy khuất núi vẫn đau cuối trời…
Trần Cương
Loạt bài về “Trại Giam Cổng Trời” (qua lời nhân chứng) của biên tập viên Mặc Lâm – RFA – được mở đầu bằng lời của giáo sư Phùng Văn Tại:
“Ngày 24 tháng 12 năm 1959 tức là chiều hôm trước chuẩn bị trang trí nhà thờ chính tòa để đón Noel, thì Ủy ban Liên lạc Công giáo, tức là Ủy Ban Đoàn Kết Công giáo đến gây chuyện… Tranh giành như thế cha chính Vinh cho kéo chuông. Hai cái tháp nhà thờ Chính Tòa của Hà Nội có 6 quả chuông cha chính Vinh cho ca đoàn lên kéo cùng một lúc, cứ như thể một cuộc báo động lớn năm 1959 cho nên kinh khủng lắm, và họ hô nhau đến bắt cha chính Vinh... Cha chính Vinh bị bắt và cuối cùng ngài bị đày lên Cổng Trời. Cổng Trời là một cái địa ngục nhốt cho đến chết thì thôi….”
Cái địa ngục nhốt cho đến chết thì thôi này ở đâu, vậy Trời? Ngó bộ cao à nha. Mà cao thiệt, theo như Mặc Lâm cho biết:
“Trại giam này rất hiếm người biết tới, kể cả những người tù lâu năm nhất cũng chỉ nghe kể lại vì muốn lên đó phải có bị kêu án 15 năm đối với tù hình sự, còn đối với tù chính trị thì phải là gián điệp, biệt kích hay các linh mục, tu sĩ. Điểm đặc biệt của trại giam Cổng Trời là độ cao của nó. Không ai biết chính xác trại nằm ở độ cao bao nhiêu nhưng từ 2.000 cho đến 2.500 mét là con số được nhiều tù nhân dùng để diễn tả.”
Người tù Trần Nhật Kim, tác giả cuốn Cuộc Chiến Chưa Tàn cho biết thêm:
”Từ trại giam Cổng Trời đi đường bộ xuống Thị xã Hà Giang chừng 36 cây số. Ngược lên phía Bắc là huyện Quản Bạ nằm sát biên giới Việt Trung, chỉ cách trại khoảng 10 cây số. Qua đỉnh núi, phía bên kia là biên giới. Mặt trước của trại Cổng Trời hướng về đường lộ, hai bên là vách núi thẳng đứng tiếp xúc với những cánh rừng già trải rộng dưới chân. Phía sau trại dựa vào sườn đồi tiếp nối với rặng núi cao. Một vùng đất rộng sau trại được dùng làm nghĩa trang mang tên ‘đồi Bà Then’ nơi vùi lấp những người xấu số. Cho tới nay những điều mà người ngoài biết về trại giam Cổng Trời vẫn còn rất hạn chế.”
Và cuộc sống bên trong Cổng Trời đã được ông Nguyễn Hữu Đang, một trong những người tù nổi tiếng nhất miền Bắc, tóm gọn như sau:
“Trại này có truyền thuyết là ‘vào thì không ra’, đến đây là phải bỏ xác chớ không hy vọng gì để trở về với gia đình. Trại Cổng Trời là một lò sát sinh đầy bí mật, tàn bạo và khoa học của Hà Nội. Trại này đã bí mật chôn vùi 300 anh em tù biệt kích miền Nam và hàng ngàn tù chính trị, tu sĩ và linh mục Công giáo cũng như giới trí thức chống chủ nghĩa CS của chính miền Bắc.”
Cái cách mà “lò sát sinh bí mật” này “chôn vùi” con người, xem chừng, cũng giản đơn thôi. Trước hết là giá rét. Hãy nghe Mặc Lâm so sánh:
“Những trang sách trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù của Aleksandr Soltzhenitsyn diễn tả cái lạnh giá mà người tù nước Nga phải chịu đựng suốt mùa đông đã đánh động con tim nhân loại bao nhiêu, thì khi nghe người tù trại giam Cổng Trời kể lại chính bản thân họ chịu đựng cái lạnh của đất trời Hà Giang sẽ khiến người nghe chạnh lòng đến rơi lệ bấy nhiêu.”
Rồi đến đói khát:
-”Ăn thì ăn đói không có gì cả. Đói điên cuồng, đói quá hóa điên. Ai trải qua rồi thì mới thấy nó khủng khiếp. Có những thanh niên không chịu được đói đập đầu vào tường để tự tử. Có người dùng mảnh chai cắt veine để cho máu chảy ra mà chết. Tôi chứng kiến nhiều trường hợp như thế, đói một cách kinh khủng.” (Nguyễn Chí Thiện)
- “Chúng tôi đói đến nỗi phải sàng phân mà ăn. Là vì ăn hạt bo bo của Ấn Độ, mà bo bo thì cứng lắm thanh niên như tôi mà nhai còn nhủng nhẳng thì huống chi mấy ông già, nhai kỹ bao nhiêu thì vẫn còn phân nửa. Một nửa còn lại nguyên si nó vào xong nó lại đi ra. Mà phân thì lại không có mắm muối, cá thịt gì nên không hôi thối. Do đó các người đói quá sau khi những người tù đi ngoài thì họ vào họ xúc phân đó. Những toán đi ra ngoài đồng đem xuống suối rửa sạch rồi hầm lại và ăn lại cái bo bo đó!” (Đặng Chí Bình)
Và đòn cuối là sự cách ly:
“Án bao nhiêu năm chẳng quan trọng, chẳng đáng kể. Không một mối liên hệ với bên ngoài, không thư từ, không thăm nom, không tiền hay quà hay lương thực gửi tới – không, anh không nhận được chút gì của bạn bè hay gia đình. Anh không có quyền nhận thăm nom, không tiếp xúc với bên ngoài.Anh chỉ sống chuyên giữa các anh với nhau, những người tù, những tù nhân chính trị. Thế giới của anh, nhân loại đối với anh là 200 người tù – không có những người đồng tổ quốc, đồng công dân; với anh, không có gì hết, chỉ có 200 người đồng ngục cùng một số phận…” (Nguyễn Hữu Đang)
Cổng Trời được giải toả, vào năm 1978, trước khi Trung Cộng tấn công Việt Nam. Tù nhân được chuyển về trại Thanh Cẩm. Đây là một tin vui giữa giờ tuyệt vọng – vẫn theo như ghi nhận của Mặc Lâm:
“Cái ngày nó bị xóa sổ đến rất bất ngờ và những tù nhân trong trại chào đón tin này với một niềm hân hoan tột độ. Người tù biết rằng mặc dù họ không được trả tự do nhưng sẽ không phải tiếp tục sống trong cái địa ngục trần gian này. Hy vọng đó đã làm cho hầu hết tù nhân thắp lại niềm tin sống sót mà bao nhiêu năm qua đã tắt ngúm trong lòng họ.”
Những kẻ sống sót này, mãi cho đến hôm nay, vẫn “chiêm bao hàng đêm về cuộc sống quá lâu và quá tàn bạo trong trại giam mang tên Cổng Trời.” Tuy thế, theo lời Mặc Lâm:
“Chưa từng có người nào đứng ra đòi công lý khi chính họ hoặc thân nhân của họ bị cầm giữ trong các trại tù mà không qua xét xử. Nhà nước dửng dưng như không phải chính mình ra lệnh đàn áp và vì vậy chưa có bất cứ một động thái nào có thể nói là làm dịu bớt nỗi đau của những nạn nhân này.”
…..
“Trong khi chuẩn bị cho bài viết này chúng tôi đã phỏng vấn rất nhiều người, nói chuyện với những nạn nhân và gia đình họ trong và ngoài nước. Đã sử dụng hàng trăm trang tài liệu chỉ với mục đích duy nhất là trả lại sự thật cho một giai đoạn lịch sử. Giai đoạn mà người cộng sản Việt nam bị trượt theo đà tiến của cơn lốc cách mạng Xô Viết đến từ nước Nga xa xôi.”
Cơn lốc cách mạng Xô Viết đã qua. Tuy thế, cú “trượt” của những người cộng sản Việt Nam, xem chừng, vẫn còn dài lắm – theo như tin đã loan, của RFI, nghe được vào hôm 17 tháng 1 năm 2012:
“Từ giữa năm 2011 đến những ngày cuối năm, tại Việt Nam đã xảy ra nhiều vụ bắt giữ người bất ngờ, không thông qua các thủ tục được pháp luật quy định. Trong số những người bị bắt, có nhiều người theo đạo Thiên chúa.”
Ảnh những người bị bắt (từ trái qua phải, từ trên xuống dưới)
Trần Vũ Anh Bình, Tạ Phong Tần, Trần Minh Nhật, Thái Văn Dung, Hồ Văn Oanh, Nguyễn Văn Duyệt, Nguyễn Xuân Anh, Nông Hùng Anh, Lê Sơn, Chu Mạnh Sơn, Trần Hữu Đức, Đậu Văn Dương, Hồ Đức Hòa, Đặng Xuân Diệu, Nguyễn Văn Oai.
Ảnh: hrw.org
Blogger Hoàng Quân cho biết thêm:
“ Khi bắt, không có văn bản giấy tờ của bất cứ cơ quan trách nhiệm nào. Điểm chung tiếp theo là, kể từ khi bị bắt, gia đình thân nhân họ không được thông báo bất cứ thông tin nào, ngay cả khi gia đình họ đôn đáo tìm hỏi khắp nơi thì các cơ quan từ địa phương đến chóp bu đều chối quanh, hoặc chỉ nói lòng vòng.”
Nghe cứ y như lời tường thuật của ông Kiều Duy Vĩnh, một người tù ở Cổng Trời, hồi giữa thế kỷ trước:
“Mẹ tôi đến Bộ Công An ở phố Trần Bình Trọng hỏi về anh con bị tù. Gác cửa không cho vào. Nhưng từ nhà tôi ở chợ Hôm ra hồ Thiền Quang chưa đến 1 km nên hầu như liên tục khi nào mẹ tôi đi đâu là mẹ tôi lại tạt vào Bộ Công An quấy rầy họ. Đến nỗi người thường trực cứ trông thấy mẹ tôi là tránh mặt không tiếp.
Mẹ tôi cứ đến hỏi. Hỏi mãi. Riết rồi họ phải trả lời. Nhưng cũng mất hơn 3 năm họ mới cho mẹ tôi cái địa chỉ trại tù Cổng Trời: Công Trường 75A Hà Nội. Mẹ tôi lại hỏi tiếp: Thế cái công trường này nó ở chỗ nào ở cái đất Hà Nội này? Họ bảo họ không biết…”
Tuy thế, theo Mặc Lâm:
“So với Kiều Duy Vĩnh thì người tù Lưu Nam còn bi thảm hơn, ông không bao giờ được gặp mặt gia đình cho tới khi chết mặc dù con cái hết lòng tìm kiếm. Con trai của ông là ông Lưu Đức Tâm kể:
“Ông bố ở trại giam Quyết Tiến ở Hà Giang, còn gọi là trại giam Cổng Trời. Trong 10 năm đó gia đình không có tin tức gì thì dẫu biết cũng không thể đi thăm được. Cho đến năm 1961 gia đình nhận được một bức thư của ông cụ gửi về nên mới biết ở trại đó.
Lúc bấy giờ gia đình cũng không có điều kiện để ra đi thăm được bởi vì mẹ ở nhà ốm đau bệnh tật, con cái thì còn nhỏ thành ra không đi thăm được, cho nên có gửi lên cho ông bố một ít quà qua cái địa chỉ đó. Gửi bằng con đường bưu điện nhưng không biết ông cụ có nhận được hay không, tới năm 1962 thì ông cụ mất...”
Không biết còn bao nhiêu người khác (nữa) cũng đã “mất tích”, theo kiểu tương tự, ở trại Cổng Trời. Dù vậy, sự tàn bạo và bất nhân – của chế độ hiện hành – không vì vậy mà ngưng lại. Ở Việt Nam, hiện nay, vẫn có hàng ngàn (hay hàng vạn?) người vợ và người mẹ ngày đêm, tất tả ngược xuôi, tìm kiếm chồng con – một cách vô vọng – nơi những trại tù không tên, như trại Cổng Trời, hồi năm mươi năm trước.
