Articles  Privacy

 

Thứ bảy, ngày 19 tháng năm năm 2012

Những bức thư gửi cô chị họ (nhân chuyện Ngọc Trinh)

Chị thân mến,

Mọi nhà kinh tế đều sẽ bảo Ngọc Trinh cũng như các cá nhân khác trong xã hội đều đang mưu cầu hạnh phúc (tức là thực hiện nhân quyền cơ bản), đang theo đuổi lợi ích cá nhân (và kết quả của quá trình đó là có thể tạo sự thịnh vượng chung trong xã hội).

Nói thế không có nghĩa là em tán thành quan điểm của nhà kinh tế chị ạ, dù em từ cái lò FTU mà ra ^^ Còn phát biểu của Ngọc Trinh, nhìn từ quan điểm của nhà đạo đức học thì chắc là sai/ không ổn. Từ quan điểm của nhà báo, nó lại khác nữa.

Đứng trên mặt nhà báo mà nói :-)) thì em nghĩ nguyên tắc đầu tiên (mà gần như tất cả các bên tham gia vụ Ngọc Trinh này đều vi phạm) là cứ phải là tôn trọng tự do ngôn luận đã. Nghĩa là Ngọc Trinh có quyền nói bất cứ điều gì, những người ủng hộ/phản đối Ngọc Trinh cũng có quyền nói bất cứ điều gì, miễn là không vu khống/ bôi nhọ/ xúc phạm nhân phẩm/ tiết lộ đời tư/ cổ vũ bạo lực/ kỳ thị, phân biệt đối xử blah blah blah… Sau khi “quán triệt” nguyên tắc ấy, đi vào chuyện đúng/ sai, dưới lăng kính truyền thông, thì có thể nói là quan điểm (được cho là của) Ngọc Trinh, xét về nội dung, không sai gì. Xét về thời điểm, có thể có tác dụng làm Ngọc Trinh nổi tiếng hơn, tăng được bao nhiêu % giá show đó, và cũng có phản tác dụng, tức là chọn đúng lúc dân tình số đông đang khốn đốn về kinh tế, thì sẽ bị nhiều người ghét, nhưng không vì thế mà làm giảm giá show v.v.

Từ quan điểm đạo đức thì có nhiều cái thú vị để nói hơn, tiếc là em lại không phải nhà đạo đức :-D Thật ra lâu nay em cũng hay phản đối quan điểm đức trị nói riêng và đạo đức nói chung, vì lý do mà ai cũng biết là đạo đức thì nó không có chuẩn duy lý, nó mênh mông bao la bát ngát linh hoạt, và nó dễ bị lạm dụng để dẫn đến phản tác dụng, thay vì tạo ra một xã hội nơi ai nấy phát huy tinh thần “làm chủ tập thể” như anh Duẩnle mơ ước thì lại đẻ ra xã hội toàn bọn ăn cắp.

Nhưng xét bối cảnh Việt Nam (thời điểm này thôi, những lúc khác em không biết, không tính), qua lăng kính đạo đức (tạm gọi là thế) thì em thấy đạo đức vẫn quan trọng lắm, và nó là cái neo để giữ người ta lại với nhau. Ta sẽ bảo rằng Ngọc Trinh có quyền làm mọi điều năng lực của cô ấy cho phép để mưu cầu hạnh phúc, nếu cô ấy đẹp thì đương nhiên cô ấy có quyền sống sung sướng với một đại gia nào đó có nhu cầu thưởng thức cái đẹp ấy. Nhưng vấn đề là Ngọc Trinh phát ngôn như thế trong lúc nhiều phụ nữ khác còn không có đất mà cạp (ý của bác Trần Đăng Tuấn) và nhiều đàn ông không có gì cho vợ cạp cả ngoài... *** thì nó sẽ là bất nhẫn (không biết có thể gọi là phi đạo đức không?). Càng bất nhẫn hơn nữa khi ai lên tiếng phản đối lập tức bị chụp cho cái mũ là xấu tính, xấu người xấu nết, ghen ăn tức ở, đạo đức giả v.v. Số người phản đối xuất phát từ sự đạo đức giả và thói ưa dạy đời chắc chắn là có, nhưng không phải ai cũng thế. Số người cay cú Ngọc Trinh vì họ không có được năng lực của Ngọc Trinh (không đẹp) cũng có – quan trọng là đó chính xác là cái năng lực xã hội đánh giá cao – nhưng em thấy nếu đứng từ quan điểm kinh tế học để nói rằng “như thế là công bằng, và cái tâm lý ghen tị kia chỉ là tâm lý anti-capitalistic (bài tư bản) của những kẻ không có năng lực”, thì dù thế nào chăng nữa, em vẫn thấy có cái gì đấy bất nhẫn.

Quan điểm kinh tế nói chung đều thống nhất rằng thị trường tự do là vị trọng tài hoàn hảo cho mọi cuộc cạnh tranh. Nhưng trong bối cảnh Việt Nam thì lấy đâu ra thị trường tự do, can thiệp của nhà nước bóp méo tất cả rồi. Em lấy ví dụ nguyên tắc cung-cầu nổi tiếng, áp dụng vào cái gọi là “thị trường báo chí” ở Việt Nam là sai bét. Theo nguyên tắc ấy thì mảng chính trị đang là mảng nội dung được độc giả cần (em không có số liệu nhưng ta cứ tạm cho là như thế, em cảm thấy rõ là như thế), các tòa soạn báo chính trị-xã hội đều khát. Do đó phóng viên chính trị là lực lượng được cầu rất cao, chưa kể xét về số lượng, họ đang rất hiếm; xét về chất lượng, phóng viên chính trị có thể viết được kinh tế-xã hội-khoa học-văn hóa-nghệ thuật, trong khi phóng viên văn hóa chưa chắc viết được chính trị. Vừa quý vừa hiếm vừa được cầu cao, lẽ ra thu nhập của họ phải “hàng khủng” mới phải, thế mà lại ngược lại hoàn toàn: Đó là những phóng viên đói rách nhất trong làng báo. (Em đang nói phóng viên thuần túy, còn các cây bút tuyên truyền thì không tính vì cái họ làm không phải là báo chí). Như vậy, ta đủ thấy rằng yếu tố chính trị đã bóp méo hết kinh tế ở Việt Nam. Lại phải nói thêm: Vậy điều gì khiến số ít phóng viên chính trị vẫn bám nghề? Câu trả lời nghe có vẻ lý thuyết nhưng em nghĩ là đúng trong nhiều trường hợp: đạo đức.

Đạo đức là cái ngăn người ta để không làm những gì mà pháp luật cho phép nhưng lại có thể gây tổn thương cho người khác. Ví dụ đạo đức báo chí là cái ngăn phóng viên, không cho anh/ cô ta bấm máy chụp bức ảnh em Ngọc Trinh và cô Trương Mỹ Hoa đang ngáp, trong lúc hai người đang cùng ngồi trên một băng ghế khán đài. Em cũng nghĩ là trong hoàn cảnh Việt Nam bây giờ, đạo đức sẽ là cái ngăn Ngọc Trinh và Vũ Khắc Tiệp nói ra những câu hoàn toàn đúng, nhưng nó cứa vào lòng những người đang vật vã sống với năng lực ít ỏi của họ, hoặc với năng lực rất dồi dào nhưng không phải lúc được xã hội cần của họ. Cho nên đạo đức vẫn là tốt - kết luận là không nên lên án đạo đức (như em lâu nay vẫn lên án :D).

Cho nên nhìn nhận một sự việc như phát biểu của Ngọc Trinh, em nghĩ là phải từ nhiều góc độ: kinh tế, đạo đức, và công lý. Cái này cũng tương tự như cụ Michael Sandel đã nói – nhân tiện, em rất thích ông này vì gần như trong mọi vấn đề ổng đều hướng công chúng đến nhìn nhận từ ba góc độ như vậy, để đi tới kết luận mở là chẳng ai đúng hoàn toàn, chẳng ai sai hoàn toàn.

Tiếc là dân Việt Nam ta bây giờ thì vẫn nặng tâm lý “chỉ có một cái đúng thôi, còn lại sai tuốt; và cái đúng đó là tao”.


Thứ bảy, ngày 12 tháng năm năm 2012

Vì sao người dân quyết liệt bám giữ đất?

Ngay chiều 24-4, đại diện chính quyền huyện Văn Giang đã thông báo với báo chí là việc cưỡng chế thu hồi đất và hỗ trợ thi công dự án ở xã Xuân Quan đã hoàn tất, chính quyền địa phương đã bàn giao mặt bằng 72 ha ở đây cho chủ đầu tư. Tuy nhiên, đối với chính quyền và những người dân liên quan, sự việc dường như chưa khép lại. Còn nhiều vấn đề phải giải quyết sau cưỡng chế.

Sống nhờ đất, khá giả nhờ đất

Đêm 23 và ngày 24-4 vừa qua có lẽ sẽ trở thành một ký ức khó quên được đối với nhiều người dân ở xã Xuân Quan. Họ đã phải bấm bụng để bị thu mất phần đất canh tác ít ỏi - nguồn sống duy nhất suốt bao nhiêu năm qua của gia đình mình.

Buổi chiều sau cưỡng chế, trỏ tay ra bãi đất trước mặt còn tanh bành những cây bật gốc, đổ rạp, mẹ vợ anh Truyền (xóm 3, xã Xuân Quan) chép miệng: “Cây cối nhà tôi đây. Chỗ cây cảnh này tới gần tết trị giá phải cả tỉ đồng. Vợ chồng nó (anh Truyền) đêm qua tranh thủ dời đi được ba xe, còn lại coi như mất sạch!...”.

Anh Truyền bần thần, không nói năng gì. Mãi tới lúc nghỉ tay dọn dẹp, vào nhà uống chén nước, anh mới nghèn nghẹn: “Thế là mất hết. Nhà tôi hai bên nội ngoại mất khoảng 5-6 sào”.

Sau vụ cưỡng chế đất vừa qua, nhiều nhà cứ tiếc cho số cây cảnh bị cày ủi, hư hại. “Con nhà bà Nghiêm hôm qua khóc, kêu là mất nhiều hải đường quá, phải tới mấy trăm triệu đồng”. “Anh Thơm bên kia mất tầm trên 200 triệu đồng, toàn cây cảnh giá trị”. “Cả cái vườn lộc vừng 1.000 gốc, mỗi gốc mấy trăm ngàn đồng”…

Nhưng đó là thiệt hại trước mắt. Còn về lâu dài, chuyện người dân mất đất canh tác mới là nỗi lo lớn.

Theo nhiều lão nông, ba xã Xuân Quan, Phụng Công, Cửu Cao (Văn Giang) là đất thuần nông với hơn 3.900 hộ nông dân sống nhờ vào đất. Vùng này từ xưa đã có tiếng là đất “bờ xôi ruộng mật”. Với chủ trương dồn điền đổi thửa của Nhà nước, người dân ở đây đã chuyển đổi thành công từ thóc lúa sang vườn cây, ao cá. Dịp giáp tết, lộc vừng, quất, hải đường Văn Giang sáng rực các chợ hoa Hà Nội. Một lão nông kể: “Người thì trồng cây cảnh, cây thế, người thì cây bóng mát, cây công trình. Đi khắp cái làng Xuân Quan này mới thấy sao nhà gác, nhà tầng nhiều, đầy đủ tiện nghi thế, có gia đình vài ba xe máy. Đó là người ta đi lên từ đồng ruộng. Trung bình mỗi sào ở đây ít cũng phải mang lại cho dân dăm bảy chục triệu mỗi năm”.

Mất đất vì dự án

Theo báo cáo của UBND tỉnh Hưng Yên, dự án khu đô thị Văn Giang (còn được gọi là Ecopark) được thực hiện theo phương thức “đổi đất lấy hạ tầng”. Chủ đầu tư (Công ty Cổ phần Đầu tư và Phát triển Đô thị Việt Hưng - Vihajico) sẽ thi công một con đường giao thông liên tỉnh, dài 17 km, nối từ cầu Thanh Trì đi thị xã Hưng Yên. Bù lại tỉnh sẽ góp vốn bằng 500 ha đất nông nghiệp để Vihajico đầu tư xây dựng một khu đô thị sinh thái, có chức năng thương mại, dịch vụ và nhà ở.

Vihajico thuyết trình: “Nếu dự án được thực hiện, cơ cấu sản xuất của các xã Cửu Cao, Xuân Quan, Phụng Công từ sản xuất nông nghiệp sẽ chuyển sang đô thị thương mại, dịch vụ. Dự án là tiền đề tạo ra thế mạnh sử dụng có hiệu quả quỹ đất hiện có, tạo ra động lực phát triển toàn diện về kinh tế-xã hội, thương mại, vui chơi giải trí…”.

Chính quyền và chủ đầu tư dự án có thừa luận cứ để thuyết minh về tính hợp lý và sự cần thiết khi biến 500 ha đất nông nghiệp thành khu đô thị, thương mại, dịch vụ. Thế nhưng đối với người dân có truyền thống làm nông lâu đời, việc tách họ khỏi mảnh ruộng, vườn cây, ao cá gắn bó lâu đời với họ, là nguồn sống bao đời nay của gia đình họ là điều không đơn giản. Thực tế, chủ đầu tư và chính quyền hầu như chưa có động thái cụ thể nào chuẩn bị cho việc chuyển đổi cơ cấu sản xuất ở đây. Lẽ ra chính quyền phải có phương án dạy nghề, đào tạo nghề để giúp người dân chuyển đổi từ lâu, chứ không phải đùng một cái lấy đất của người dân với lời giải thích sẽ chuyển sang làm thương mại, dịch vụ...

Họ sẽ sống bằng gì? 

Điều đáng ngại hiện nay là sau cưỡng chế, nhiều hộ dân ở xã Xuân Quan đã không còn đất canh tác và hoàn toàn không có phương án nghề phụ thay thế. Thông tin từ chính quyền cho rằng “số hộ bị cưỡng chế vẫn còn diện tích đất canh tác chứ không phải thu hồi toàn bộ” nhưng có thông tin khẳng định với PV, qua đợt cưỡng chế hôm 24-4 vừa qua, không ai còn ruộng nữa. Cũng thông tin từ chính quyền cho biết dự án “có đất dịch vụ liền kề để giải quyết việc làm cho người dân có đất bị thu hồi” nhưng cụ thể ra sao không ai rõ.

Ông Dũng, người xã Xuân Quan, than thở: “Xuân Quan có 8.000 nhân khẩu, tôi cứ cho là người già yếu chiếm 4.000 thì 4.000 còn lại làm cái gì ra tiền bây giờ? Nói thực là bây giờ dân làng chơi nhiều rồi. Ban ngày người đi lại trên đường làng đông nghịt đấy. Có việc gì mà làm đâu”.

Trước mắt, đã có những gia đình phải đi mò cua bắt ốc, nhặt nhạnh cho đủ tiền mua gạo. Trong tương lai, sẽ ra sao nếu hàng ngàn người trong độ tuổi lao động phải chơi suốt ngày?


Thứ hai, ngày 23 tháng tư năm 2012

Quản lý Internet: Nói tục, “chém gió” cũng bị xử lý

“Trước hết tôi phải nói rằng đang có sự hiểu không đầy đủ về yêu cầu cung cấp thông tin thật trên mạng. Dự thảo chỉ đưa ra yêu cầu là cung cấp thông tin cá nhân đối với một số dịch vụ, mà cụ thể là dịch vụ cung cấp thông tin công cộng lên mạng và dịch vụ trò chơi điện tử trên mạng. Chứ không phải là tất cả dịch vụ mạng” - ông Lưu Vũ Hải, Cục trưởng Cục Phát thanh Truyền hình và Thông tin Điện tử (Bộ Thông tin Truyền thông), nói về sự cần thiết phải có nghị định "quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và nội dung thông tin trên mạng". 


***

Điều chỉnh “dịch vụ cung cấp thông tin công cộng”

. Thưa ông, dịch vụ nào là cung cấp thông tin công cộng? Lập trang tin điện tử, lập blog cũng đều là cung cấp thông tin công cộng? 

+ Ông Lưu Vũ Hải: Khái niệm thông tin công cộng là một khái niệm rộng. Nghị định điều chỉnh chung việc đưa thông tin lên mà anh công khai cho mọi người, anh đưa lên theo cái cách anh không cần biết ai là người dùng. Tạm hiểu là như vậy.

. Xuất phát từ lý do nào mà chúng ta lại đưa ra dự thảo này? 

+ Từ yêu cầu thực tiễn của chính sự phát triển của mạng Internet, của cộng đồng Internet và mong muốn đối với các cơ quan quản lý, làm sao tạo ra một môi trường Internet thật sự lành mạnh. Internet có ích trong việc cung cấp thông tin nhưng ngược lại cũng là môi trường rất dễ bị lạm dụng, lợi dụng để cung cấp thông tin theo những hướng xấu. Nhẹ thì gọi là thông tin thất thiệt. Nặng hơn thì là xúc phạm danh dự cá nhân, tổ chức. Nặng hơn nữa thì là thông tin lừa đảo, thậm chí là chống phá Nhà nước. Tất cả những cái đó đòi hỏi phải có một cái gì đó để đảm bảo anh sẽ phải chịu trách nhiệm về thông tin anh đưa lên.

. Trong thực tiễn sử dụng mạng ở Việt Nam, tôi giả sử có 100 người dùng mạng thì tỉ lệ người lạm dụng Internet, theo đánh giá của Cục hoặc theo một điều tra nào đấy, khoảng bao nhiêu? 

+ Thật ra thì cũng chưa có điều tra, khảo sát xã hội học nào về chuyện đó nhưng mình phải thấy thế này: Mặc dù tỉ lệ vi phạm có thể là thấp nhưng hậu quả sẽ càng ngày càng lớn, càng ngày càng nghiêm trọng. Người ta nói là xây thì khó mà phá thì dễ là vậy.

Nói tục sẽ bị xử lý 

. Tôi thấy băn khoăn: Trong bối cảnh khó khăn về kinh tế thì tâm trạng của người dân có nhiều bức xúc. Nhiều phát ngôn trên mạng có thể thuần túy là xuất phát từ sự bất mãn, họ nói năng, văng tục… Không hiểu những trường hợp đó có bị xử lý không? 

+ Chắc chắn sẽ bị xử lý. Đến mức độ văng tục thì đương nhiên là phải xử lý rồi. Vi phạm thuần phong mỹ tục của Việt Nam, đấy là một trong những điều cấm.

. Nhưng trên thực tế thì người ta cũng văng tục ngoài đời rất nhiều. Đến xả stress, “chém gió” trên mạng mà cũng bị xử lý?

+ Cơ quan quản lý không phải lúc nào cũng đủ người, không phải lúc nào cũng có thể theo dõi thường xuyên được. Nhưng ta phải định hướng. Chính sách xét đến tận cùng là mang tính giáo dục. Có thể có những trường hợp sai phạm chưa bị phát hiện, chưa bị xử lý. Nhưng không có nghĩa là pháp luật dung túng chuyện đó và người dùng dần dần hiểu được điều đó thì người ta có thể tự điều chỉnh.

. Quy định vậy có đảm bảo bí mật đời tư cho công dân? 

 + Nói đăng ký thông tin cá nhân không có nghĩa là đăng ký tên tuổi, địa chỉ, số chứng minh nhân dân... Đăng ký như thế nào thì sẽ có hướng dẫn sau. Nhưng việc đăng ký làm sao phải bảo đảm là đơn vị cung cấp dịch vụ cũng không biết thông tin thật của anh mà chỉ biết dưới dạng một mã số, một nickname nào đấy thôi. Chỉ có cơ quan chức năng, cơ quan quản lý Nhà nước mới biết được thông tin cá nhân đó, để khi cần có thể tham chiếu.