Có người, mãi cho đến khi nhắm mắt vẫn không có cơ hội nhìn thấy lại được mặt con – theo như tin vừa loan của VRNs:
“ Bà Maria Đỗ Thị Tần, mẹ của phóng viên Paulus Lê Sơn đã qua đời lúc 5:00, sáng nay, ngày 21.04.2012, tại Thanh Hoá. Trong tháng 2 năm 2012 vừa qua, khi luật sư Trần Thu Nam báo tin mẹ của Paulus Lê Sơn lâm trọng bệnh, những người bạn đã đưa bà Maria Đỗ Thị Tần ra Hà Nội chữa trị. Nhiều người hảo tâm và chuyên môn đã góp công góp của lo chữa chạy cho bà. Khi trở về lại Thanh Hoá, tình trạng sức khoẻ của bà có cải thiện hơn. Nhưng do đau buồn lâu ngày, vì người con duy nhất và vô tội của của mình bị bắt giam cách bất công, sức khoẻ bà yếu dần. Khi lâm trọng bệnh, bà Maria mong gặp Lê Sơn và mong con bình an, dù phải như thế nào.”
Tưởng Năng Tiến
4/2012
Điếu Cày giữa buổi giao thời
Tranh TTLan. Nguồn: Dân Làm Báo.
Tôi vốn lo xa, và đôi khi, xa quá. Đã có lúc, tôi đề nghị kiếp sau, nếu có dịp gặp lại nhau, chúng ta nên bỏ cái lối chào hỏi (xã giao) hiện nay đi. Nghe nhà quê chết mẹ:
“Xin được vô phép hỏi thăm, anh chị từ đâu đến?”
“Thưa bà, bà thuộc quốc tịch nào thế ạ?”
“Còn ông, quê quán ở đâu?”
Kể từ khi chúng ta có mặt trên quả đất này, hình dạng của những lục địa đã nhiều lần thay đổi, nói chi tới mấy chuyện lẻ tẻ, nhỏ nhặt (và lặt vặt) cỡ như biên giới của những quốc gia. Bởi thế, những câu trả lời cũng như những câu hỏi (vớ vẩn) vừa nêu đều có vẻ hơi… ngớ ngẩn:
“Thưa tôi người Chiêm Thành, còn cô bạn gái của tôi đây người Chân Lạp.”
“Còn tôi là công dân thành Nhã Điển (Athens) ạ.”
Đối đáp như thế, nghe mất… sướng! Hẹp hòi, và nặng tính chất địa phương, thấy rõ. Đã vậy, nó còn có thể khiến người đối thoại bối rối. Chiêm Thành, Chân Lạp, Nhã Điển… đều thuộc những nền văn minh đã lụi tàn, hay bị hủy diệt từ lâu.
Bởi vậy, tôi xin có ý kiến là chúng ta nên chào hỏi nhau theo cách khác – bỏ hẳn mọi ý niệm liên quan đến không gian đi, cho nó thoáng:
“Xin được vô phép hỏi thăm, bà thuộc niên đại nào thế ạ?”
“Thưa cô, cô có thể vui lòng cho biết, thời đại của cô tên chi không?”
“Thưa, tôi sống vào thời Băng Hà.”
“Còn em thì sinh vào thời Đồ Đá Cũ.”
“Chúng em cũng thế nhưng hơi lui về phía sau một tí, giai đoạn Trung Thạch Khí đấy ạ.”
“Dạ cháu thì sinh sau đẻ muộn hơn nhiều, cháu là người thời Trung Cổ.”
Gần gũi hơn, chúng ta dám có dịp ngồi nhậu (sương sương) vài ly và bàn chuyện nghệ thuật với Leonardo da Vinci, hay Michelangelo Buonarroti của thời Phục Hưng. Gần hơn nữa, bạn có thể chitchat hay tếch tiết hay tranh luận với những người bạn thuộc thời đại Thông Tin.
Nhân loại, tất nhiên, không phải lúc nào cũng vui vẻ nắm tay nhau (cười ha hả) nhẩy cà tưng cà tưng – nhịp nhàng – qua từng thời đại. Theo ước tính của Survival International, hiện nay chỉ riêng ở Brazil và Peru, đã có đến hơn 50 bộ lạc (trong số hàng trăm, rải rác khắp nơi trên thế giới) vẫn đang sinh sống ở giai đoạn văn minh của Thời Săn Bắt.
Ảnh một bộ lạc ở Nam Mỹ: Gleison Miranda, Funai, AP. Nguồn:BBC
Có những nơi heo hút quá, ánh sáng văn minh không soi rọi tới nên con người bị cô lập và trở nên… lạc hậu. Cũng có những nơi mà cư dân (rất có thể) vì cảm thấy đời sống “văn minh hiện đại” không thích hợp mấy với “tạng” của họ, nên từ chối tham dự cuộc chơi. Ở vài nơi khác, người ta nhất định ngoảnh mặt với tất cả những sinh hoạt chung (của đa phần nhân loại) hoặc tỏ ra dị ứng với mọi sự đổi thay, chỉ vì sợ thiệt thòi đến… quyền lợi cá nhân hay phe nhóm của mình!
Tôi hay hình dung ra cảnh một thằng cha đầu bù tóc rối, tay cầm một cái chầy hay cái vồ gì đó, đang tha thẩn giữa rừng, bỗng hớn hở và hăm hở, tồng ngồng chạy tuột vào hang, ôm chầm lấy vợ,… nói không kịp thở:
“Honey à…”
“Dạ, em đây anh…”
“Nổi lửa lên liền đi, nướng bậy cái gì đó để nhậu lai rai nha… Anh sẽ hú anh Tư với anh Năm qua uống (chơi) vài xị để ăn mừng…”
Con mẻ, thất vọng ra mặt, cố nén thở dài nhưng bẳn gắt thấy rõ:
“Trời, tưởng gì chớ lại bầy chuyện nhậu nữa hả! Sao cứ nhậu liền liền vậy kìa? Ðêm qua mấy ông mới xỉn gần chết, ói mửa tùm lum, hang động còn hôi rình đây nè!”
“Thì hôm qua là happy birthday của em, mình cũng phải này nọ chút đỉnh (với người ta) cho nó vui chớ. Bữa nay là chuyện khác, quan trọng hơn nhiều.”
“Chuyện gì mà dữ thần vậy cà?”
“Mình biết sao không? Anh mới gặp ông Tám ở ngoài bìa rừng á, thằng chả cho hay bắt đầu từ 12 giờ khuya đêm nay là toàn thể nhân loại sẽ bước qua một thời đại mới – tới thời Đồ Đồng rồi đó nha.”
“Ý trời đất quỷ thần thiên địa ơi! Như vậy là chết (bà) tui rồi. Cái cối đá, cái ghế đá, cái giường đá, cái bàn đá, cái gối đá… mới mua tuần rồi, toàn là đồ xịn và đồ hiệu, không sale một cắc, mắc thấy mẹ luôn. Vậy mà hết đêm nay là kể như sẽ demoder ráo trọi. Qua thời Đồ Đồng thì đồ đá rớt giá là cái chắc. Tui thiệt hại cả triệu Mỹ kim tới nơi chớ đâu phải ít, vui vẻ gì mà mấy ông đòi nhậu nhẹt ăn mừng? Dẹp, dẹp hết…!”
Ở bình diện quốc gia, không ít những vị Lãnh Tụ Anh Minh, những Người Cầm Lái Vĩ Đại … của cả một dân tộc cũng có lối ứng xử thô lỗ hoặc bầy tỏ một thái độ (rất) nặc nô tương tự – khi quyền lợi của họ bị đụng chạm vì sự đổi thay, của thế thời.
Vào những năm cuối của thế kỷ trước, chủ bút tạp chí Thế Kỷ 21, tạp chí xuất bản phát hành từ miền Nam, California, đã có nhận xét như sau:
“Tiến bộ là đi ngược lại quyền lợi của giai cấp nắm quyền, tình trạng này đang diễn ra tại Việt Nam. Có gần hai triệu đảng viên và những người cộng tác với họ chia nhau các chức vụ và bổng lộc từ trên xuống dưới. Nếu kinh tế tư doanh phát đạt thì hệ thống phân phối ảnh hưởng và lợi lộc đó bị thiệt hại. Nếu nhiều công ty tư doanh đi vào thị trường thì một hãng độc quyền là ‘công ty Đảng’ sẽ không cạnh tranh nổi. Nhiều ý kiến mới được nói, được nghe thì ‘Giáo hội Ðảng’ sẽ mất thiêng. Vì vậy họ gọi quá trình đó là ‘diễn biến hòa bình’, phải ngăn ngừa và tiêu diệt!”
(Vương Hữu Bột, “Trở ngại của tiến bộ”, Thế Kỷ 21, tháng 6 năm 98)
Vào thời điểm này ở Việt Nam chưa có những nhân vật đấu tranh đòi hỏi cải cách, và đông đảo những blogger như hiện nay. Đây là những tác nhân đang làm suy yếu vai trò độc quyền thông tin của nhà nước. Họ cũng đang tạo ra được những đối lực đáng kể – theo như nhận xét của một nhân vật vừa vượt thoát khỏi xứ sở này:
“Nhưng tiếng nói của các blogger … đã thực sự trở thành một luồng thông tin phản biện đa dạng, nhanh nhạy, sắc sảo, phản ánh muôn mặt đời sống chính trị xã hội văn hóa của Việt Nam. Và trong nhiều trường hợp, tiếng nói của họ thực sự có sức mạnh đến nỗi nhà nước Việt Nam buộc lòng phải thay đổi, chỉnh sửa một số vụ việc cụ thể... Cho đến giờ phút này, thời điểm của năm 2010, giới blogger Việt Nam hoàn toàn có thể tự hào về sự phát triển cũng như những gì mình đã, đang và sẽ đóng góp cho quá trình dân chủ hóa Việt Nam.” (Câu chuyện của blogger Điếu Cày. Song Chi – RFA’s log).
Biểu tình phản đối Trung Quốc xâm lược Hoàng Sa Trường Sa 19.1.2008.
Từ trái qua phải: Song Chi, Phương Thi, Trăng Đêm, Điếu Cày, Huỳnh Công Thuận, Bùi Chát, Đông A SG. Nguồn ảnh: Diễn Đàn Thế Kỷ 21.
Trước tình trạng đó, nhà đương cuộc Hà Nội đã có những phản ứng rất vụng về và thô lỗ. Xin đơn cử một thí dụ về trường hợp của một công dân Việt Nam, ông Nguyễn Hoàng Hải – người đã bị áp bức và bắt giam từ nhiều năm nay.
Ông Hải là một blogger, thành viên của Câu lạc bộ Nhà báo Tự do, với bút danh Điếu Cày, bị bắt vào ngày 19 tháng 4 năm 2008. Lý do (chính) vì đã kêu gọi và tham dự biểu tình, để phản đối Trung Quốc xâm phạm chủ quyền Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Ở Việt Nam, những quyền căn bản của con người như quyền lập hội, quyền biểu tình, quyền tự do ngôn luận… đều được hiến pháp thừa nhận (cho có lệ) nhưng chưa bao giờ được thực thi. Tệ trạng này đã được hầu hết mọi người chấp nhận, hay cam chịu, từ hơn nửa thế kỷ nay.
Điếu Cày không thuộc vào số đông vừa kể. Ông và một số bằng hữu đã công nhiên thực hiện quyền công dân của mình, bằng nhiều phương cách. Hành động của họ bị coi là “khiêu khích” vì đã làm mất sự “ổn định xã hội,” theo quan điểm của những người cầm quyền ở Vịêt Nam.
Do đó, Điếu Cầy đã bị bắt giam. Sau khi mãn hạn tù, thay vì được phóng thích, ông bị đưa đi dấu kín ở một nơi. Đúng một năm sau, kể từ khi blogger Điếu Cày bị tiếp tục bị giam giữ trái phép – vào ngày 23 tháng 10 năm 2011 – người ta đọc được những lời “tha thiết kêu gọi” như sau trên trang Dân Làm Báo:
“… nhiều anh chị em blogger trong nước đã khởi xướng việc vận động gửi thư cho Chủ tịch nước Trương Tấn Sang yêu cầu trả tự do ngay lập tức cho công dân, cựu chiến binh Quân đội Nhân dân Nguyễn Văn Hải tức blogger Điếu Cày.
Dân Làm Báo mong bạn bè trong thôn góp phần vào nỗ lực này để tranh đấu đòi lại tự do cho anh Điếu Cày bằng cách tham gia vào danh sách những người đứng tên trong thư. Xin các bạn gửi họ tên, địa chỉ, điện thoại về hộp thư mothermushroom@gmail.com.”
Nguồn ảnh: Thăng Tiến
Theo ngôn ngữ hàn lâm thì ông Nguyễn Hoàng Hải là một nạn nhân giữa buổi giao thời: thời Thông Tin versus thời Cách Mạng. Còn theo như cách nói của thường dân thì Hải Điếu Cày là nạn nhân của một thời đại mới: Thời đại Bất Nhân, hay còn gọi một cách bỗ bã hơn là thời Đồ Đểu!
Tưởng Năng Tiến
6/2008
Điếu Cày Giữa Thời Thổ Tả
Nhạc sĩ Châu Kỳ là tác giả của nhiều bài ca (rất) sến. Không tin, xin nghe Tuấn Vũ chơi thử một bài – Bỏ Phố Lên Rừng:
Người xót xa buồn lắm phải không?
Không sao lại bỏ phố lên rừng
Đi làm mây cao trên đèo vắng.
Trời vào đông có chạnh lòng?
Ông Lữ Phương (nguyên) thứ trưởng Bộ Văn hoá của chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hoà miền Nam Việt Nam thì không hề làm nhạc sến, cũng không ca nhạc sến bao giờ, chỉ trải qua một kinh nghiệm sống (hơi) hao hao sến. Năm 1967, không biết vì xót xa buồn lắm chuyện chi mà (khi khổng khi không) ổng … lại bỏ phố lên rừng!
Bốn mươi mốt năm sau, phóng viên Ánh Nguyệt đã có cuộc nói chuyện với ông Lữ Phương – nghe được qua RFI, vào ngày 22 tháng 08 năm 2008 – xoay quanh cuốn bút ký “Những Chuyến Ra Đi,” với lời giới thiệu (có phần hơi cường điệu, và không được mạch lạc gì cho lắm) về tác giả, như sau:
“Một thanh niên miền Nam lớn lên được hun đúc bằng lòng yêu nước và lý tưởng đã quyết định dấn thân vào cuộc phản kháng chống lại cuộc chiến tranh can thiệp của Mỹ vào Việt Nam. Vấn đề không bình yên về tinh thần mà anh nhận ra qua cuộc dấn thân ấy là sự sai biệt giữa lý tưởng và thực tế. Anh vẫn giữ nguyên ý nghĩa sự chọn lựa ban đầu của mình là không chấp nhận sự can thiệp tàn bạo của Mỹ vào đất nước và điều đó khiến anh vẫn còn là bạn đường của những người cộng sản, nhưng trong những năm tháng sống với họ qua cuộc chiến đấu chung ấy trong chiến khu, mặc dù đã vào Đảng rồi anh vẫn thấy lạc lõng trong cái không khí ý thức hệ và văn hoá do Đảng tạo ra, những điều đó là xa lạ với tính cách của anh, có phần đi ngược lại với cả cái lý tưởng mà anh ấp ủ. Sự rạn nứt đó đã giằng xé tâm thức và trở thành cái chủ đề của bút kí ‘Những chuyến ra đi.’ Một bút kí thể hiện sự khắc khoải của một con người đi vào máu lửa để tìm kiếm một thứ ý nghĩa chung cuộc cho đời sống. Các sự kiện lịch sử được kể ra ở đây chỉ là những chất liệu qua đó tác giả bộc lộ những suy nghiệm về bản thân trong quá trình dấn thân tìm hiểu đời sống trong cái hiện thực sần sùi khốc liệt của nó. Một sự bộc lộ tiêu biểu cho thái độ của một số trí thức ‘khuynh tả’ xuất hiện ở miền Nam sau 1954”.
Sau 1975, sau khi “Mỹ cút,” ở Việt Nam xuất hiện “một lớp trí thức khuynh tả khác.” Họ cũng được “hun đúc bằng lòng yêu nước” và cũng “quyết định dấn thân.” Sự khác biệt chỉ ở điểm là thay vì “không chấp nhận sự can thiệp tàn bạo của Mỹ vào đất nước” (như lớp ông Lữ Phương, ngày trước) họ “không chấp nhận sự can thiệp tàn bạo” của người Tầu vào lãnh thổ và lãnh hải của Việt Nam. Ông Nguyễn Văn Hải, bút danh Điếu Cầy, là “một sự bộc lộ tiêu biểu” cho thái độ này.
Để thực hiện lý tưởng của mình ông Lữ Phương đã bỏ phố lên rừng, hay còn gọi (một cách ít lãng mạn, và đỡ sến hơn) là … nhẩy núi. Trong cuốn bút kí thượng dẫn, nơi trang 56 và 57, có mấy đoạn thế này:
“Vào mùa khô năm ấy, tôi xin cơ quan cho tôi đến vùng biên giới Bố Bà Tây, liên hệ với gia đình. Lần này ngoài vợ và đứa con gái lớn, còn có em gái tôi cùng với hai đứa con gái nhỏ của nó đi theo, lúc nhúc một đoàn, không tưởng tượng nổi!”
“Nhờ chuyến thăm này tôi mới rõ được chuyện nhà từ lúc tôi ra đi. Vợ tôi ngoài việc đi dạy học còn tìm được việc làm ở một tòa án tỉnh nữa. Những người quen biết đều biết vợ tôi có chồng là VC, bị cảnh sát Sài Gòn o ép, dụ dỗ nhiều cách, nhưng đều hết lòng giúp đỡ, che chở (ngay cả những viên chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn): chẳng phải vì lý do gì khác hơn là ở đây người ta chưa có thói quen ‘chính trị hoá’ mọi quan hệ xã hội.”
Quá trình chống Mỹ của ông Lữ Phương, ngó bộ, cũng không “sần sùi” hay “khốc liệt” gì cho lắm. Ông ra đi nơi này vẫn thế. Bà nhà “ngoài việc đi dạy học còn tìm được việc làm ở một tòa án tỉnh,” và “được mọi người quen biết (ngay cả những viên chức cao cấp trong chính quyền Sài Gòn) hết lòng giúp đỡ và che chở.” Và dù ông đã nhất định quên tình riêng “đi vào máu lửa để tìm kiếm một thứ ý nghĩa chung cuộc cho đời” nhưng vợ, con, em út, cháu chắt … vẫn vô (bưng) thăm hỏi tưng bừng – “lúc nhúc một đoàn” đông hết biết luôn! Nói dại, và nói đại, lỡ ông Lữ Phương có hai hay ba bà vợ và cũng xin cơ quan để được liên hệ với những gia đình còn lại thì bà Hai cũng như bà Ba – hổng chừng – cũng dám đã có mặt ở chiến khu, y như bà Cả vậy!
Chuyện chống Tầu của ông Nguyễn Văn Hải, xem ra, có phần vất vả hơn chút xíu. Ổng không vô bưng mà lại vô tù; đã thế, vợ con, dù đã làm giấy tờ ly dị, vẫn cứ bị vô số những chuyện lôi thôi và rắc rối với … Chính Quyền Cách Mạng! Bức thư của bà Dương Thị Tân, vợ (cũ) ông Điếu Cầy, viết ngày 2 tháng 12 năm 2010 mà chúng tôi xin ghi lại nguyên văn dưới đây nói lên (phần nào) những sự kiện vô cùng ti tiện, bẩn thỉu, và hạ cấp trong vụ việc này:
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc_______________________
THƯ TỐ CÁO
Kính gởi: – Ông Nguyễn Chí Thành – Giám đốc Công an TP Hồ Chí Minh
- Ông Lê Hồng Anh – Bộ trưởng Bộ Công an
- Ông Nguyễn Tấn Dũng – Thủ tướng nước CHXHCN Việt Nam
- Ông Nguyễn Minh Triết – Chủ tịch nước CHXHCN Việt Nam
Đồng kính gởi: – Các cơ quan truyền thông trong và ngoài nước, những bạn bè thân
hữu quan tâm đến vụ việc.Tôi tên: Dương Thị Tân, hiện ngụ tại số nhà 57/31 Phạm Ngọc Thạch, phường 6 quận 3, thành phố Hồ Chí Minh.
Tôi gửi thư này đến các ông tố cáo những sự việc mà trong thời gian qua chính quyền (cụ thể là Cơ quan ANĐT Công an TPHCM) đã gây ra cho gia đình tôi như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 4/2006 đến tháng 12/2008, tôi và chồng cũ của tôi là ông Nguyễn Văn Hải (blogger Điếu Cày) có bị Tòa án nhân dân TPHCM xử 2 năm 6 tháng tù giam về tội danh “trốn thuế” cộng với mức tiền phạt gần 900 triệu đồng + gần 40 triệu đồng tiền lãi.
Đau đớn vì bị oan ức, tôi tìm hiểu nguyên nhân và được biết, sở dĩ có vụ án oan này là do chồng cũ của tôi (ông Nguyễn Văn Hải) vào ngày 16/12/2007 và ngày 19/1/2008 có tham gia biểu tình phản đối Trung Quốc chiếm đất và chiếm 2 quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa của Việt Nam nên Công an TPHCM đã bắt giữ. Theo lời của Thiếu tá Nguyễn Văn Long (tên gọi khác là Hoàng, tự xưng là Đội trưởng Đội điều tra chống bạo động) thì không thể quy kết ông Nguyễn Văn Hải tội biểu tình nên mới phải dùng tội danh “trốn thuế” mặc dù tội danh này cũng không có bằng chứng. Và cũng theo lời một số cán bộ khác của Cơ quan An ninh điều tra thì “nếu không bắt ông Hải sẽ làm mích lòng Trung Quốc, vì Trung Quốc là nước lớn, nếu không được hài lòng thì sẽ có chiến tranh”.
Thưa các ông!
Tôi chỉ là một người phụ nữ bình thường, một mình tôi phải nuôi dạy các con đang tuổi học hành điều đó với tôi cũng đã là quá sức. Tôi không quan tâm nhiều đến chuyện kẻ nào bán đất và kẻ nào bán đảo, nhưng để bắt giữ cho bằng được ông Nguyễn Văn Hải, cơ quan Công an và Tòa án đã quy chụp cho chúng tôi tội danh mà chúng tôi không hề phạm phải, tuyên phạt tôi 18 tháng tù treo, 18 tháng quản chế tại địa phương cộng với một số tiền quá lớn. Sau vụ đó, họ giải thích cho tôi rằng: “Vì lợi ích quốc gia nên mong chị cố gắng chịu đựng”.
Chuyện tưởng như đã xong, bình an sẽ trở lại với gia đình tôi thì bỗng dưng vào các ngày 13- 14- 15- 16 tháng 5/2009 Cơ quan an ninh điều tra lại liên tục cho gọi tôi lên thẩm vấn với nội dung: Bắt tôi cam kết không được cho 2 người quen ở nhờ trong căn nhà số 84D Trần Quốc Toản (phường 8, quận 3) mà tôi và ông Nguyễn Văn Hải là đồng sở hữu, đồng thời bắt tôi cam kết không được trả lời phỏng vấn hoặc nói chuyện với bạn bè khi họ hỏi thăm chuyện bị giam giữ, sức khỏe của ông Hải hay chuyện cuộc sống của mẹ con tôi. Quá ngạc nhiên vì những điều vô lý mà Công an đưa ra, tôi có hỏi lại họ rằng: “Tài sản của tôi, tôi có quyền quyết định hay không? Chuyện của gia đình tôi, tôi có được kể hay không? Tôi làm như vậy thì có vi phạm pháp luật không? Nếu có thì vi phạm điều khoản nào trong pháp luật nhà nước?”. Tôi hỏi nhiều lần với những người thẩm vấn tôi hôm đó, cụ thể là: Nguyễn Văn Long, Nguyễn Minh Mẫn, Nguyễn Văn Hưng…. Nhưng thay vì trả lời cho tôi rõ thì Nguyễn Văn Long (Hoàng) còn lớn tiếng nạt nộ: “Sẽ kiếm chuyện ép bằng được con mẹ này, cho tù thêm 5 năm nữa. Sẽ có đủ người, đủ thời gian để làm việc với nó nhiều lần”, v.v…
Sự việc vẫn không dừng tại đó. Vào ngày 20/10/2010 vừa qua, khi thời hạn tù giam của ông Hải kết thúc, tôi thuê một chiếc xe để đi đón ông Hải tại trại giam Xuân Lộc vào lúc 5 giờ sáng. Khi tôi bắt đầu lên xe thì có một tốp khoảng 20 người gồm cả Công an mặc sắc phục và mặc thường phục xông ra chặn đầu xe không cho xe chạy rồi yêu cầu tôi phải về Công an làm việc. Bất bình vì những người này không đưa ra được bất cứ lý do gì chính đáng biện minh cho hành vi cản trở quyền tự do đi lại của tôi nên tôi nói rõ cho họ biết rằng “Bây giờ mới 5 giờ sáng, không một cơ quan nào làm việc vào giờ này, hơn nữa tôi không vi phạm pháp luật, không ai có quyền cản trở hay bắt giữ tôi”. Một Công an tên Bình hô to: “Tôi đại diện cho pháp luật, đại diện cho tám mươi mấy triệu dân yêu cầu chị về Công an làm việc”. Tức cười cho kiểu “đại diện” ngô nghê, tôi quay trở lên nhà thì một số người mặc thường phục ra lệnh cho khoảng 8 người vừa Công an vừa dân phòng của phường 6 quận 3 chạy theo lôi kéo, bẻ quặt tay chân tôi quăng vào xe. Bất bình, đau đớn, tôi la lên thì lập tức những cùi chỏ thúc mạnh vào họng, vào ngực, thậm chí họ còn đánh đập, dùng sức nặng của họ đè cả lên người tôi khi ở trong xe Công an.