. Cơ quan chức năng đó là cơ quan nào, thưa ông? 

+ Trong dự thảo đưa ra thì đó là Bộ Công an.

. Giả sử có một blogger nào đó lên mạng chỉ trích chính sách thu phí của Bộ Giao thông vận tải thì có bị xử lý không, theo nghị định này? 

+ Cái đó phải căn cứ vào nội dung cụ thể. Anh có quyền phân tích, đóng góp ý kiến nhưng phải trên tinh thần xây dựng. Anh không được phỉ báng, bôi nhọ, xúc phạm người ta.

. Giả sử họ nói vị quan chức nọ không có năng lực… 

+ Bạn không thể ví dụ bằng việc cắt cả câu ra khỏi bối cảnh. Nếu nói câu đó trong một bối cảnh phù hợp thì có thể chấp nhận được. Nhưng cứ rêu rao câu đó, lặp đi lặp lại 100 lần thì lại thành bêu riếu người ta. Vấn đề là câu nói được thể hiện trong môi trường nào.

. Như thế thì việc phân tích xem một câu nói nào đó có phạm luật không sẽ hơi phức tạp phải không, thưa ông? 

+ Đương nhiên. Từ trước đến nay bao giờ cũng thế, ngay cả ra tòa người ta còn phải xử, phải phân tích cơ mà. Ngôn ngữ đâu phải là cái máy để có thể nói một là một, hai là hai. Vấn đề là tính định lượng của nó không phải lúc nào cũng rõ ràng. Nhưng chuẩn mực về văn hóa, đạo đức xã hội thì lúc nào cũng có. Làm sao phải đảm bảo được chuyện đó.

“Đấy là quan hệ dân sự” 

. Theo quy định của pháp luật thì trong các vấn đề như danh dự, nhân phẩm, uy tín, lợi ích của chủ thể nào thì chủ thể đó tự tìm cách bảo vệ. Ví dụ, một cá nhân bị một cá nhân khác xúc phạm thì bản thân họ phải tự tìm cách bảo vệ mình và khi ra tòa, nghĩa vụ chứng minh ai xúc phạm, xúc phạm như thế nào… thuộc về họ. Cũng chỉ bản thân họ mới biết được là thông tin đó có gây thiệt hại cho mình hay không. Thế thì nếu tôi lập nickname, tôi nói xấu một người khác, Nhà nước có can thiệp vào việc ấy không? 

+ Nhà nước can thiệp khi có khiếu nại về thiệt hại. Đây là quan hệ dân sự. (PV nhấn mạnh). Khi có một bên khiếu nại với cơ quan chức năng rằng cái này gây hại cho tôi thì Nhà nước phải can thiệp xem anh khiếu nại có đúng không? Đúng thì xử lý, mà sai thì cũng có quy định. Nhà nước vẫn xử nhưng chỉ xử trên cơ sở có kiến nghị, xem cái này có gây ảnh hưởng, gây hại cho ai không. Nếu không ai kiến nghị, không ai kêu thì làm sao mà biết nhưng có kiến nghị thì phải xem xét.

. Giả sử người dùng nọ đăng tải thông tin công cộng lên Facebook, chúng ta lại yêu cầu Facebook phải cung cấp thông tin của người đó, e là hơi khó khả thi. 

+ Luật pháp của chúng ta điều chỉnh những hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, chứ ta làm sao điều chỉnh được hoạt động của doanh nghiệp bên Mỹ.

. Nhưng là dịch vụ cung cấp qua biên giới, Facebook vẫn cung cấp dịch vụ ở Việt Nam mà không cần phải có mặt ở Việt Nam kia mà? 

+ Nếu họ cung cấp dịch vụ ở Việt Nam, họ đăng ký theo luật Việt Nam thì họ phải tuân thủ nghị định này. Không đăng ký thì là chuyện khác.

. Vậy có khả năng rất lớn là người dùng Internet Việt Nam bỏ các nhà cung cấp trong nước mà đi tìm nhà cung cấp nước ngoài. Điều này có thiệt thòi cho chúng ta không? 

+ Cũng có thể là thiệt. Nhưng cũng chưa chắc đã là thiệt vì cái xu thế này dần dần sẽ không phải chỉ có ta áp dụng. Chắc chắn như thế.


“Đấy là sự phát triển của xã hội” 

. Ở Mỹ và châu Âu có khái niệm “quyền phát ngôn nặc danh”. Đã có trường hợp một nickname nói xấu một doanh nghiệp và gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Doanh nghiệp yêu cầu tòa án điều tra nickname đó nhưng bị tòa án phủ quyết. Ông bình luận thế nào về phán quyết này? 

+ Đây là sự phát triển của xã hội. Có thể ở thời điểm ban đầu người ta chưa thấy vi phạm là thường xuyên và gây hậu quả nghiêm trọng, nên chưa đặt vấn đề là phải xử lý nó. Nhưng nếu những vi phạm đó thường xuyên xảy ra hơn và hậu quả càng ngày càng lớn hơn thì phải điều chỉnh luật pháp để xử lý những vấn đề đó.


* * *


Vô cùng thương tiếc báo tin, cụ già 60 tuổi đêm qua chúng tôi đâm xe máy vào đã củ tỏi hồi 17 giờ 07. Anh em phang lô đề nhiệt tình đi…”. Những bình luận của Facebooker có nick “Kẹo mút chơi bời”, từng gây phẫn nộ trong cộng đồng mạng tháng 11-2011, có thể đã là một trong những trường hợp “lạm dụng Internet” khiến nhà quản lý phải đặt ra vấn đề xiết chặt hơn không gian mạng Việt Nam.

Những lời lẽ trên mạng của anh ta đã đưa đến hàng nghìn phản hồi phẫn nộ của cộng đồng mạng, hàng trăm người “vào cuộc” truy tìm tung tích kẻ lộng ngôn. Kết cục là anh ta đã phải tự ra trình diện tại cơ quan công an.

Về điểm này, TS Nguyễn Đức Thành - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách - từng nghiên cứu nhiều về tâm lý đám đông, cho rằng: “Dân chúng Việt Nam nhìn chung cũng rất thuần hậu, chất phác, nếu có lúc nào đấy đám đông manh động thì là cục bộ thôi. Chứ ai cũng vô cảm, độc ác, không lương tri cả thì chắc chắn xã hội sụp đổ”.

Câu chuyện của “Kẹo mút chơi bời”, ngoài việc phản ánh sự manh động của một bộ phận thanh niên, cũng cho thấy rằng bên cạnh công cụ luật pháp, các hạn chế đối với tự do ngôn luận còn có thể được thực thi nhờ sự lên án của xã hội.

Quyền được nặc danh

Tháng 2-2007, Tòa án bang New York nhận được lá đơn từ một phụ nữ có tên Pamela Greenbaum với nội dung như sau:

Tôi là công dân bang New York, hạt Nassau, cư ngụ tại địa chỉ… Tôi gửi đơn này yêu cầu quý vị tiến hành điều tra để tôi xác định được tác giả của một blog nặc danh, gọi là Orthomom, cùng những người bình luận nặc danh trên đó. Họ đã xúc phạm tôi khi gọi tôi là “đồ mù quáng”, “bài Semite” và tung tin sai lệch về con người tôi”.

Tôi yêu cầu tòa ra lệnh cho bên bị cáo tiết lộ các thông tin như luật sư của tôi yêu cầu trong văn bản đính kèm đây, để đơn kiện có thể được tống đạt đến đúng các bên có trách nhiệm. Bên cạnh đó, tòa cũng phải có lệnh bảo lưu thông tin trên blog đó, bởi vì blogging là hành động tự nguyện và có thể bị chấm dứt hoặc hủy bỏ nội dung bất kỳ lúc nào bởi kẻ nặc danh có nick “Orthomom”.

Orthomom và các độc giả của cô ta, trong những comment của mình, đã tung tin sai lạc, vu khống và bôi nhọ tôi, gọi tôi là “đồ mù quáng”, “bài Semite” chỉ vì tôi có quan điểm phản đối việc sử dụng quỹ của trường công để phục vụ các lợi ích của trường tư và những lợi ích khác vượt ra ngoài những gì luật pháp cho phép…”.

Trong đơn kiến nghị gửi tòa án bang, bà Pamela Greenbaum tìm cách buộc Google phải tiết lộ thông tin về nhân thân blogger Orthomom - người sử dụng dịch vụ blogger.com (tức là blogspot) của Google. Về phần Orthomom, sau khi biết có đơn đề nghị điều tra mình, cô này tiếp tục viết bài trên blog để phản đối bà Greenbaum, viện dẫn Tu chính án Thứ Nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ để bảo vệ “quyền phát ngôn nặc danh” của mình. Tháng 10-2007, tòa bác bỏ đề nghị của Pamela Greenbaum và hủy đơn kiện, chủ yếu là do bà Greenbaum không thuyết phục được tòa rằng những ngôn từ Orthomom đã dùng là có tính bôi nhọ, xúc phạm bà. “Những ý kiến mà Greenbaum dựa vào để nói rằng mình bị bôi nhọ đơn thuần là không đủ giá trị pháp lý”.

Sao lại bảo vệ sự nặc danh?

Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới như Jo Glanville, Andrew Puddephatt, Hodder Arnold… đều cho rằng tự do ngôn luận là một hình thức của tự do biểu đạt và được áp dụng cho bất kỳ cách thức truyền thông nào, kể cả Internet. Tại Mỹ - cái nôi ra đời Internet - mãi tới tháng 2-1996, Quốc hội mới ra được Đạo luật Về khuôn phép trong thông tin (Communications Decency Act, CDA) mà mục đích chính là để ngăn chặn những nội dung khiêu dâm trên Internet. Nhưng chẳng bao lâu sau, ngày 12-6 năm đó, trong một phán quyết dài 219 trang, Tòa án Tối cao bang Pennsylvania đã tuyên bố một số phần chính yếu của CDA là vi hiến và phải chấm dứt thực thi. Thẩm phán Stewart R. Dalzell nói: “Internet là phương tiện truyền thông thúc đẩy ngôn luận mạnh mẽ hơn sách báo… Vì CDA nhất định sẽ ảnh hưởng tới Internet, cho nên nhất định nó sẽ làm giảm mức độ tự do ngôn luận của người trưởng thành”.