Tại Công an phường 6, từ sáng đến gần trưa Công an liên tục yêu cầu tôi phải giao tư trang cá nhân cho họ. Tôi từ chối thì Nguyễn Văn Long ra lệnh cho thuộc cấp xông vào bẻ giật cánh khủy tay tôi ra sau treo lên cho những tên khác thò tay vào lục soát trong người tôi lấy hết tư trang gồm tiền và điện thoại di động cá nhân (V9) mà không có lệnh khám xét, không lập biên bản khám xét cũng như thu giữ tài sản của tôi. Khi bọn chúng giở trò hành xử côn đồ với tôi, thì Nguyễn Minh Mẫn lấy điện thoại di động của Mẫn ra quay phim lại.
Trong khi tôi đang bị khống chế, bắt giữ trái phép tại Công an phường 6 quận 3, thì tại nhà tôi Công an cử nhiều người ngồi chặn hết các cửa ra vào không cho các con tôi được ra khỏi nhà đi học (ngày đó con gái tôi phải thi học kỳ 3 môn).
Đầu giờ chiều ngày 20/10/2010, từ Công an phường 6 lại diễn ra màn trấn áp tiếp theo áp giải tôi về nhà để bắt đầu một cuộc “càn quét” vô cùng khủng khiếp. Các con tôi từ sáng đã bị giam giữ trong nhà đến lúc này bắt đầu hoảng loạn, la khóc khi Công an đập phá khóa cửa để vào nhà. Không phá được khóa, bọn họ đập cửa kính, mảnh kính bắn tứ tung vào người mẹ con tôi khiến ai cũng bị đứt da chảy máu.
Khi phá được cửa họ lại “ào ào như sôi” tràn vào nhà lục xét mọi xó xỉnh, ngóc ngách, tìm kiếm, bươi moi. Tôi yêu cầu cho tôi biết lý do khám xét thì người mặc sắc phục đeo bảng tên Đại tá Trần Văn Cống mới đọc cho tôi nghe tờ giấy gọi là “lệnh khám xét nơi ở của ông Nguyễn Văn Hải” và ông Trần Văn Cống là người được ủy quyền chủ trì thi hành lệnh. Tôi phản đối lệnh khám xét trái pháp luật này vì nơi đây từ nhiều năm nay là nhà riêng của tôi, không phải “nơi ở của Nguyễn Văn Hải”, nhưng đã 2 lần họ viện lý do khám xét “nơi ở của Nguyễn Văn Hải” để khám xét nhà riêng của tôi. Đã 3 năm qua, ông Hải không qua đây thăm con vì bị giam giữ tại các trại giam của Công an, nên muốn khám xét các người phải đến trại giam mới đúng. Ông Cống nói: “Chúng tôi biết hết, biết tất cả, nhưng đây là lệnh chúng tôi phải thi hành”. Khi rút đi họ mang theo của con tôi 2 bộ máy vi tính để bàn, 1 máy tính xách tay, một số thiết bị nghe nhạc và một số đĩa ghi hình ảnh kỷ niệm gia đình.
Ngày 28/10/2010, Cơ quan ANĐT CATPHCM triệu tập con tôi là Nguyễn Trí Dũng đến trụ sở (số 4 Phan Đăng Lưu) để kiểm tra đồ vật thu giữ. 3 giờ chiều cùng ngày, biên bản được lập với nội dung ghi rõ: “không tìm thấy tài liệu liên quan” nhưng đến hôm nay (02/12/2010) tài sản cá nhân và phương tiện học tập của các con tôi vẫn không được Công an trả lại.
Thưa các ông!
Những điều tôi tóm tắt sơ lược trên đây chỉ là một số trong vô số các hành vi mà chính quyền và CA TPHCM đã hành xử bất công, thô bạo, vô đạo đức và coi thường pháp luật đối với bản thân tôi, với ông Nguyễn Văn Hải và các con của chúng tôi.
- Bất công là cột buộc cho chúng tôi tội chúng tôi không vi phạm rồi phạt tù, phạt tiền, công khai cướp tài sản (căn hộ số 9/3, chung cư 17 Nguyễn Thái Học, phường Cầu Ông Lãnh, quận 1) khi chúng tôi đang mua bán bằng giấy tay mà chưa kịp chuyển quyền sử dụng. Khi được hỏi về việc này, đại tá Trần Tiến Tùng có trả lời: “Ai bảo mua bán trái pháp luật”. Xin thưa, việc mua bán nhà giấy tay dù chứa đựng nhiều rủi ro cho người mua nhưng không có nghĩa là nhà nước cấm vì nó diễn ra công khai với đa phần nhà hóa giá.
- Vô đạo đức là hành xử dã man, đe dọa trực tiếp đến tính mạng của tôi, của ông Nguyễn Văn Hải và các con tôi. Con tôi đã 2 lần bị chận đánh ngoài đường, gây thương tích (có người chứng kiến). Bản thân tôi cũng bị chận đánh nhiều lần. Ông Nguyễn Văn Hải từng “được” Trung tá Hoàng Trọng Dũng (An ninh CA TPHCM) nghênh ngang tuyên bố: “Đánh để bác sĩ nhìn không ra, luật sư tìm không thấy, đánh cho mất khả năng đàn ông, chích cho lây nhiễm AIDS, làm cho suy kiệt mà chết”. Nhà tôi từng bị cột cửa bên ngoài nhiều lần vào các ngày 8/3/2010, 11/3/2010, 13/3/2010 và 22/10/2010 khi các con tôi đang ở bên trong. (Ngày 13/3/2010 tôi có lên CAP8 quận 3 trình báo sự việc 4 lần nhưng CAP8 quận 3 không xuống xem xét và giải quyết).
Trong cuộc sống, gia đình tôi không gây thù chuốc oán, chính quyền địa phương chưa một lần phải xử lý về vấn đề gì, thì tại sao giờ này bản thân ông Hải, tôi (Dương Thị Tân, người luôn được Cơ quan Công an nói rằng “không có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến ông Hải”) và các con của chúng tôi luôn bị đe dọa đến mạng sống, các con tôi còn bị tước đi quyền được đi học, thi cử một cách tùy tiện, trái pháp luật (cả 2 cháu đều bị nhiều lần). Điều đáng nói là những việc làm vô nhân đó lại được một bộ phận người khi hành động luôn luôn nhấn mạnh rõ ràng: “Chúng tôi là CAND đang làm nhiệm vụ theo lệnh của cấp trên”, luôn luôn tự nhận họ “đại diện cho luật pháp”, “đại diện cho nhân dân”. Họ hành động và hò hét như thể họ được “miễn dịch” với luật pháp, hay họ là một thế lực được luật pháp bảo kê. Tất cả những việc xảy ra đó được một số cán bộ Công an lý giải một cách đơn giản khi tôi hỏi họ tại sao, họ trả lời: “Tại vì ông Hải. Tại vì ông Hải không biết lượng sức mình, tại vì ông Hải dám nói đến biển đảo, đất liền bị mất trong khi nhà nước chưa nói”, v.v… Tất cả cán bộ Công an mà tôi đã từng tiếp xúc không một người nào không nói như vậy (tôi còn nhớ rõ từng người).
Thưa các ông!
Vậy thì đã rõ. Một người như ông Nguyễn Văn Hải đã vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì sự toàn vẹn lãnh thổ, lãnh hải, đã hy sinh một phần tuổi trẻ cho đất nước mà chưa một lần đòi hỏi, kể công. Một người có lương tri biết đau trước nỗi đau Tổ quốc bị xâm chiếm, trước quốc nạn tham nhũng mà nói lên tiếng nói của chính nghĩa thì không có lý do gì để phải bị cầm tù và bị đối xử tàn nhẫn bởi chính cái đất nước mà ông Nguyễn Văn Hải đã ra sức bảo vệ. Gia đình và người thân ông Hải cũng không có lý do gì phải chịu sự trả thù của một bộ phận người luôn lấy sức mạnh của chính quyền để khủng bố, đe dọa người dân lương thiện, luôn nhân danh công lý để che đậy sự nhỏ nhen hèn nhát của lương tâm mình.
Thưa các ông!
Thư này gửi tới các ông với yêu cầu chính đáng trả lại tài sản cho gia đình tôi để các con tôi có phương tiện học tập, yêu cầu chấm dứt mọi sự đe dọa, khủng bố tinh thần đối với gia đình tôi. Đồng thời không đối xử thô bạo với ông Nguyễn Văn Hải hiện đang bị Công an giam giữ, vì cho đến thời điểm hiện tại (02/12/2010) gia đình tôi vẫn không được biết ông Hải đang bị giam ở đâu và không được gởi quà thăm nuôi. Cán bộ tiếp dân chỉ giải thích là “theo yêu cầu của Cơ quan điều tra không cho gởi đồ thăm nuôi” là một hình thức khủng bố tinh thần, làm suy kiệt sức khỏe ông Hải, trái với Nghị định 98/2002/NĐ-CP ngày 27/11/2002 của Chính phủ (khoản 1 Điều 26 của Quy chế về tạm giữ, tạm giam).
Với tinh thần cầu thị, mong rằng mọi yêu cầu của tôi không rơi vào im lặng, và luật pháp cần phải được tôn trọng để những người dân thấp cổ bé miệng như chúng tôi hiểu đúng về cụm từ “Tự do – Hạnh phúc” trong một đất nước có pháp quyền.
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 02/12/2010
Nay kính thư!
(đã ký)
Dương Thị Tân
Sự việc, nghĩ cho cùng, chả qua chỉ là thời vận. Ông Lữ Phương may mắn vì chống Mỹ đúng nơi và đúng lúc. Cái lúc mà nửa phần đất nước vẫn còn có kỷ cương và hiến pháp. Cái hiến pháp của chế độ Đệ Nhị Cộng Hoà của miền Nam Việt Nam, tuy có vẻ ọp ẹp và yếu ớt, vẫn là đồ thật (chớ) không phải đồ sơn. Nó đã bảo vệ thân nhân, gia đình và vợ con của ông Lữ Phương thoát khỏi những đòn thù ti tiện, bẩn thỉu và hạ cấp của những kẻ tiểu nhân – nếu có – vào thời điểm đó!
Ông Điếu Cầy, tiếc thay, không được sự may mắn tương tự. Ông chống Tầu không đúng nơi và cũng chả đúng thời. Cái nơi mà ông vẫn ngỡ là quê hương xứ sở của mình thật ra đang bị âm mưu bán đứng, và cái thời của ông – như chúng tôi đã có dịp đề cập trong một bài viết trước – là Thời đại Bất Nhân, hay còn gọi một cách bỗ bã hơn, theo cách nói của những blogger ở Việt Nam, là Thời Đồ Đểu hay Thời Thổ Tả!
Tưởng Năng Tiến
12/2010
Tham & Ngu
Tôi nghe nhà văn Nguyễn Khải kể chuyện làng quê ở nước mình mà thấy bất an, và bứt rứt:
“Trong mấy ngày xuống xã vừa vui vừa buồn. Ai cũng giàu có hơn trước, nấu cơm bằng nồi cơm điện, tối xem tivi mầu, giờ rảnh thì xem phim bộ. Mỗi xóm đều có cửa hàng cho thuê băng vidéo, có gái điếm cho ngủ chịu đến mùa trả bằng thóc, có cờ bạc, có hút thuốc phiện và chích heroin, thành phố có gì ở làng quê đều có, cả hay lẫn dở, dở nhiều hơn hay.
Tôi về một xã, xã cho tôi ở nhà một anh bưu tá, lúc rảnh rỗi hỏi chuyện gì anh cũng bảo không biết. Ở xã ba ngày, đảng uỷ, uỷ ban không ai tiếp cả. Có một buổi tối có một anh chàng to béo đến chơi với gia đình, cả vợ lẫn chồng nhà chủ ăn nói thưa gửi, bộ điệu khúm núm. Anh ta ngồi ưỡn người trên ghế tựa, hai chân xoạc rộng, hai bàn tay đặt lên bụng, nói hỏi trống không, thỉnh thoảng đưa mắt nhìn tôi nhưng không hỏi gì, chào cũng không, mắt nhìn cứ lừ lừ, mà hắn chỉ đáng tuổi con tuổi cháu. Tôi cứ nghĩ tay này hẳn là dân buôn bán ở tỉnh có họ hàng gì với anh chủ nhà, tạt qua chốc lác rồi đi. Nhưng anh bưu tá lại bảo đó là ông chủ tịch xã...”
Hình ảnh của ông chủ tịch xã, bây giờ, quả là đáng … ngại: ”ngồi ưỡn người trên ghế tựa, hai chân xoạc rộng, hai bàn tay đặt lên bụng, nói hỏi trống không… mắt nhìn cứ lừ lừ.” Dân làng “ăn nói thưa gửi, bộ điệu khúm núm” là phải cách. Tránh voi chả xấu mặt nào.
Đến cỡ chủ tịch huyện thì uy quyền chắc hết biết luôn. Nhân vật này hẳn phải như một vị lãnh chúa, trong lãnh địa của mình, vào thời phong kiến.
Chuyện kể của ông Nguyễn Khải giúp cho người ta hiểu tại sao tại sao những vụ cưỡng chế đất đai là chuyện vẫn thường ngày xẩy ra ở huyện, và tại sao sự kêu than của hằng triệu lương dân đã không vang đến tận Cửu Trùng. Mãi cho đến khi có tiếng súng hoa cải của nông dân Đoàn Văn Vươn phát nổ thì Thiên Tử mới … từ từ vào cuộc. Thì cũng ghé mắt ngó qua chút xíu, nói láp giáp đôi điều ba chuyện – cho có nói, và cho phải chuyện – vậy mà.
Cái Thông Cáo Báo Chí của UBND Hải Phòng là minh chứng rõ ràng cho vụ việc này – theo như nhận định của ông Trần Minh Thảo: “ TCBC của Hải Phòng chứng tỏ Hải Phòng có đảng tính cao, vững vàng: dân sai, đảng đúng (tớ sai, chủ đúng).”
Nói rõ ra – và nói theo cách bình dân, cho dễ hiểu hơn – vẫn theo lời của Trần Minh Thảo:
“’đất của vua, chùa của Phật’. Thực nghĩa của thành ngữ ấy phải được hiểu: chùa hay Phật cũng là của vua vì đất là của vua rồi. Nâng ‘đất’ thành ‘lãnh thổ’ thì quả thật trời, đất, rừng, biển, thánh, thần, Phật, Chúa, người dân, trường học, bệnh viện, cầu đường… trên đất của vua là tài sản của vua và tập đoàn cai trị (chẳng hạn chế độ quân chủ Nho trị ở Á đông ngày trước). Đảng cộng sản cai trị, lãnh đạo đất nước thì có gì trên lãnh thổ Việt nam không phải là của đảng? Người dân được học hành, chữa bệnh, đi lại, ăn ngủ… là được hưởng ân huệ của vua, của đảng. Người dân đòi quyền làm chủ đất đai (rộng ra là lãnh thổ), là làm đảo lộn chế độ sở hữu, tất yếu là phản động, chống đảng (chống vua)!”
Và tưởng cũng cần nói thêm chút xíu (nữa) rằng không chỉ “trường học, bệnh viện, cầu đường… trên đất của vua là tài sản của vua và tập đoàn cai trị” mà những gì nằm trong lòng đất cũng vậy luôn – kể cả sỏi đá lụn vụn – theo như bài tường thuật (“Quan Huyện – Xã Quyết Cưỡng Chế Hai Hòn Đá Của Dân”) của phóng viên Nguyễn Tâm, trên Phụ Nữ Today, số ra ngày 2 tháng 4 năm 2012:
“Chỉ vì 2 hòn đá người dân đào được cách đây 3 năm mà chính quyền huyện Chư Sê (Gia Lai) dẫn cả đoàn tới nhà dân để khống chế, ép thu hồi bằng được 2 hòn đá mà không hề giải thích rõ ràng. Việc làm này đã khiến hàng trăm người dân chứng kiến phẫn nộ, bất bình và kịch liệt phản đối.…
Vợ chồng ông Dũng kể lại: Gia đình ông có một lô đất rộng 7.000m2 gần nhà đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Cách đây 3 năm (2009), gia đình ông đào ao để lấy nước tưới cho cây tiêu đã trồng trên lô đất ấy. Trong khi đào ao, gia đình ông đã phát hiện 2 hòn đá có màu sắc đẹp. Ông gọi một số hộ dân thân cận ra xem xét rồi thuê xe kéo về để ở sân nhà.
Từ đó cho tới nay, 2 hòn đá vô tri vô giác có màu sắc khác thường ấy nằm chình ình trước sân chẳng ai hỏi một lời, kể cả chính quyền các cấp. Đùng một cái, sáng 29/3 (tức sau hơn 3 năm), vợ chồng ông đang ở nhà thì thấy các vị quan huyện dẫn theo đoàn vào nhà lập văn bản thu hồi.
Là người dân làm nông, ít am hiểu về luật pháp nhưng vợ chồng ông cũng không chấp nhận để cho chính quyền thu không như vậy được.
Trước tình hình trên, các vị quan xã được huyện triệu tập và đội quân an ninh của xã cũng được huy động để hỗ trợ nhằm mục đích cưỡng chế bằng được 2 hòn đá. Ông Bùi Sỹ Nguyên, Chánh văn phòng UBND huyện Chư Sê tiến hành lập biên bản với nội dung gia đình ông bà đã tàng trữ tài nguyên khoáng sản không rõ nguồn gốc và cho rằng đây là tài sản quốc gia nên phải thu hồi (?!).”
Ông Lê Đình Huấn, phó chủ tịch huyện Chư Sê, cho phóng viên báo chí biết thêm:” Hòn đá là tài sản quốc gia và cành cây, que củi, hạt cát… cũng là tài sản quốc gia.”
Về sự kiện này, blogger Đào Tuấn có đôi lời bàn (ngang) như sau:
“Dư luận lại nóng lên xung quanh một vụ cưỡng chế. Nhưng lần này, không phải là vụ cưỡng chế đầm như ở Tiên Lãng, hay cưỡng chế đất như ở Hà Nam, mà là cưỡng chế… đá. Vâng, đúng là đá, 100% là đá. Còn đó là đá gì trong hàng ngàn loại đá, quý thế nào, giá trị bao nhiêu thì ngay cả những người cưỡng chế cũng không biết...
Nhưng câu chuyện ở Chư Sê hoàn toàn không đơn giản chỉ là câu chuyện ‘hai hòn đá’, bởi nó chứa trong đó thái độ và cách thức ứng xử của chính quyền đối với dân. Một thái độ quá hách dịch, cậy quyền, quan liêu, một thứ quan liêu bất biết’, vô tri và ‘Chí Phèo’. Một cách thức ứng xử lạm quyền và ưa vũ lực, bất chấp trình tự hành chính tối thiểu của một cuộc cưỡng chế là một tờ quyết định.”
Ôi, tưởng gì chớ “một tờ quyết định” thì dễ ợt. Cùng ngày mà UBND huyện Chư Sê thực hiện việc cưỡng chế hai hòn đá tại sân nhà ông Lê Hồng Dũng thì ở huyện Tam Kỳ, ông Huỳnh Ngọc Tuấn (và hai con Huỳnh Thục Vy và Huỳnh Trọng Hiếu) đều nhận được quyết định cưỡng chế từ UBND tỉnh Quảng Nam “xử phạt vi phạm hành chính trong lãnh vực công nghệ thông tin” với số tiền tổng cộng là 270 triệu đồng, và thời hạn phải nộp phạt là 10 ngày, kể từ ngày 29/3/2012.
Cưỡng chế đất thì cần đến xe ủi, cưỡng chế đá thì cần xe cẩu, còn cưỡng chế thu nhập, tài khoản ngân hàng hay tài sản thì rõ ràng là giản dị hơn – nếu người bị cưỡng chế có thu nhập, tài khoản, hay tài sản. Tuy nhiên, trong buổi nói chuyện với phóng viên Hoà Ái – RFA – vào hôm mùng 3 tháng 4 năm 2012, ông Huỳnh Ngọc Tuấn (buồn bã) cho biết:
“Về biện pháp thứ nhất là trừ tiền lương và chiết trừ tài khoản ngân hàng, thì ba bố con tôi không có lương cũng không có tài khoản ngân hàng. Cho nên biện pháp thứ nhất là không thể thực hiện được.
Còn biện pháp thứ hai là tịch biên một số tài sản tương đương 270 triệu thì ba cha con tôi cũng không có tài sản gì hết. Cái nhà tôi đang ở là cái nhà của cô em gái tôi là cô Huỳnh Thị Hường và của mẹ tôi là bà Mai Thị Yến. Còn tôi đi tù về, nhà cửa và cơ sở ba tôi đã bán hết cách đây mười mấy năm rồi để nuôi tôi trong tù và nuôi các cháu. Còn tôi chỉ về ở đây tạm thời thôi. Cho nên tôi không có nhà. Cho nên không biết tịch biên cái gì vì ba cha con tôi là vô sản, không có cái gì hết thì tịch biên làm sao?”
Gia đình ông Huỳnh Ngọc Tuấn. Nguồn ảnh: ĐCV
Sao tôi chán cái ông Tuấn này quá xá. Thiên hạ chỉ chơi cờ thôi mà tiền cá độ mỗi ván đã cả tỉ đồng, còn mua Tầu làm kiểng mà gía cũng hàng ngàn tỉ. Vậy mà cả ba cha con ông không có nổi vài trăm triệu để nộp phạt cho nhà nước là nghĩa làm răng? Nghèo vừa thôi, chứ nghèo như vậy thì làm sao mà sống được, cha nội?
Và như vậy thì kể như huề, chớ còn (mẹ) gì nữa? Làm sao UBND tỉnh Quảng Nam có thể cưỡng chế tài sản của những người dân vô sản (chân chính) như thế được?
Vụ cưỡng chế gia đình Huỳnh Ngọc Tuấn (đến đây) nghe đã có vẻ hài ước lắm rồi nhưng chưa giễu cợt bằng câu chuyện sau, qua lời của Cu Làng Cát:
“Nghe kể, quan huyện vốn tham lam sai quân nha đi khắp vùng vơ vét, từ đầm vùng đến cây cối, đá cảnh, nhà ai có chai lọ lạ cũng cưỡng chế bằng được về bỏ trong phủ chiêm ngưỡng. Cứ nghe đến cái gì lạ, huyện quan lại cho đi cưỡng chế, căn cứ đủ thứ có vẻ dỏng dạc để đưa hết về phủ, nói là tài sản quốc gia, nhưng không đưa cho con dân văn bản nào chứng minh. Cứ cưỡng chế, cưỡng chế, rồi về lấp khắp phủ, khiến huyện đường đông đúc các vật dụng cưỡng chế được từ thượng vàng đến hạ cám...
Ở huyện Lò này, cái quần con của chị Ả Mẹt, nghe mô có người quen bên Pháp tây tặng, dân đồn giá những ngàn quan pháp, đắt lắm, huyện quan cũng cho dân đến cưỡng chế với lý do phơi phóng không đúng nơi quy định. Cũng khổ, chị Ả Mẹt một hôm giặt giũ xong lại phơi nở nạp rào, huyện quan ngang qua thấy khéo quá mà cưỡng chế.
Có bữa, huyện quan đến làng Lòi, thấy gái nữ trong làng mặc đồ toàn hàng hiệu Guci, thấy khéo cũng tìm hiểu, té ra hàng nhập lậu, huyện quan đọc lệnh cưỡng chế thu hồi, làm chị em làng Lòi một phen nuy bất đắc dĩ...”
Cu Làng Cát (chắc) xạo, xạo chắc. Chớ giới quan lại cách mạng nổi tiếng gian tham và ngu dốt thiệt nhưng đâu có ngu và tham (dữ vậy) đúng không?
Tưởng Năng Tiến
4/2012
Chuyện Tù & Chuyện Đùa
Những trại cải tạo lao động mà tôi đã sống qua, hồi cuối thập niên 1970, đều không có điện. Mọi sinh hoạt, do vậy, được phân chia rõ rệt: từ lúc mặt trời mọc cho đến khi lặn là thời gian dành cho “công tác.” Giữa khoảng thời gian này, trại viên được “tùy nghi.”
Phải sống trong cảnh tối tăm mới thấy đêm dài, nhất là những đêm đông. Có đêm, tôi khều thằng bạn nằm bên – hỏi nhỏ:
- Theo mày thì lúc nào, hay nơi nào, được coi là hạnh phúc nhất trên đời này?
- Bắc Mỹ Thuận!