Phát ngôn nặc danh hoặc sử dụng tên giả cũng là một phần trong các quyền được quy định trong Tu chính án Thứ Nhất của Hiến pháp Hoa Kỳ về tự do ngôn luận. Lý do là vì “định danh, cộng với nỗi sợ bị trả thù, có thể ngăn chặn việc người ta thảo luận một cách hoàn toàn ôn hòa về các vấn đề công cộng quan trọng”.

Ở khía cạnh ngược lại, những người bị thiệt hại vì các phát ngôn nặc danh phạm pháp trong môi trường Internet cũng có quyền được kiện tụng, đòi bồi thường - chẳng hạn khi họ bị bôi nhọ, bị đánh cắp thông tin cá nhân, bí mật thương mại... Tuy nhiên, những hành vi này đều đã có những đạo luật tương ứng điều chỉnh trong cuộc sống, theo kiểu “đời sao, mạng vậy”. Ngoài ra, phần đông các tòa án ở Mỹ cũng đòi hỏi nguyên đơn phải chứng minh được rằng quả thật kẻ nặc danh nào đó đã làm tổn thương đến họ. 

Trịnh Hữu Long - Phạm Đoan Trang - Đỗ Hoàng Thư thực hiện


http://phapluattp.vn/2012042110584418p0c1015/quan-ly-thong-tin-internet-ke-ca-noi-tuc.htm


Thứ hai, ngày 09 tháng tư năm 2012

Đại gia: Tích tụ văn hóa chậm

• “Nói cho cùng, chuyện một số người giàu bị cuốn vào thú vui mua siêu xe chính là sự bộc lộ một thứ vô thức tập thể, chứ không phải của bản thân người đó: Vô thức của người Việt chúng ta hiện nay là thích siêu xe thật, chứ chúng ta không đánh giá cao việc một tỷ phú mua tranh Van Gogh hay tài trợ cho một dàn nhạc cổ điển” – nhà kinh tế Nguyễn Đức Thành bình luận về hiện tượng “đại gia xài sang”.

Tại Việt Nam, suốt mấy năm qua, hàng xa xỉ vẫn được nhập về với số lượng rất lớn, trị giá hàng tỉ USD, bất chấp những khó khăn của nền kinh tế: mỹ phẩm, rượu bia, điện thoại di động, xe hơi… Thú xài sang lan cả sang khu vực dịch vụ với những phở bò Kobe, súp vây cá mập, v.v. Giữa những ngày bão giá, ở Hà Nội vẫn có những cơ sở bán đĩa mài sừng tê giác. Với hai đám cưới hoành tráng gần đây, sự hưởng thụ tiếp tục được “nâng lên một tầm cao mới”, gây choáng váng cho số đông dư luận.

30 năm trước, bồn tắm là xa hoa...

Vung tay mua sắm hàng hóa, dịch vụ với giá cả trên trời không phải là “chuyện chỉ có ở Việt Nam” như một số người có thể than vãn. Hiện tượng này xảy ra ở gần như tất cả các nền kinh tế trong quá trình phát triển và hình thành tầng lớp “mới giàu” (nouveau riche). Ở Trung Quốc, theo Barclays Capital, doanh số hàng xa xỉ tăng 30% mỗi năm (so với Mỹ 12% và châu Âu 6%). Hiện tại, nước này tiêu thụ 12% lượng xa xỉ phẩm của thế giới.

Việc Trung Quốc đứng đầu thế giới về tiêu dùng xa xỉ được một số chuyên gia cho là xuất phát từ những thay đổi về dân số và nhân khẩu học. Một bài báo của BBC trích lời ông Donald Holdsworth, Giám đốc MatchPower (Australia): “Tuổi trung bình của triệu phú Trung Quốc là 39, trẻ hơn 15 tuổi so với ở khối các nước công nghiệp phát triển. Nghĩa là họ ra đời trùng với thời điểm bắt đầu chính sách một con. Những đứa con một đó được cha mẹ dành cho tất cả những thứ tốt đẹp nhất mà họ có được – và chúng lớn lên cũng vào lúc nền kinh tế chuyển đổi sang cơ chế thị trường. Nếu bạn lớn lên trong một xã hội đồng phục, nơi không có tự do ngôn luận, thì một khi có dịp để thể hiện bản thân mà không gặp nguy hiểm gì, bạn sẽ đón nhận cơ hội đó ngay. Thì mọi chuyện cũng sẽ giống như khi bạn bật nút một chai nước có ga vậy”.

Còn về hai đám cưới chấn động dư luận ở Việt Nam vừa qua, TS. Nguyễn Đức Thành, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách, nói: “Không nên kết tội những đại gia xài sang, xem họ là vô luân, thiếu đạo đức. Bởi vì hành động của họ xuất phát từ nhận thức. Đối với họ, như thế là thẩm mỹ, là cái hay, cái đẹp, hạnh phúc, thì họ hưởng thụ. Xã hội chúng ta thật ra có hàng nghìn người có suy nghĩ, khát vọng, văn hóa như những đại gia đó, nhưng chẳng qua không có điều kiện để thực hiện nên không bị phê phán đấy thôi”. Ông cũng cho rằng bản thân sự xa hoa, xa xỉ là một khái niệm “động”, nghĩa là có tính lịch sử, thay đổi theo thời gian: “Cách đây khoảng 30 năm, nhà ai mà có cái bồn tắm là bị xem là xa hoa kinh khủng: “Sao lại có thể ngâm mình vào nước, nằm dài ra, thò đầu lên mà tắm thế. Tắm thì phải xát xà phòng, múc nước dội lên người chứ, mấy gáo là xong”. Cách đây 20 năm, mấy nghệ sĩ tụ tập uống bia ở tư gia, ăn mặc hở hang hoặc có khi… khỏa thân, thì đã bị coi là chuyện động trời rồi, như bây giờ thì có là gì đâu”.

Chơi siêu xe thì “chân dài” mới mê

Tháng 9-2006, các nghệ sĩ của Nhạc viện và Dàn nhạc giao hưởng Hà Nội đã có một “kỷ niệm tuyệt đẹp, một vinh dự rất lớn” (lời nghệ sĩ Vũ Mạnh Dũng) khi vở opera “Cây sáo thần” của nhà soạn nhạc thiên tài Mozart được đưa lên sân khấu Nhà Hát Lớn. 5 đêm biểu diễn liên tiếp. Ca sĩ Đăng Dương kể lại: “Buổi cuối tôi đã bị sốt phải đi truyền nước ở bệnh viện Saint Paul, tưởng không hát nổi nữa, nhưng rất may là vẫn cố được. Chúng tôi đã tập liên miên mấy tháng trời, liên tục sáng, chiều, tối, và không có kíp hai thay thế. Chỉ có một kíp thôi – đó là một chuyện cực kỳ vất vả đối với nghệ sĩ Việt Nam. Thật mạo hiểm. Các thầy cũng biết thế nhưng không còn cách nào khác, vì tìm được người hát opera đã khó, lại còn kiếm cho ra nghệ sĩ để có thêm kíp hai thì thật không tưởng”.

Sau 5 đêm “sống với đam mê”, các nghệ sĩ nhận vài trăm nghìn đồng cát sê và trở về đời thường, mặc dù theo ca sĩ Đăng Dương, nếu họ được “tạo điều kiện nhiều hơn, học hỏi nhiều hơn và được tiếp xúc với âm nhạc bác học thường xuyên hơn thì tốt, dòng nhạc này yêu cầu cao lắm và phải rèn luyện thường xuyên”. Được biết, Nhạc viện Hà Nội cũng cố gắng tìm kiếm tài trợ để mỗi năm một vở opera có thể lên sân khấu, song từ đó đến nay, chẳng có thêm vở nhạc kịch nào được công diễn nữa. Ca sĩ Đăng Dương tâm sự: “Như ở nhiều nước thì các dàn nhạc thường được công ty này tập đoàn nọ đầu tư, tài trợ. Có những doanh nghiệp làm “Mạnh Thường Quân” cho các chương trình âm nhạc cổ điển quy mô hoành tráng – Đêm nhạc cổ điển Toyota, Hòa nhạc Hennessy chẳng hạn. Ở ta thì không”.

Tương tự trong lĩnh vực hội họa, một người sưu tầm tranh ở Hà Nội (xin giấu tên) kể: “Tôi biết ở trong nước hiện giờ có những bức tranh rất giá trị, có thể coi như tài sản dân tộc. Chủ của nó muốn bán tranh để có thể đi khỏi Việt Nam, rao giá 200.000 USD thôi, nhưng chỉ thương nhân nước ngoài sẵn sàng mua chứ chẳng doanh nhân Việt nào biết đến mà mua cả. Ông chủ tiếc tranh quý, sợ nó rơi vào tay người ngoại quốc, nên vẫn chưa chịu bán. Giá có đại gia nào mua, rồi được báo chí khen ngợi thì tốt quá, cũng là ghi nhận công gìn giữ tài sản văn hóa của đất nước. Nhưng trên thực tế là đại gia phải mua siêu xe cơ, mới được lên báo. Chưa kể, chẳng có “chân dài” nào vì thế mà yêu đại gia đó hơn”.

Giàu xổi

Theo TS. Nguyễn Đức Thành, tích lũy về thu nhập có thể diễn ra rất nhanh, chỉ trong nửa đời người, nhưng tích tụ về văn hóa thì lại là một quá trình tương đối chậm, chính vì thế mới có khái niệm “nouveau riche” (mới giàu, giàu xổi).