Nó đáp nhẹ nhàng, không một giây do dự. Tôi ngớ người ra một lát – và chỉ một lát thôi – rồi nhớ ngay đến sông Tiền Giang, với những đám lục bình lơ lửng trên dòng nước đẫm màu phù sa, đang cuồn cuộn trôi nhanh trong nắng chiều vàng rực, giữa bến bờ xanh um, xa tầm ngút mắt.
Trong lúc cả đoàn xe xếp hàng dài, chờ đến luợt xuống phà, hành khách tấp nập ra vào những quán ăn nằm san sát bên đường. Không khí thơm lừng mùi gà nuớng, tôm nướng, heo nướng, bò nướng, cá nướng, chuột nướng…Không gian rực rỡ màu sắc của đủ loại trái cây quen thuộc, của miền Nam: khóm, mận, ổi, nhãn, soài, măng cụt, sầu riêng, chôm chôm, cam, quýt …
Duới phà chen lẫn với hành khách là những em bé bán hàng rong: xôi vị, cốm dẹp, bánh bèo nước dừa, bánh tằm bì, chuối nướng, chè đậu, gỏi gà, cháo vịt, nem nướng, chả chiên, mía hấp, bì cuốn, bún mắm, chả giò, đậu phụng, cà rem, trà đá, ốc gạo hấp lá gừng, ốc leng xào dừa, chim mía rô ti…
Tôi nuốt nước miếng cùng với ý nghĩ rằng: thằng khốn nạn này … đang đói, và đói lắm. Nói tình ngay, vào thời điểm đó (những năm đầu sau ngày “giải phóng,” và gần cả hai thập niên sau nữa) cả nước đều đói cả – và đói lả – chứ chả riêng gì mấy đứa chúng tôi.
Thời đó, may quá, đã qua rồi. Cái đói, cũng như miếng ăn, không còn là điều ám ảnh thường trực đối với người dân Việt nữa. Bắc Mỹ Thuận cũng không còn hiện hữu. Cầu Mỹ Thuận, tân kỳ và tráng lệ, đã lạnh lùng đưa những chuyến “phà ngang” đi vào … lịch sử!
Hôm nay, ngồi đọc bài viết của nhà văn Phạm Đình Trọng (“Đi Thăm Cù Huy Hà Vũ”) qua trang Dân Luận – vào hôm 24 tháng 3 năm 2012 – mà (cảm động) muốn rơi nước mắt. Đất nước đã bước vào thời kỳ đổi mới. Sự đổi thay thấm dần vào đời sống của những người đang bị giam cầm. Cảnh thăm tù ở quê hương xa xôi giờ đây (sao) giản dị, dễ dàng, và …. sung túc quá:
“Chín giờ xe chúng tôi đã dừng trước trụ cổng cao có tấm biển nhỏ màu xanh với hai hàng chữ trắng: Trại giam số 5. Phân trại 3. Mặt đỏ ửng vì khấp khởi sắp được gặp người chồng thân yêu, Dương Hà cầm sổ thăm nuôi và tập giấy chứng minh của những người đi thăm nuôi bước vào khung cổng nhỏ trước vọng gác…”
“Tôi hỏi thầy Phạm Toàn: Anh đoán xem họ có cho ta được vào gặp Cù Huy Hà Vũ không? Thầy Phạm Toàn lại nheo mắt, lom lom nhìn vào mặt tôi, chờ tôi phải trả lời chính câu hỏi của tôi. Tôi đành nói: Theo em, họ chỉ giải quyết cho ta đươc một nửa mong muốn thôi, tức là chỉ có mẹ con Dương Hà được vào gặp chồng, gặp cha, còn em với anh thì đừng hi vọng. Quả đúng như vậy. Người mang phán quyết của chỉ huy trại phóng xe máy ra. Đồ thăm nuôi trong chiếc túi lớn hai người khiêng phải bày ra bàn cho ba viên công an xăm soi kiểm tra rồi lại xếp vào túi, đưa lên xe ba gác. Buồng giam có hai người. Đồ thăm nuôi Cù Huy Hà Vũ phải mang cho cả hai dùng trong một tháng…”
Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ. Ảnh: hoạ sĩ TTLan
Tôi trộm nghĩ (vì nói ra nghe hơi kỳ) rằng ở tù như vậy thì … sướng thiệt! Với “một xe ba gác thực phẩm thăm nuôi” thì tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ có thể sống ung dung đến nửa năm, chứ không phải là cả tháng.
Tuy nhiên, chỉ vài hôm sau – hôm 27 tháng 3 năm 2012 – cũng trên trang Dân Luận, tôi lại đọc được “Thông Báo Tình Hình Án Phạt Của Tiến Sĩ Cù Huy Hà Vũ” do phu nhân của ông nhờ nhiều cơ quan truyền thông phổ biến, như sau:
“Kính gửi Quý Báo,
Tối hôm qua, 26/3/2012, gia đình tôi nhận được một phong bì thư, có dấu ngày 23/3/2012 của bưu điện Thống Nhất (nơi Tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ đang bị biệt giam), không đề tên người hoặc cơ quan gửi. Bên trong phong bì là Thông báo tình hình chấp hành án phạt tù của Ts Cù Huy Hà Vũ ghi ngày 30/01/2012. Kính nhờ Quý Báo cho đăng để những ai quan tâm đến Ts Cù Huy Hà Vũ được rõ.
Xin trân trọng cảm ơn Quý Báo.
Nguyễn Thị Dương Hà”
Cứ theo như “thông báo” này thì người bị giam “được đánh giá là cải tạo kém” nên “trại giam số 5 thông báo để ông/bà và gia đình biết và đề nghị tiếp tục quan tâm phối hợp động viên, giáo dục anh Cù Huy Hà Vũ học tập rèn luyện tiến bộ.”
Trong một cuộc nói chuyện với BBC, vào ngày 28 tháng 3 năm 2012, bà Nguyễn Thị Dương Hà nói giấy thông báo trên giống như một “trò đùa.” Chồng con người ta bị giam cầm mà “đùa” như thế e hơi thiếu phần … tế nhị. Tuy nhiên, tôi (lại) trộm nghĩ thêm rằng tinh thần hài hước của những người điều hành trại giam hiện nay dù sao cũng có cái hay, nó giúp cho thân nhân người tù được thư giãn phần nào – nếu so với không khí căng thẳng, và thù hận, của những trại giam ở Việt Nam, mấy mươi năm trước.
Hãy nghe một người tù nổi tiếng hồi thập niên 60, ông Nguyễn Hữu Đang, nói qua (chút đỉnh) về nội qui trại giam của mình:
“Án bao nhiêu năm chẳng quan trọng, chẳng đáng kể. Không một mối liên hệ với bên ngoài, không thư từ, không thăm nom, không tiền hay quà hay lương thực gửi tới – không, anh không nhận được chút gì của bạn bè hay gia đình. Anh không có quyền nhận thăm nom, không tiếp xúc với bên ngoài.Anh chỉ sống chuyên giữa các anh với nhau, những người tù, những tù nhân chính trị. Thế giới của anh, nhân loại đối với anh là 200 người tù – không có những người đồng tổ quốc, đồng công dân; với anh, không có gì hết, chỉ có 200 người đồng ngục cùng một số phận…“
Và đây là lời của một người tù nổi tiếng (không kém) khác, cũng bị bắt giam vào năm 1959, ông Kiều Duy Vĩnh:
“Mẹ tôi đến Bộ Công An ở phố Trần Bình Trọng hỏi về anh con bị tù. Gác cửa không cho vào. Nhưng từ nhà tôi ở chợ Hôm ra hồ Thiền Quang chưa đến 1 km nên hầu như liên tục khi nào mẹ tôi đi đâu là mẹ tôi lại tạt vào Bộ Công An quấy rầy họ. Đến nỗi người thường trực cứ trông thấy mẹ tôi là tránh mặt không tiếp.
Mẹ tôi cứ đến hỏi. Hỏi mãi. Riết rồi họ phải trả lời. Nhưng cũng mất hơn 3 năm họ mới cho mẹ tôi cái địa chỉ trại tù Cổng Trời: Công Trường 75A Hà Nội. Mẹ tôi lại hỏi tiếp: Thế cái công trường này nó ở chỗ nào ở cái đất Hà Nội này? Họ bảo họ không biết…”
Nói tóm lại, vẫn theo lời ông Nguyễn Hữu Đang:
“Trại này có truyền thuyết là ‘vào thì không ra’, đến đây là phải bỏ xác chớ không hy vọng gì để trở về với gia đình. Trại Cổng Trời là một lò sát sinh đầy bí mật, tàn bạo và khoa học của Hà Nội. Trại này đã bí mật chôn vùi 300 anh em tù biệt kích miền Nam và hàng ngàn tù chính trị, tu sĩ và linh mục Công giáo cũng như giới trí thức chống chủ nghĩa CS của chính miền Bắc.”
Đến thập niên 70 thì tình trạng ở trại giam ở Việt Nam đã được cải thiện đáng kể, tử tế hơn thấy rõ. Thân nhân người tù được cho biết nơi giam giữ và được cho phép vào thăm nom, và chuyện trò qua sự giám sát của cán bộ quản giáo – theo lời của người tù Bùi Ngọc Tấn:
“Hắn bước lên bậc cấp. Người đầu tiên hắn nhìn thấy là ông Thanh Vân. Vợ hắn và Bình ngồi ở phía cuối chiếc bàn hình chữ nhật to dài. Ông Thanh Vân ngồi đầu này.
- Báo cáo ông, tôi có mặt.
Ông Thanh Vân chỉ tay vào một cái ghế ở giữa:
- Anh ngồi xuống. Trại giải quyết cho anh được gặp chị ấy, nhưng anh không được nhận đồ tiếp tế.
Lại thế nữa. Nhưng thôi. Không đề nghị, không van xin. Đồ tiếp tế là những thứ cứu sống mình nhưng cũng không là gì cả. Điều quan trọng là được gặp vợ, hai vợ chồng đôí thoại. Được nhìn nhau. Được nhìn Bình, người bạn không bao giờ bỏ hắn.
Những câu đối thoại không biết bắt đầu từ đâu, luôn bị ám ảnh bởi sợ hết giờ. Những câu đối thoại có sự hiện diện của ông quản giáo, chỉ là những điều dối trá. Thì thôi, hãy nói cho nhau nghe những điều dối trá. Chúng ta đã học cách nghe những lời dối trá để qua đấy biết được sự thật. Ông Thanh Vân đã lại lúi húi vào quyển sách giáo khoa. Lần này là quyển Vật lý lớp 10. Ông là một người vừa thâm canh, vừa quảng canh trí tuệ.
Vợ hắn lên tiếng trước:
- Anh có khoẻ không?
Hắn nhìn vợ. Nhìn thẳng vào mắt vợ. Vợ hắn cũng nhìn vào mắt hắn. Hai người nhìn nhau. Họ đọc trong mắt nhau tình yêu thương, nỗi khổ cực, sự đau đớn, niềm tin, sự phẫn uất, nỗi tuyệt vọng, lòng xót thương không bờ bến, sự khao khát bên nhau và nỗi hận không làm được cả vũ trụ nổ tung lên…
Hắn thở dài.
Hắn không muốn thở dài trước những ông quản giáo, vì hắn cho rằng tiếng thở dài của người tù sẽ đem lại niềm vui cho họ. Hắn không muốn tỏ ra mềm yếu trước mặt người khác. Nhưng lúc này tiếng thở dài là cái van xả xúp-páp an toàn. Nếu không người hắn sẽ nổ tung lên mất. Cả người hắn như một quả núi lửa, nghẹn ngào…
Ngọc giàn giụa nước mắt, những dòng nước mắt lặng lẽ. Hắn nhìn vợ không bằng lòng. Cái nhìn ấy muốn nói: Đừng khóc em. Có ai thương chúng mình đâu. Những giọt nước mắt của em anh không trả được.
Ông Thanh Vân rời quyển sách Vật lý lớp 10, đứng lên:
- Thôi. Hết giờ gặp. Anh Tuấn chuẩn bị về trại…”
( Bùi Ngọc Tấn. Chuyện Kể Năm 2000, tập I. CLB Tuổi Xanh, Hoa Kỳ: 2000, 31- 34).
Qua đến thế kỷ đầu thập niên thứ hai (của thế kỷ 21) thì người tù được thăm viếng, truyện trò, và nhận quà thoải mái – theo như ghi nhận của nhà văn Phạm Đình Trọng, qua bài viết thượng dẫn:
“Đồ thăm nuôi trong chiếc túi lớn hai người khiêng phải bày ra bàn cho ba viên công an xăm soi kiểm tra rồi lại xếp vào túi, đưa lên xe ba gác. Buồng giam có hai người. Đồ thăm nuôi Cù Huy Hà Vũ phải mang cho cả hai dùng trong một tháng…”
Hệ thống nhà tù của nước CHXHCNVN, rõ ràng, mỗi ngày một bớt phần… man rợ. Hay nói một cách lạc quan hơn, và tích cực hơn, là mỗi lúc một thêm văn minh và tiến bộ. Tuy thế, phu nhân của tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ (bà Nguyễn Thị Dương Hà) xem chừng vẫn còn hơi thất vọng về cung cách làm việc “như đùa” của ban điều hành Trại Giam Số 5 – ở Thanh Hoá.
Tôi e rằng bà Nguyễn Thị Dương Hà đã có những kỳ vọng (hơi) cao quá. Việt Nam (chả may) là một quốc gia tụt hậu, và đang bị nhân loại bỏ lại phía sau – như bỏ rơi một đôi dép rách. Trong hoàn cảnh đó, ở những nơi giam cầm tối tăm mà tiến sĩ Cù Huy Hà Vũ vẫn còn nguyên vẹn chân tay (tưởng) đã là … may mắn lắm rồi!
Đã thế, họ còn chịu khó gửi “thông báo về tình hình chấp hành án phạt tù” của người bị giam cho thân nhân nữa. Theo tôi, bà Dương Hà nên coi đây lấy một dấu hiệu đáng mừng. Đây là một chuyện đùa (cho vui) chỉ có thể xẩy ra trong giai đoạn đất nước đã bước vào thời đổi mới.
Tưởng Năng Tiến
4/2012
Chiên & Rán
Vợ tui người miền Nam, quê quán ở tuốt luốt dưới Gò Quao hay Tắc Cậu gì đó. Hồi mới cưới, khi tui còn nhan sắc, nàng mê tui gần chết nên lúc nào cũng hớn hở và vui … như Tết – dù phải sống (chung) với mẹ chồng!
Có bữa, má tui phán ngang “sao tao thèm ăn cá rán quá” hà. Bà già vừa dứt câu là nàng dâu le te xách giỏ chạy ra chợ cấp kỳ. Mấy tiếng đồng hồ sau, nàng thất thểu quay về. Mặt xụi lơ:
“Em đi hỏi tùm lum khắp nơi mà không đâu có ‘cá rán’ hết trơn. Chợ nào cũng chỉ bầy bán cá chim, cá chuồn, cá chép, cá lóc, cá lạt, cá lìm kìm, cá lòng tong, cá mú, cá hú, cá măng, cá cơm, cá cam, cá cờ, cá trê, cá trích, cá trẻm, cá heo, cá hương, cá hố, cá lù đù, cá lìm kìm, cá lia thia, cá dứa, cá đổng, cá đối, cá đèn cầy, cá bè, cá bẹ, cá bống – bống kèo, bống dừa và bống đá – thôi hà. Tội nghiệp má quá anh à!”
Tui cười ngất:
“Trời đất quỉ thần thiên địa ơi, bà già thèm ăn cá chiên đó cưng à. Cá chiên dầm nước mắm là món ruột của bả mà, chớ làm khỉ gì có con cá nào tên là “cá rán.”
Má tui qua đời đã lâu, tình cảm vợ tui dành cho chồng – tất nhiên – cũng qua lâu không kém, đã xa như … dĩ vãng. Bữa rồi, tui cũng làm bộ phán (đại) một câu, coi thử tình đời bạc bẽo (và lạt lẽo) tới cỡ nào cho biết:
- Tự nhiên sao anh thèm nhậu với cá rán quá, mình ơi.
- Sao mà cứ thèm nhậu hoài vậy, cha nội? Hồi đêm mới xỉn gần chết, ói mửa tùm lum, bắt người ta dọn thấy bà luôn mà …
Nói vậy nghe chắc cũng hơi có vẻ phũ phàng – đối với một thằng chồng già đã hết thời, chán đời, và nát rượu – nên ngập ngừng (chút xíu) rồi con mẻ xuống giọng:
- Thích thì ra chợ mà mua, cá chiên free mà.
Mua thì mua. Tui chạy xe ra chợ, xăm xăm tới quầy bán cá nhưng (chả may) gặp lúc đang có chuyện lùm xùm:
- Ý, mèng đéc ơi, sao không thay dầu đi mấy cha? Cứ để chiên hoài vậy cá hôi rình à, ai mà ăn được?
- Hôi đâu mà hôi, dầu mới thay mà cái bà này nói lạ chưa?
- Không dám mới đâu, nghe cái mùi là biết “quá đát” lâu rồi, khét lẹt à. Dầu chiên cá chừng vài ba bữa là phải thay chớ. Tui kêu sở y tế kiểm tra nó phạt cho sặc máu ráng chịu à nha.
Chuyện um xùm tới đây, tất nhiên, phải chấm dứt liền. Làm chợ hay làm nhà hàng (ở Mỹ) mà nghe tới sở y tế hay sở vệ sinh gì đó là chủ nhân lật đật chạy tới tức thì, và xin lỗi rối rít.
Rồi ngay sau đó, một tờ giấy nhỏ – nguyệch ngoạc mấy chữ – được dán ngay trước quầy : “XIN LỖI QÚI KHÁCH CHÚNG TÔI PHẢI TẠM NGƯNG RÁN CÁ ĐỂ THAY DẦU MỚI”.
Người viết, xem chừng, không phải dân miền Nam. Thành ngữ “mèo mù vớ mỡ rán” (chắc chắn) phải có xuất xứ từ miền Bắc. Cũng từ miền đất này, trong vòng gần ba thập niên vừa qua – nhất là từ Đảng và Nhà Nước đã “dũng cảm” và “quyết tâm” đổi mới – người ta hay nói đến chuyện “lấy mỡ nó rán nó.”
Người tiên phong trong “chiến thuật” này, có lẽ, là đạo diễn Trần Văn Thuỷ. Phim (Chuyện Tử Tế) do ông làm đạo diễn, mở đầu bằng câu: ”Tất nhiên, chỉ có loài súc vật mới có thể quay lưng lại nỗi đau khổ của con người, mà chăm lo riêng cho bộ da của mình,” và được chú thích rằng đó là lời của của Karl Marx.
Chuyện Tử Tế được sản xuất năm 1985, hai năm sau mới được phép công chiếu. Hai năm sau nữa thì chủ nghĩa Marx (bỗng) chuyển sang từ trần. Từ đó, dường như, không còn ai dùng mỡ Marx để chiên/rán gì nữa ráo.
Loay hoay một thời gian, thiên hạ xoay ra hay dùng … mỡ Bác. Trong cuốn Nhật Ký Rồng Rắn (mỏng tang) của cố trung tướng Trần Độ, ông Hồ Chí Minh được trích dẫn đến sáu bẩy lần. Dù vậy, tác phẩm vẫn bị cấm lưu hành ở Việt Nam và bản thân tác giả vẫn bị bôi bẩn – ngay cả sau khi ông đã từ giã cõi đời!
Gần hơn, trong một bài viết của nhà báo Tống Văn Công (“Góp Ý Với Đại Hội XI Đảng Cộng Sản Việt Nam“) tác giả đã cẩn thận trích dẫn cụ Hồ cả chục lần. Dù vậy, ông vẫn bị báo Quân Đội Nhân Dân phê phán là có “mưu đồ thâm hiểm … diễn biến hoà bình.”
Gần hơn nữa là “Thư Cảm Ơn Đồng Bào Trước Ngày Xử Phúc Thẩm Của Tiến Sĩ Luật Cù Huy Hà Vũ,” trên diễn đàn Dân Làm Báo, với câu kết như sau:
“Tinh thần Chủ tịch Hồ Chí Minh sống mãi trong sự nghiệp của những người đấu tranh cho tự do, dân chủ ở Việt Nam!”
Bức thư đã gây một cuộc tranh cãi um xùm với 219 phản hồi. Phần lớn đều tỏ thái độ ngỡ ngàng (hay thất vọng) vì sự xuất hiện đột ngột của “tinh thần chủ tịch Hồ Chí Minh” ở một nơi mà họ ít ngờ đến nhất.
Chiến thuật “lấy mỡ nó rán nó,”qua bức thượng dẫn, không mang lại kết quả mong muốn trong việc tranh thủ cảm tình của công luận, và cũng không thay đổi được gì bản án trong phiên toà chung thẩm. Mỡ Bác, rõ ràng, đã quá “date” rồi, theo như nhận định của nhà văn Phạm Đình Trọng:
“Hồ Chí Minh có những phẩm chất đáng quí của thời nghèo khổ thắt lưng buộc bụng đánh giặc. Chiếc chiếu cói trải giường ngủ của Hồ Chí Minh trên nhà sàn đã cũ rách nhưng Hồ Chí Minh không cho thay. Nó mới rách một chỗ mà bỏ cả chiếc chiếu thì phí quá! Nói vậy và Hồ Chí Minh lấy kim chỉ tự khâu chỗ rách lại! Nhưng ngày nay ngân sách nhà nước vừa phải đổ ra hàng ngàn tỉ đồng để kích cầu, kích thích tiêu dùng để phát triển sản xuất. Cái chiếu cói cũng như mọi hàng hóa khác đều có giới hạn sử dụng. Giới hạn sử dụng ấy được ngôn ngữ quốc tế hóa là “đát”. Hết đát thì phải bỏ, thay cái khác. Hàng hóa có tiêu thụ được, sản xuất mới phát triển. Một thí dụ để thấy một phẩm chất rất đáng quí của Hồ Chí Minh ngày nào nay cũng không thể ‘học tập’ được nữa!”
“Nhân vật lịch sử dù vĩ đại đến đâu cũng đều có đát. Hết đát, hết thời đại của mình thì lui về quá vãng, lui về thời của mình để thời đại khác xuất hiện, để nhân vật lịch sử khác thay thế. Ồn ào lôi nhân vật lịch sử từ quá vãng ra hiện tại là việc làm trái tự nhiên, trái qui luật, là phủ nhận hiện tại. Với công tác tư tưởng, đó là sự yếu kém, không biết làm việc, đành lôi bài bản cũ ra xào xáo lại!”
Không “xào xáo lại” thức ăn cũ, hay không dùng thực phẩm quá hạn – nói nào ngay – là tiêu chuẩn sống của con nhà khá giả. Cái gì quá đát là bỏ vô thùng rác.
Khi nghèo khó, đôi khi, người ta phải sống theo kiểu khác. Đồ quá đát vẫn cứ dùng đại, và thường thì vẫn còn dùng được, chả chết ai đâu. Đồ dởm mới thực là nguy hại. Ngày 5 tháng 1 năm 2012, vnexpress đi tin:
“Dầu lạc giả gây vô sinh xuất hiện nhiều ở Trung Quốc. Chính quyền thành phố Đông Quan, tỉnh Quảng Đông mới đây đã tịch thu gần 600 chai dầu lạc giả... Đây không phải lần đầu tiên các cơ quan chức năng phát hiện dầu lạc giả tại Quảng Đông. Tháng 3 năm ngoái, cảnh sát tại thành phố Thiều Quan cũng phát hiện một cơ sở sản xuất dầu lạc giả trái phép bằng cách trộn dầu đậu tương, tinh dầu và chất tạo màu. Hơn 700 chai dầu giả đã bị tịch thu.”
Dầu ăn một khi đã được đóng gói, dán nhãn thì rất khó để phân biệt hàng thật giả vì chúng được dán nhãn của những thương hiệu nổi tiếng.”
Cùng thời điểm này, nhà xuất bản Tiếng Quê hương cũng cho phát hành cuốn Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc (*) của nhà phê bình văn học Thụy Khuê. Trong phần lời tựa bà cho biết:
“Trong quá trình làm việc, có những ngã rẽ bất ngờ: khảo sát về Phan Khôi, tôi thấy sau khi đi Pháp về, Phan Châu Trinh giao cho Phan Khôi nhiệm vụ viết lại lịch sử đời mình, từ đó, phải tìm hiểu về những ngày Phan Châu Trinh ở Pháp, dẫn đến mối tương quan giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, người tự nhận là lãnh tụ đầu tiên của phong trào Việt kiều Yêu Nước.”
“Tôi tìm đọc nguyên văn tiếng Pháp các bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc, mới thấy tác giả những bài viết này phải là người biết tiếng Pháp rất sâu và có văn tài; không thể là người mà Trần Dân Tiên mô tả trong cuốn hồi ký ‘Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch’. Vậy có một sự giả mạo lịch sử quan trọng cần phải tìm hiểu đến nguồn cội. Đó là lý do tại sao có phần biên khảo về Vấn đề Nguyễn Ái Quốc trong cuốn sách này.”
“Sự giả mạo lịch sử quan trọng” này, và công việc “tìm hiểu đến nguồn cội” của Thụy Khuê đã đưa đến lời khẳng định của tác giả, ở đầu chương 16, như sau:
“Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Và ông không hề ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Trong phạm vi khảo luận này … chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến1923. Thời gian này, ông tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh.”