“Tuy nhiên, vấn đề là phải tự hỏi vì sao trong xã hội, số đông không đánh giá cao nghệ thuật hoặc hoạt động sưu tầm, bảo tồn, bảo trợ cho nghệ thuật. Thực ra, chuyện một số người giàu cuốn vào thú vui mua siêu xe chính là sự bộc lộ một thứ vô thức tập thể, chứ không phải của bản thân người đó: Vô thức của người Việt chúng ta hiện nay là thích siêu xe thật... Người nọ mua siêu xe vì đam mê một phần, phần nữa là vì muốn được số đông chú ý, ngợi ca. Tôi cho rằng, nếu như thế hệ người giàu hiện tại giải tỏa những ám ảnh thiếu thốn của họ thông qua những trò gây sốc mà ít ý nghĩa thì đó là hậu quả của cái xã hội trong quá khứ, của nền giáo dục, của các thế hệ đi trước…”.

Tuy nhiên, nếu sự xa hoa, xa xỉ là một khái niệm “động” thì tình hình sẽ thay đổi. Theo ông Donald Holdsworth, thị trường Anh quốc vào những năm 1980, xe Roll-Royce là sự lựa chọn của người giàu, sau đó tới Bentley ít gây sốc hơn, và ngày nay là Audis, Mercedes, còn giản dị hơn nữa. Ở Nhật Bản, việc phô trương hàng hiệu không còn lộ liễu, ông Holdsworth tin ở Trung Quốc cũng sẽ như vậy. Giới “mới giàu” Thái Lan cũng đang dịch chuyển dần sang hoạt động sưu tầm tranh, thưởng thức và đầu tư cho nghệ thuật – TS. Nguyễn Đức Thành cho biết.

Tháng 11-2001, chương trình hòa nhạc cổ điển LUALA Concert đã bắt đầu những buổi biểu diễn đầu tiên từ vỉa hè Hà Nội, xuất phát từ ý tưởng và được sự tài trợ của một doanh nhân: ông Đỗ Ngọc Minh, Chủ tịch tập đoàn DX.


Chú thích:

Nouveau-riche (tiếng Pháp), chỉ một người được thăng tiến về địa vị kinh tế hoặc xã hội, nhưng thiếu các kỹ năng văn hóa-xã hội tương ứng với địa vị đó, chẳng hạn thiếu thẩm mỹ, kém duyên dáng, kém về khiếu thưởng thức (Wikipedia).

Nếu các bạn có thể truy cập Facebook, xin mời vào đây và ủng hộ cho công việc này: http://www.facebook.com/notes/g%C3%B3p-ch%E1%BB%AF/gi%E1%BB%9Bi-thi%E1%BB%87u-v%E1%BB%81-g%C3%B3p-ch%E1%BB%AF/234261733338921

Xin cảm ơn.


Thứ năm, ngày 29 tháng ba năm 2012

Ngụy biện vì ông Đinh La Thăng

Dành thời gian đọc, sau đó phân tích các lỗi ngụy biện ở một bài viết như bài “Kính thưa ‘quý cô cái gì cũng muốn’” của tác giả Hoàng Thắng trên Petro Times (http://www.baomoi.com/Home/AmNhac/www.petrotimes.vn/Kinh-thua-quy-co-cai-gi-cung-muon/8162668.epi) là một việc có lẽ chỉ nên làm trong lúc rảnh quá. Tuy nhiên, xét thấy sự ngụy biện đang lan tràn trong tất cả các cuộc tranh luận trên mạng, trên không gian báo chí, không loại trừ cả không gian học thuật, nên tôi nghĩ việc chỉ ra các lỗi ngụy biện sơ đẳng trong bài viết này cũng là điều cần thiết. Bên cạnh các lỗi ngụy biện là một số sai sót về kỹ thuật viết báo, tôi cũng sẽ cố gắng chỉ ra một phần.

Xin lưu ý: Đây là bài viết phân tích về ngụy biện và báo chí, không nhận xét và không phán xét tác giả Hoàng Thắng.


* * *

1.


Trích: “Trong bài trả lời phỏng vấn của mình, ca sỹ Mỹ Linh cho rằng: Thuế chồng lên thuế, phí chồng lên phí, chất lượng công trình giao thông chưa tương xứng với những khoản tiền mà dân phải đóng… và cuối cùng là kết luận một câu xanh rờn “Đề xuất giải pháp đó, theo tôi, chứng tỏ anh Đinh La Thăng quá kém cỏi!”

Chỉ chờ có thế, các trang mạng đua nhau đăng lại bài phỏng vấn ca sỹ này với tiêu đề “Bắt dân đóng phí, anh Đinh La Thăng quá kém cỏi!” Đã không ít người tung hô cho bài phỏng vấn này của Mỹ Linh, đơn giản vì đó là lời nói của một người nổi tiếng. Tuy nhiên, để nói về hàm lượng kiến thức hay tư duy trong câu nói thì cũng chưa được nhiều cho lắm
”.

Về khía cạnh nghiệp vụ báo chí, để đảm bảo tính khách quan, nhà báo không được sử dụng tính từ, phó từ, nhất là các tính từ và phó từ mang tính phán xét, nặng hơn nữa là có hàm ý miệt thị. Các động từ, nếu không đảm bảo trung tính, cũng không được dùng. Trong đoạn viết trên đây, tác giả Hoàng Thắng, ngược lại, đã sử dụng ít nhất ba từ không khách quan: “xanh rờn”, “đua nhau”, “tung hô”.

Suy luận “đơn giản vì đó là lời nói của một người nổi tiếng” là quá đơn giản. Người ta “tung hô” (nếu có) ý kiến của ca sĩ Mỹ Linh có thể còn vì nhiều nguyên nhân khác, như: cô ấy đẹp, cô ấy là dân thường (giống người ta) chứ không phải lãnh đạo, cô ấy là phụ nữ, cô ấy đã nói đúng điều người ta thích, v.v.


2.

Trích: “Mặc dù phát biểu văng mạng rằng “thuế chồng thuế, phí chồng phí” nhưng xin cam đoan là nữ ca sỹ sẽ chẳng thể nào chỉ ra nổi “phí chồng phí” ở đâu. Bởi đơn giản: Việc phân định có hay không chuyện “phí chồng phí” đang được các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia kinh tế tranh luận quyết liệt và chưa có hồi kết. Những phát ngôn của “người đẹp hát” cũng chỉ có thể là… nghe người ta nói thế thì biết thế thôi.

Còn kết luận phê phán kiến thức của Bộ trưởng Bộ GTVT “Bắt dân đóng phí chứng tỏ anh Đinh La Thăng kém cỏi” thì có lẽ là nên miễn bàn vì đơn giản: Tiến sỹ Đinh La Thăng cũng sẽ không bao giờ tranh cãi với ca sỹ Mỹ Linh về âm nhạc
”.

Tác giả sử dụng các từ và lối diễn đạt sau đây: “văng mạng”, “phát ngôn của ‘người đẹp hát’”, “nghe người ta nói thế thì biết thế thôi”, “miễn bàn”… Về khía cạnh báo chí, lỗi lặp lại như ở trên: chủ quan, cảm tính, hàm ý miệt thị cá nhân. Có dấu hiệu của ngụy biện “tấn công cá nhân” với cách gọi Mỹ Linh là “người đẹp hát” trong ngoặc kép.

Với cách diễn đạt “miễn bàn về…”, tác giả phạm lỗi ngụy biện “Appeal to Ridicule”, tạm dịch là “Lố bịch hóa”, nghĩa là (chưa gì đã) chế nhạo ý kiến của người nói thay vì chỉ ra lỗi của người đó. Ví dụ (trích tài liệu của TS. Michael C. Labossiere, dự án Nizkor, 1995):

- Chắc chắn là đối thủ xứng đáng của tôi tuyên bố là chúng ta nên giảm bớt học phí rồi, nhưng điều này thật nực cười.

- Ủng hộ ERA à? Tất nhiên rồi, khi nào phụ nữ trả tiền đồ uống đã! Haha!


3.

Trích: “Cô ca sỹ còn đưa ra bằng chứng khá ngô nghê là “Ai bảo bắt cái ô tô oằn mình chịu đủ thứ thuế, thứ phí… là sẽ giúp giảm thiểu được tai nạn giao thông, khi mà đi xe máy ở Việt Nam mới là dễ bị tai nạn nhất! Chỉ mới cách đây hơn hai tuần thôi, vào đúng ngày 8/3, chị bạn tôi vừa mất một câu con trai 10 tuổi cũng vì hai bố con chở nhau đi xe máy, bị người ta quệt phải. Còn trước đó đi ôtô thì không sao, nhưng ô tô đã phải bán vì bố mẹ cháu không chịu nổi cơn tăng giá, phí.”

Lấy ví dụ thế thì chả hóa ra chỉ có đi ôtô như Mỹ Linh mới an toàn còn những người đi xe máy đều nguy hiểm cả. Chẳng lẽ an toàn giao thông chỉ là thứ người giàu người riêng hưởng?
”.

Tương tự trên, tác giả dùng từ “ngô nghê” là vi phạm nguyên tắc báo chí, vì vừa chủ quan, vừa cảm tính, vừa miệt thị cá nhân.

Ở đây, nếu muốn phản bác Mỹ Linh, tác giả hoàn toàn có thể chỉ ra lỗi ngụy biện trong ý kiến của ca sĩ Mỹ Linh. Tuy nhiên, thay vì thế, tác giả đã đánh phủ đầu bằng miệt thị, chế nhạo, và vẫn không có cơ sở khoa học nào. Ý kiến của tác giả, do không được chứng minh, cho nên cũng không có lý hơn Mỹ Linh là bao nhiêu.