Té ra: huyền thoại, và “nền móng tư tưởng Hồ Chí Minh” đều là đồ dởm. Tuy thế, nó vẫn được chăm chút, giữ gìn, thêm thắt và bồi đắp cẩn thận (không ngừng) mãi cho đến hôm nay, theo ghi nhận của Wikipedia:
“Tại Việt Nam, hình ảnh Hồ Chí Minh phổ biến khắp nơi như là một ‘tấm gương sáng ngời về đạo đức’, một ‘nhân cách cao thượng’, được coi là một ‘thần tượng.’ Những tác phẩm nói về Hồ Chí Minh thường ca ngợi những đức tính tốt đẹp của ông. Các cấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức, lối sống của Hồ Chí Minh.”
Thảo nào càng “học tập tư tưởng và làm theo tấm gương đạo đức, lối sống” của Bác thì toàn Đảng và toàn dân càng xa vào con đường lụn bại, không lối thoát.
Tưởng Năng Tiến
3/2012
(*) Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc, biên khảo của Thụy Khuê, sách dầy 976 trang, bìa cứng, Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2012, giá bán 40 M.K, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
-Tủ Sách Tiếng Quê Hương
P.O.Box 4653
Fall Church, VA 22044
- Email: tphongvu@yahoo.com
Nguyễn Ái Quốc
Cầm vàng mà lội qua sông.
Vàng trôi không tiếc, tiếc công cầm vàng.
Ca dao VN
Nơi phần lời tựa của của cuốn Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc, nhà phê bình văn học Thụy Khuê cho biết:
“Trong quá trình làm việc, có những ngã rẽ bất ngờ: khảo sát về Phan Khôi, tôi thấy sau khi đi Pháp về, Phan Châu Trinh giao cho Phan Khôi nhiệm vụ viết lại lịch sử đời mình, từ đó, phải tìm hiểu về những ngày Phan Châu Trinh ở Pháp, dẫn đến mối tương quan giữa Phan Châu Trinh và Nguyễn Ái Quốc/Hồ Chí Minh, người tự nhận là lãnh tụ đầu tiên của phong trào Việt kiều Yêu Nước.”
“Tôi tìm đọc nguyên văn tiếng Pháp các bài viết ký tên Nguyễn Ái Quốc, mới thấy tác giả những bài viết này phải là người biết tiếng Pháp rất sâu và có văn tài; không thể là người mà Trần Dân Tiên mô tả trong cuốn hồi ký ‘Những mẩu chuyện về đời hoạt động của Hồ Chủ tịch’. Vậy có một sự giả mạo lịch sử quan trọng cần phải tìm hiểu đến nguồn cội. Đó là lý do tại sao có phần biên khảo về Vấn đề Nguyễn Ái Quốc trong cuốn sách này (*).”
Thụy Khuê. Ảnh: RFI
Sự “giả mạo lịch sử” mà Thụy Khuê “tìm hiểu đến nguồn cội” gồm những điểm chính, được ghi nơi trang 470, như sau:
- Chính Nguyễn Tất Thành đã dựng nên hội Người An Nam yêu nước.
- Chính Nguyễn Tất Thành chủ động đưa ra ý kiến về bản Thỉnh Nguyện thư ở Hội nghị Hoà Bình Versailles, năm 1919.
- Chính Nguyễn Tất Thành viết được những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quốc là do đã ở Pháp từ 1914 và đã hết sức cố gắng học tiếng Pháp.
Và “chính loạt bài này đã … xác định ‘tư tưởng Hồ Chí Minh’ làm cho ông trở thành thần tượng từ thập niên 1920- 1930 của thế kỷ trước” (tr. 511). Trước kia, trong một thời gian dài, ở Việt Nam, người ta thường nghe nói đến “tư tưởng Mao Trạch Đông” và “tác phong Hồ Chí Minh.” Thưở đó, có kẻ còn tưởng (bên này biên giới là nhà) bên kia biên giới cũng là quê hương, hoặc: bác Hồ ta đó chính là bác Mao … nữa cơ!
Tưởng như thế là … tưởng năng thối!
Cuộc tình thắm thiết của hai nước XHCN anh em Việt/Hoa không nồng thắm lắm, và cũng chả bền vững gì nên không thể cứ (“tưởng”) mãi như thế được. Thêm vào đó, với thời gian, mỗi lúc thiên hạ lại được biết thêm nhiều điều khuất tất trong tác phong của Hồ Chí Minh: trong khi đi tìm đường cứu nước, ông đã tiện tay gửi luôn một lá đơn xin theo học Trường Hành Chính Thuộc Địa; ông chính là tác giả Trần Dân Tiên, kẻ đã viết sách ca ngợi Hồ Chủ Tịch không tiếc lời; người ta tìm thấy xác bà Nông Thị Xuân, nhân tình của ông, nằm chết giữa đường, cách Phủ Chủ Tịch không xa …
Ăn ở, cư xử (bất nhân) như thế khó có thể được xem là con nhà đàng hoàng tử tế – theo tiêu chuẩn của văn hóa Việt Nam. Bởi vậy, Đảng đã thay tác phong (của Bác) bằng tư tưởng Hồ Chí Minh (coi) cho nó đỡ kỳ. Tư tưởng, nói nào ngay, vẫn dễ dấu hơn hành động.
Chỉ tiếc rằng rồi cũng không dấu được luôn, hoặc dấu được lâu. Sau khi “truy nguyên bút hiệu Nguyễn Ái /Quấc” và “khảo sát văn bản Nguyễn Ái Quốc” (qua những chương 15, 16, 17, 18, 19, 20 – từ trang 424 đến trang 581 – cùng với những chứng liệu vô phương chối cãi) Thụy Khuê khẳng định:
“Tiểu sử Hồ Chí Minh là một bí mật. Chỗ nào ông muốn viết (hoặc sai người viết), chỗ nào giấu đi hoặc thêm thắt vào, đều có chủ đích rõ ràng. Và ông không hề ngần ngại nhận mình là tác giả những bài viết và những công trình không phải của ông. Trong phạm vi khảo luận này … chỉ chú ý đến thời kỳ Nguyễn Tất Thành ở Pháp, từ 1919 đến1923. Thời gian này, ông tự nhận mình là Nguyễn Ái Quốc và chính những bài báo ký tên Nguyễn Ái Quấc/Quốc đã xây dựng nên huyền thoại Hồ Chí Minh” (trang 458).
Huyền thoại, và “nền móng tư tưởng Hồ Chí Minh” (từ nay) kể như là chấm dứt hay mất đứt! Sự mất mát này để lại ít nhiều hụt hẫng, và tiếc nuối, trong lòng nhiều người dân Việt – theo như cách nói của họ, qua ca dao:
Cầm vàng mà lội qua sông.
Vàng trôi không tiếc, tiếc công cầm vàng.
Đôi lúc, tôi trộm nghĩ, nếu ra đời sớm hơn tí nữa thì chắc (chắn) mình cũng “phải lòng” ông Hồ Chí Minh thôi. Và nếu thế, đến giờ, dù không còn thương tiếc gì một người tình (phụ) có lẽ tôi vẫn nấm nuối và tiếc thương mối tình (thắm thiết) của mình – vào thưở đầu đời. Cái thưở mà bác Hồ đã xuất hiện như một ngôi sao sáng, biểu tượng của sự khát khao và quyết tâm dành lại lại Độc Lập – Tự do – Hạnh Phúc cho cả một dân tộc.
Huyễn tượng này vẫn được chăm chút, giữ gìn, thêm thắt và bồi đắp cẩn thận (không ngừng) mãi cho đến hôm nay, theo ghi nhận của Wikipedia:
“Tại Việt Nam, hình ảnh Hồ Chí Minh phổ biến khắp nơi như là một ‘tấm gương sáng ngời về đạo đức’, một ‘nhân cách cao thượng’, được coi là một ‘thần tượng.’ Những tác phẩm nói về Hồ Chí Minh thường ca ngợi những đức tính tốt đẹp của ông. Các cấp ủy Đảng Cộng sản Việt Nam thường xuyên tuyên truyền, vận động cán bộ, đảng viên của Đảng Cộng sản Việt Nam và nhân dân học tập và làm theo tấm gương đạo đức, lối sống của Hồ Chí Minh.
Mỗi năm, chính quyền và Đảng bộ đều tổ chức các cuộc thi Học tập tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh cho nội bộ lẫn quần chúng.
Ngoài những phát biểu của chính Hồ Chí Minh và hình vẽ, hình chụp của ông, những câu nói và khẩu hiệu tuyên truyền có thể đọc thấy ở mọi nơi đó là:
- Đời đời nhớ ơn Bác Hồ vĩ đại
- Sống, chiến đấu, lao động và học tập theo tấm gương của Chủ tịch Hồ Chí Minh.
- Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại sống mãi trong sự nghiệp chúng ta.
Không phải vô cớ mà ông Hồ Chí Minh đã gạt được nhiều người, trong nhiều thập niên qua. Rõ ràng ông có được sự đồng thuận tích cực, hay nói đúng hơn là đồng lõa, của cả một băng đảng chuyên môn làm bạc giả – Ðảng Cộng Sản Việt Nam.
Nửa thế kỷ trước không ít những người thuộc thế hệ cha anh của tôi chưa bao giờ may mắn có được cái mức lùi, cùng những phương tiện truyền thông cần thiết, để nhìn rõ về chân dung của ông Hồ (nói riêng) và cuộc cách mạng vô sản (nói chung) một cách rạch ròi như hiện tại. Bởi vậy, không có gì ngạc nhiên là họ đã… trao duyên lầm tướng cướp, cũng như không có gì đáng trách vì họ đã cầm nhầm tiền giả.
Chỉ có điều đáng buồn là mãi đến nay phần lớn vẫn cứ làm bộ ứng xử như “không có chuyện gì đáng tiếc xẩy ra” vậy. Không mấy ai có đủ can đảm để nhận rằng: “Trọn tuổi xuân ta hiến dâng cuồng nhiệt / Lại đúc nên chính cỗ máy này” như ông Bùi Minh Quốc.
Cái “cỗ máy” mà ông Trần Độ, sau suốt một cuộc đời tận tụy đi làm cách mạng, đã phải cay đắng thốt lên là “…còn nhiều bất công, nhiều tệ nạn, một chính quyền phản dân chủ, chuyên chế, của một chế độ độc đảng và toàn trị, nhiều thói xấu giống như và tệ hơn là trong chế độ cũ…”
Trong kỳ Đại hội Đảng Toàn quốc, lần thứ hai, tại Việt Bắc vào tháng 3 năm 1951, ông Hồ Chí Minh kể chuyện:”… ở một trận đánh nọ có chiến sĩ bị thương ở tay nói với người bên cạnh ‘Cậu chặt tay cho mình cái’ vì thấy cánh tay gãy vướng, chặt đi cho dễ đánh, thế rồi lại cứ xung phong? Nếu không thấm nhuần chủ nghĩa Marx – Lénine thì làm sao có được những cử chỉ oanh liệt như thế?” [ Học Tập – Nội san Đảng Bộ Liên Khu Bốn (Chỉ lưu hành Trong Nội Bộ, Số 35, Năm thứ tư, Tháng 4 – 1951].
Hình bìa Nội San Đảng Bộ Liên Khu Bốn. Nguồn: talawas
Có thể nói mà không sợ mang tiếng cường điệu rằng chính ông Hồ là kẻ đã cố gắng công (và thành công) trong việc làm cho chủ nghĩa Marx – Lénine, cùng với chủ trương bạo lực và dối trá, trở nên “thấm nhuần” ở Việt Nam. Họa cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Trong tiến trình xây dựng và kiến thiết lại đất nước buộc phải loại trừ sự mọi giả trá, đã bám rễ quá sâu trong lòng dân chúng. Đây là điều không dễ dàng chi, và cần đến sự quyết tâm cũng như ý thức của tất cả mọi người. Do đó, công việc “tìm hiểu đến nguồn cội sự giả mạo lịch sử” (để giải trừ cái huyền thoại HCM) là điều vô cùng cần thiết và cần được quan tâm.
Tưởng Năng Tiến
3/2012
(*) Nhân Văn Giai Phẩm & Vấn Đề Nguyễn Ái Quốc, biên khảo của Thụy Khuê, sách dầy 976 trang, bìa cứng, Tiếng Quê Hương xuất bản năm 2012, giá bán 40 M.K, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
-Tủ Sách Tiếng Quê Hương
P.O.Box 4653
Fall Church, VA 22044
- Email: info@tiengquehuong.com
Articles
Privacy