Lấy ví dụ thế thì chả hóa ra chỉ có đi ôtô như Mỹ Linh mới an toàn còn những người đi xe máy đều nguy hiểm cả”. Thật ra thì, căn cứ vào lời được trích dẫn trên báo, thì ca sĩ Mỹ Linh không nói rằng CHỈ có đi ô-tô thì mới an toàn. Tác giả phạm hoặc là lỗi quy chụp, hoặc là lỗi trích dẫn. Một khi đã phạm lỗi quy chụp hoặc lỗi trích dẫn rồi thì các lập luận tiếp sau đó của người phạm lỗi không còn ý nghĩa nữa.

Tuy nhiên, ở đây cứ giả sử rằng chúng ta chấp nhận lỗi này của tác giả, giả sử rằng Mỹ Linh có ý cho rằng đi ô-tô an toàn hơn đi xe máy, thì Mỹ Linh vẫn đúng thay vì tác giả. Theo thống kê, tính trên 1 mile (dặm, tương đương 1,6 km), đi xe máy có nguy cơ gặp tai nạn cao hơn từ 30 đến 40 lần so với đi ô-tô. Còn khi tai nạn xảy ra, người đi xe máy có xác suất bị thương cao gấp 3 lần người đi ô-tô, và xác suất tử vong cao gấp 15 lần. Đây là các thống kê của US National Traffic Safety Board.

Chả hóa ra chỉ có đi ô-tô như Mỹ Linh mới an toàn”. Đưa cụm từ “như Mỹ Linh” vào, tác giả đã phạm lỗi ngụy biện “Appeal to Spite”, tạm dịch là “gây thù chuốc oán”. Đây là ngụy biện theo đó, thay vì đưa bằng chứng cho thấy một người nào đó (Mỹ Linh) nói như vậy là sai, thì lại tìm cách làm cho người đó bị số đông ghét bỏ.

Tương tự, “Chẳng lẽ an toàn giao thông chỉ là thứ người giàu người riêng hưởng?”, cũng là lỗi ngụy biện “gây thù chuốc oán”.


4.

Trích: “Hàm lượng “chất xám” trong phát biểu của ca sỹ Mỹ Linh có lẽ cũng chỉ nên bàn đến thế. Cái cần bàn của chúng ta ở đây là thái độ xây dựng, cách phát ngôn của những “con người công chúng” với công việc chung, với lợi ích chung của cả xã hội.

Trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục để cùng chung lưng đấu cật tìm ra biện pháp tháo gỡ vướng mắc, giải bài toán ách tắc giao thông thì “người của công chúng” lại đăng đàn và phát ngôn một cách vô trách nhiệm như thế
”.

Hàm lượng “chất xám” trong phát biểu của ca sỹ Mỹ Linh có lẽ cũng chỉ nên bàn đến thế”: chủ quan, cảm tính, miệt thị, xúc phạm cá nhân.

Trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục để cùng chung lưng đấu cật tìm ra biện pháp tháo gỡ vướng mắc, giải bài toán ách tắc giao thông thì “người của công chúng” lại đăng đàn và phát ngôn một cách vô trách nhiệm như thế”. Tác giả phạm các lỗi ngụy biện sau đây:

- gây thù chuốc oán (Appeal to Ridicule), đã phân tích ở trên

- có dấu hiệu của ngụy biện “viện đến tình cảm của số đông” (Appeal to Emotion): “trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục…”. Sở dĩ mới là “có dấu hiệu”, vì ngụy biện này của tác giả, ngay cả khi được sử dụng, vẫn không có hiệu quả. Trong khi cả hệ thống chính trị, cả xã hội đang sôi sục để cùng chung lưng đấu cật tìm ra biện pháp… thì Mỹ Linh cũng vậy, cô ấy cũng đang góp một tiếng nói trong cái hệ thống chính trị và cái xã hội đó, cho dù nó có vô trách nhiệm (như tác giả đã miệt thị một cách ngụy biện, thiếu căn cứ) hay không.

- đe dọa (Appeal to Fear): Đây là kiểu ngụy biện trong đó thay vì lập luận, đưa ra bằng chứng cho thấy Mỹ Linh sai thì lại có hàm ý đe dọa: Tất cả mọi người đều đang như thế này mà cô lại như thế kia à?

- “sức ép về bằng chứng” (Burden of Proof): Ví dụ của ngụy biện này như sau: “Theo tôi, chắc chắn là có ma. Vì sao à? Thì anh thử chứng minh xem? Đấy, anh không chứng minh được là không có ma. Như vậy tức là có ma”.

Ở đây, tác giả cũng đẩy sức ép về bằng chứng sang cho ca sĩ Mỹ Linh: Cô có biện pháp tháo gỡ vướng mắc, giải bài toán ách tắc giao thông không mà cô dám lên tiếng?


5.

Trích: “Ngay sau khi cô ca sỹ này đăng đàn vài ngày, tại cuộc họp của Thành ủy Hà Nội bàn về vấn đề chống ùn tắc, Bí thư Thành ủy Hà Nội Phạm Quang Nghị tâm sự “Gia đình tôi đã hạn chế đi xe cá nhân để giảm ùn tắc”. Sự gương mẫu của Bí thư Phạm Quang Nghị hẳn sẽ là một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo.

Ông cho rằng: “Nhiều cá nhân khi bị đụng chạm quyền lợi thì phản ứng gay gắt. Bỏ ra cả tỉ đồng mua xe thì không công khai rằng tiền từ đâu ra, trong khi đóng vài triệu xây dựng đường thì phản ứng
”.

Lỗi nghiệp vụ báo chí: “Sự gương mẫu của Bí thư Phạm Quang Nghị hẳn sẽ là một tấm gương lớn cho nhiều người noi theo” là một cách viết suy diễn, chủ quan, cảm tính (chưa nói đến sự thiếu công bằng, và dụng ý xu nịnh).

Ngụy biện “Appeal to Authority”, tạm dịch là “viện dẫn thẩm quyền”: Đây là cách viện dẫn ý kiến của một người thực ra không phải là nhân vật chính đáng để có thể được trích dẫn. Phía trên bài, tác giả có ý cho rằng Mỹ Linh, với tư cách ca sĩ, không xứng đáng để nói về chính sách thu thuế và phí của Bộ trưởng GTVT Đinh La Thăng. (Trong khi thực ra Mỹ Linh hoàn toàn có thể phát biểu với tư cách một người dân có sở hữu ô-tô, và sử dụng ô-tô để tham gia giao thông). Vậy ở đây, ông Phạm Quang Nghị – với các chuyên ngành ông từng học là lịch sử và triết học trường Nguyễn Ái Quốc – có phải là nhân vật xứng đáng hơn Mỹ Linh để được tác giả viện dẫn, muốn số đông phải noi theo?


6.

Trích: “Nữ ca sỹ Mỹ Linh: Nhà rộng 1,3 hecta, hai vợ chồng mỗi người một chiếc xe hơi. Đấy là chưa kể xe của Mỹ Linh là xe Mitsubishi Grandis có 7 chỗ ngồi. Như vậy là một mình nữ ca sỹ mỗi khi ra đường đã chiếm diện tích bằng 4 người đi xe máy. Hẳn nữ ca sỹ cũng muốn đóng phí cho “đỡ ngại” với mọi người!

Tôi cũng xin cược rằng: Ca sỹ Mỹ Linh với son phấn, váy vóc xúng xính, quần áo thời trang chắc hẳn sẽ hiếm khi dám rời xế hộp vủa mình để leo lên xe bus, chung tay góp phần giảm ách tắc giao thông như Bộ trưởng Thăng. Đơn giản thôi, xế hộp có, lên xe bus làm gì, vừa đông người vừa… hỏng váy!
”.

Ngụy biện “gây thù chuốc oán” được sử dụng triệt để. Bên cạnh đó là ngụy biện “tấn công cá nhân” (Personal Attack), một loại lỗi ngụy biện kinh khủng bởi vì nó rất… vô học.


7.

Trích: “Chuyện Mỹ Linh đăng đàn khen chê cũng nhắc chúng ta nhớ lại một cái bệnh rất xấu mà truyền thông đang mắc phải: Khi nhà nước cần lấy ý kiến về một vấn đề gì đó thì không ít người nhảy vào chê bai một cách thiếu khách quan, không mang tính xây dựng:

Lấy ý kiến về công trình xây dựng thì hỏi ý kiến… nhà thơ.

Lấy ý kiến về việc bắt buộc đội mũ bảo hiểm thì hỏi… nhà văn hóa.

Lấy ý kiến về chính sách giao thông, các kỹ sư còn chưa kịp nói gì thì ca sỹ, nghệ sỹ đã… lên tiếng ầm ầm
”.

Nếu bàn ra ngoài văn bản thì có thể đồng ý với tác giả phần nào, tuy nhiên, xét trên văn bản, đây là những đoạn viết chủ quan, cảm tính, miệt thị, không bằng chứng.


8.

Trích: “Ai cũng thừa nhận rằng: bất cứ một cuộc đại phẫu nào cũng phải chịu đau, trong cuộc sống muốn có được thứ này thì phải hi sinh thứ khác, muốn đạt được cái đại cục thì phải hi sinh cái tiểu tiết. Còn nếu muốn cái gì cũng được, chắc phải lên… thiên đàng – thông minh và xinh đẹp như Mỹ Linh, chắc sẽ hiểu điều đó!

Người dân yêu mến Bộ trưởng Đinh La Thăng vì ông là con người hành động. Không lẽ giờ Bộ trưởng phải “nằm im thở khẽ”, đừng đụng chạm đến quyền lợi của ai thì mới làm cho nữ ca sỹ hài lòng!
”.

Xin nhắc lại một đoạn ở trên: Ở đây có lỗi nghiệp vụ báo chí: “Người dân yêu mến Bộ trưởng Đinh La Thăng vì ông là con người hành động” là một cách viết suy diễn, chủ quan, cảm tính (chưa nói đến sự thiếu công bằng, và dụng ý xu nịnh).

Ngụy biện “gây thù chuốc oán” được sử dụng triệt để. Bên cạnh đó là ngụy biện “tấn công cá nhân” (Personal Attack), một loại lỗi ngụy biện kinh khủng bởi vì nó rất… vô học.


Thứ ba, ngày 20 tháng ba năm 2012

Kissinger bàn về Trung Quốc: Đặng Tiểu Bình

Cuộc cách mạng không ngừng nghỉ của Mao Trạch Đông để lại một nước Trung Hoa thống nhất nhưng ngổn ngang với những công xã nông thôn đói nghèo, một nền kinh tế trì trệ. Nhưng theo cách nói của một số người lạc quan thì “phải có phá mới có xây”; chính từ xuất phát điểm là cái xã hội bị “thanh lọc” sạch sẽ đó mới có Trung Quốc ngày nay.

Như Kissinger tổng kết trong cuốn “On China” của ông, thì Mao đã tàn phá Trung Hoa truyền thống và để toàn bộ đống đổ nát đó lại cho Đặng Tiểu Bình xây nên những tòa nhà mới. “Đặng can đảm tiến hành công nghiệp hóa từ những sáng kiến và sự bền bỉ của mỗi người dân Trung Quốc. (…) Trung Hoa ngày nay – với nền kinh tế lớn thứ hai và dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới – là sự chứng thực cho tầm nhìn, ý chí và lương tri của Đặng”.

Con người bé nhỏ, tầm nhìn rộng lớn

Với chiều cao chưa đầy 1m50, Đặng Tiểu Bình bị xếp vào danh sách những chính khách có thân hình khiêm tốn trong lịch sử thế giới, cùng Napoleon, Hitler… Nhưng tầm nhìn và tham vọng của ông thì không thấp bé chút nào. Henry Kissinger nhắc đến và trích dẫn một bài diễn văn của Đặng, tháng 5-1977, trong đó Đặng kêu gọi toàn dân Trung Quốc phải phấn đấu vượt cả cải cách Minh Trị của Nhật Bản. Đó là một cách nói khôn ngoan, vì nó vừa kích thích lòng tự hào dân tộc của người Trung Hoa (nhất là trước Nhật Bản), vừa có phần thực dụng: Trong khi Mao bao nhiêu năm trời hô hào dân chúng chịu đựng để tiến tới xã hội “đại đồng” – một khái niệm rất mơ hồ – thì Đặng chỉ thúc giục họ tiến lên, vượt qua đói nghèo lạc hậu.

“Chìa khóa để hiện đại hóa là phải phát triển khoa học công nghệ. Mà nếu chúng ta không dành sự chú ý đặc biệt cho giáo dục, thì sẽ không thể phát triển khoa học công nghệ được. Những cuộc thảo luận rỗng tuếch sẽ chẳng đưa chương trình hiện đại hóa của chúng ta về đâu hết; chúng ta phải có kiến thức, phải có nguồn nhân lực được đào tạo…”. Và Đặng dũng cảm nhìn thẳng vào sự thật: “Giờ đây Trung Quốc đi sau các nước phát triển tới 20 năm, về khoa học, công nghệ và giáo dục”.

Đặng nói những lời thẳng thắn ấy vào năm 1977. Tháng 3-1978, ông chủ trì Đại hội Khoa học Toàn quốc, nhắc lại một lần nữa rằng Trung Quốc đã lạc hậu so với thế giới từ 15 đến 20 năm trên tất cả các mặt, đồng thời, đưa ra một kế hoạch phát triển khoa học đầy tham vọng với 108 dự án trọng điểm nghiên cứu của giới khoa học toàn quốc. Gần đây, Ngô Hiểu Ba (Wu Xiaobo), nhà báo nổi tiếng thuộc Tân Hoa Xã, đã viết trong cuốn “30 năm sóng gió” (vừa ra mắt độc giả Việt Nam tháng 11 vừa qua) rằng: “Lịch sử sau này đã chứng minh, những mục tiêu này hoàn toàn có thể đạt được. Nhưng tại thời điểm lúc bấy giờ, thì những kế hoạch này quả thật đã gây chấn động xã hội Trung Quốc, đến mức dường như người ta đang mơ hồ nghe thấy âm thanh rầm rập chuyển bánh của chuyến tàu thời đại”.

Tầm nhìn và ý chí của Đặng Tiểu Bình, chứ không phải cái gì khác, đã thổi bùng niềm cảm hứng mới cho nhân dân Trung Quốc. Henry Kissinger nhận định: “Các xã hội vận hành theo những tiêu chuẩn trung bình. Chúng duy trì được sự tồn tại là nhờ thực hiện những điều bình thường, quen thuộc. Thế nhưng, chúng tiến lên được là nhờ những nhà lãnh đạo có tầm nhìn, biết phát hiện ra điều cần phải làm, và có lòng can đảm để thực hiện một sự nghiệp mà ích lợi của sự nghiệp ấy, ban đầu, phụ thuộc gần như hoàn toàn vào tầm nhìn của họ”.

Đời tư khép kín

Cuốn sách “On China” của cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger cũng đưa ra một nhận xét thú vị về con người Đặng Tiểu Bình, nhất là trong tương quan với phương Tây. Theo Kissinger, ở các nền văn hóa Tây phương, giới cai trị muốn củng cố sức mạnh của mình đều phải thông qua truyền thông, giao tiếp với dân chúng bị trị. “Đó là lý do tại sao ở Athens, Rome, và nhiều nhà nước đa nguyên ở phương Tây khác, nghệ thuật diễn thuyết, hùng biện được xem như một tài sản quý báu của chính khách. Ở Trung Quốc thì không có truyền thống (xem trọng) hùng biện đó, trừ Mao phần nào là một ngoại lệ” – Kissinger viết.

Các nhà lãnh đạo Trung Quốc trong lịch sử không củng cố quyền lực dựa vào kỹ năng diễn thuyết hay giao tiếp với công chúng. Theo truyền thống quan lại phong kiến của mình, họ hoạt động nói chung là kín đáo, không lộ cho dân biết, và hợp thức hóa tính chính thống thông qua hành động, việc làm. Đặng không có văn phòng lớn; ông từ chối tất cả các danh xưng cung kính; ông gần như không bao giờ xuất hiện trên truyền hình, và làm chính trị hầu như hoàn toàn là sau rèm. Ông điều hành đất nước không giống như hoàng đế, mà giống một ông quan lớn”.

Đây lại là một nhận xét chí lý nữa của Henry Kissinger. Điều lý thú là phong cách lãnh đạo kín đáo, “khuất mắt” công chúng này tiếp tục được duy trì cho đến ngày nay. Trong một bài viết gần đây trên tờ The Nation, nhà phân tích Joshua Kurlantzick nhận định: “Thiếu một nhân vật có tài thống nhất thiên hạ như Đặng hay Mao, ban lãnh đạo Trung Quốc ngày nay về căn bản là một nhóm không diện mạo, gồm những kỹ sư – đảng viên lâu năm, lên được chức vụ cao không phải kinh qua chiến đấu hay nhờ đã phát triển các tư tưởng chính trị, kinh tế, mà bằng việc nuôi dưỡng hệ thống quan liêu ở cấp cao hơn họ và hé lộ càng ít càng tốt các tư tưởng cũng như dự định của họ. Đương kim Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào là điển hình của đường lối kín như mật mã này. Trước khi giành được quyền lực vào năm 2004, Hồ rất hiếm khi bàn về bất kỳ chủ đề nào quan trọng, đến nỗi cả phe bảo thủ lẫn phe tự do ở Trung Quốc đều coi ông ta là người của phe mình. Kể từ đó, Hồ thể hiện tình cảm ở mức tối thiểu trước công chúng và tránh tiếp xúc, ngay cả khi theo sát kịch bản nhất, với báo chí và những người ngoài đảng”.

“Cải cách và mở cửa”

Kissinger cũng không bỏ lỡ một dịp so sánh Đặng Tiểu Bình với lãnh tụ Mao Trạch Đông. Ông cho rằng, Mao lãnh đạo Trung Quốc nhờ vào việc tận dụng, khai thác tính bền bỉ, chịu đựng của người Trung Quốc – nếu không phải dân tộc này mà là một dân tộc cứng đầu nào đấy thì họ đã chẳng chấp nhận viễn cảnh “xã hội đại đồng” áp đặt lên họ. Còn Đặng điều hành đất nước bằng việc giải phóng sức sáng tạo của nhân dân, để họ tự xây dựng viễn cảnh cho riêng mình.

Mao phấn đấu phát triển kinh tế với niềm tin mãnh liệt rằng quần chúng nhân dân Trung Hoa sẽ vượt qua bất kỳ vật cản nào bằng ý chí và sự trong sạch về ý thức hệ (thế nên mới cần phải tiến hành “thanh lọc” xã hội triệt để như thế). Trong khi đó, Đặng thẳng thắn nhìn nhận tình cảnh nghèo đói khốn khổ của Trung Quốc, đưa ra những khẩu hiệu rất rõ ràng: “Nghèo đói không phải là chủ nghĩa xã hội”, “Làm giàu là vinh quang”, và đỉnh cao là khẩu hiệu của Đại hội Đảng lần thứ ba, tháng 12-1978: “Cải cách và mở cửa”.

Suy cho cùng, chính Đặng Tiểu Bình là một người Trung Quốc điển hình. Ngô Hiểu Ba viết: “Con người gốc Tứ Xuyên có dáng vóc nhỏ nhắn này luôn ẩn chứa sức chịu đựng và lòng kiên nhẫn đáng kinh ngạc cùng một khả năng quyết đoán chính trị thấu suốt tất cả”. Với sức chịu đựng bền bỉ đặc trưng của tính cách Trung Hoa ấy, ông là nhà lãnh đạo có tới ba lần bị hạ bệ trong những đợt “thanh trừng” của cách mạng Trung Quốc.

Kissinger trích lời Đặng: “Trên thực tế, cuộc tranh luận hiện nay về việc thực tiễn có phải là tiêu chuẩn duy nhất để kiểm nghiệm chân lý hay không, cũng là cuộc tranh luận về việc trí tuệ con người có cần được giải phóng không… Khi mọi thứ đều phải được tiến hành y như sách, khi tư duy trở nên xơ cứng và niềm tin mù quáng thịnh hành, thì một đảng, hay một quốc gia, sẽ không thể tiến bộ được. Đời sống của nó sẽ chấm dứt ở đây, và đảng hay quốc gia đó sẽ tàn lụi”. Ở tuổi 73 (năm 1978), Đặng đã viết như thế, và thổi luồng gió cải cách vào đất nước với những tuyên bố mà người dân Trung Quốc chưa từng được nghe trước đó.


Thứ bảy, ngày 03 tháng ba năm 2012

Đọc truyện đêm khuya: Đất đai, nông dân và nông thôn Việt Nam

Đây là một phần Chương II, Selling the Fields (“Bán ruộng”) trong cuốn sách “Vietnam – Rising Dragon” (Việt Nam – con rồng trỗi dậy) của Bill Hayton, nguyên phóng viên BBC tại Hà Nội. Trong bối cảnh vụ Tiên Lãng báo hiệu nhiều xáo trộn, tôi nghĩ sẽ là một việc có ích, ít nhất cũng là điều thú vị, nếu chúng ta tham khảo những gì một nhà báo phương Tây từng viết về nông thôn Việt Nam cách đây vài năm.

Tiêu đề của phần này do người dịch đặt. Quan điểm của người dịch không nhất thiết trùng quan điểm của tác giả. Người dịch không chịu trách nhiệm về việc kiểm chứng thông tin trong bài viết. Xin lưu ý: Một nhân vật được nhắc tới trong đoạn dưới đây – ông Vũ Ngọc Kỳ, nguyên Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam – đã mất năm 2008. Mong bạn đọc lưu tâm điều này để có thái độ chừng mực cần thiết khi bình luận.

* * *

Mồng 10 tháng giêng năm 2007, trước ngày Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Tran Thi Phu cào đất trên thửa ruộng của mình ở tỉnh Hà Tây và chở đất đi bằng xe cải tiến. Dưới bầu trời mùa đông buồn tẻ, chị và người em họ dùng cuốc cạo hết lớp đất ở trên, đổ vào những chiếc bao tải cũ đựng phân bón và kéo bao tải lên xe. Tiếp theo, hai chị em sẽ đẩy xe vào làng, Hoài Đức, cách đó vài trăm mét, để bán đất ấy cho một người hàng xóm đang muốn phát triển vườn cây ăn quả. Khắp cánh đồng sau lưng họ là một dọc những cọc gỗ thấp dùng để đánh dấu. Chỉ trong vòng vài tuần nữa thôi, chúng sẽ đánh dấu cái ranh giới giữa tương lai và quá khứ. Mọi thứ ở bên trái họ rồi sẽ trở thành một phần trong một dự án bất động sản tư nhân, còn bên phải họ thì những phụ nữ chân đất vẫn sẽ tiếp tục trồng cấy lúa bằng tay không. Mới hôm trước đó, chị Phu được thông báo là chị sẽ nhận được khoản đền bù bằng mức thu nhập của khoảng 5 năm làm nông dân trên thửa ruộng của chị. Nhưng thông tin đó không làm chị vui. “Tôi chẳng biết dùng tiền ấy làm gì cả” – chị nói. “Có lẽ tôi sẽ đầu tư vào cái gì đó, nhưng cũng chưa biết là vào đâu. Tôi là nông dân, tôi chỉ biết trồng lúa và nuôi gà nuôi lợn thôi. Tôi không biết kinh doanh, không biết mua bán gì cả. Tôi muốn nhà nước xây một nhà máy lớn ở đây để rồi chúng tôi đi làm công nhân, như thế tốt hơn là bồi thường bằng tiền hay căn hộ”.

Phía bên phải hàng cọc, cuộc sống vẫn tiếp tục như thường. Mặc dù phải cưỡi trâu dầm trong làn nước giá lạnh của mùa đông, nhưng một nông dân khác, chị Nguyen Thi Hang, lại tỏ ra còn hơn cả hài lòng với số phận của mình. Chị cho là đời sống đang tốt đẹp hơn bao giờ hết. “Cách đây 5 năm, tôi phải mất gần cả ngày để đẩy xe đạp từ chợ ở Hà Nội về nhà, chở rau cỏ cho trâu bò lợn. Bây giờ thì tôi có thể ra Hà Nội và quay về trong vòng hai tiếng đồng hồ, nếu được ông xã đèo bằng xe máy”. Chị là một điển hình của nông dân hiện đại. “Trước kia phải mất sáu tháng để nuôi một con lợn ta lên được 60 cân, còn giờ tôi có thể vỗ béo một con lợn giống Tây lên 60 cân chỉ trong hai tháng”. Câu chuyện thành công của chị còn lặp lại ở nhiều nơi trên khắp đất nước; thật là tin xấu đối với giống lợn sề của Việt Nam – đám lợn này gần như đã tuyệt chủng ở quê hương của chúng – nhưng là một tiến bộ mang tính cách mạng đối với hàng triệu nông dân Việt Nam. Vợ chồng chị Hang vẫn tiếp tục làm ruộng, nhưng con cái của họ thì không còn ý định sống cả đời trong cảnh lưng còng, tay đầy bùn nữa. Ngày ngày chúng đi xe máy về Hà Nội, con trai đi làm cho một công ty máy tính, con gái làm cho một cửa hàng bán quần áo. 5 năm về trước, chúng còn sung sướng được cưỡi xe Honda Dream sản xuất ở Trung Quốc. Bây giờ, chúng không dại gì chết tắc với loại xe dành cho ông già đó. Đồ chúng mua sắm, dù là xe máy hay điện thoại di động, đều phải nhằm mục đích phô trương.

Nhưng với tất cả những thứ đó, gia đình cũng sẽ không bỏ đất. Đất vẫn là chiếc mỏ neo của họ. Chính vì mất chiếc mỏ neo đó mà chỉ cách đó 100 mét, chị Tran Thi Phu đang than thở kia. Đối với cả hai người phụ nữ này, mà thật ra là đối với bất kỳ nông dân trên 30 tuổi nào, nạn đói vẫn cứ là một ký ức sống động. Vào đầu những năm 1980, sự kết hợp giữa các nguyên nhân chiến tranh, cấm vận, và chủ nghĩa xã hội nhà nước giáo điều, đã gây thiếu lương thực trầm trọng và dẫn đến nạn đói. Di chứng của cái thời ấy vẫn còn in đậm trên cơ thể của tất cả những người Việt Nam lớn lên trong tình trạng thiếu dinh dưỡng. Nỗi sợ một chuyện tương tự như thế có thể lại xảy ra khiến nông dân bám chặt lấy đất: họ có niềm tin rằng điện thoại di động có ngừng kêu thì họ vẫn còn có thể tự trồng lúa và sống được. Mất đất là đâm đầu vào cảnh mất ổn định.

Hai người phụ nữ – Nguyen Thi Hang và Tran Thi Phu – là những bằng chứng sống về quá trình chuyển đổi ở Việt Nam. Đời sống hiện nay khá hơn cực nhiều so với 20 năm về trước. Hầu hết những thăng trầm khi xưa của đời sống nông dân đã được khắc phục. Tỷ lệ suy dinh dưỡng giảm, bệnh truyền nhiễm được kiểm soát, tuổi thọ kéo dài hơn. Đất đai được phân bổ rộng rãi và nông dân đã có quyền trồng cây gì họ muốn và đem bán, trên lý thuyết là cho bất kỳ ai họ muốn. Kết quả thật ấn tượng. Trong không đầy ba thập kỷ, số người nghèo giảm hẳn, nông thôn đã có điện; đường xá, trạm y tế, trường học và hệ thống vệ sinh đều được xây dựng. Nhưng vẫn còn cần nhiều thời gian để vượt qua những gánh nặng của quá khứ. Cuộc sống của người nông dân vẫn còn khó khăn.

Khi nền kinh tế tiến hành công nghiệp hóa, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm còn một nửa – từ 40% vào giữa thập niên 1980 xuống 20% ngày nay. Nhưng số nông dân giảm chậm hơn thế nhiều – từ ba phần tư dân số trong thập kỷ 80 xuống còn khoảng một nửa dân số như bây giờ. Nói cách khác, nông dân đang nhận một tỷ lệ thấp hơn lợi ích của tăng trưởng trong một số người rộng lớn hơn. Họ đã giàu lên, nhưng mức độ ít rõ rệt hơn so với những người lao động ngoài khu vực nông nghiệp. Tuy có một số nông dân khá giả, nhưng phần còn lại đang phải vật lộn để xoay sở, và họ có thêm một loạt vấn đề phải đối mặt. Gió độc vẫn thổi qua những cánh đồng lúa, dưới hình thức những vụ cưỡng chế đất đai, quan chức địa phương cướp bóc của dân, và sự biến động của thị trường toàn cầu. Các ảnh hưởng đều sẽ rất nguy hiểm cho tương lai của đất nước, bởi lẽ nông thôn hiện giờ vẫn là nơi an cư đối với phần lớn người Việt – khoảng 70% – mặc dù, như hai phụ nữ nói trên đã chỉ ra, ở nhiều nơi, “nông thôn” tồn tại trong định nghĩa và phân loại của chính quyền nhiều hơn là trên đất đai. Một thời gian rất dài sau khi dự án bất động sản ở Hoài Đức hoàn thành, khu vực này chắc chắn vẫn sẽ được gọi là “nông thôn”.

Tổ chức có nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi của nông dân đóng trụ sở ở một trong số rất nhiều biệt thự quét vôi vàng trong “khu Đảng” nằm dọc đường Quán Thánh (Hà Nội). Phòng họp của họ có cái công thức thường xuyên của mọi cơ quan nhà nước: rèm nhung đỏ, tượng bán thân bằng đồng của ông Hồ Chí Minh, và một khẩu hiệu lớn mạ vàng khẳng định rằng “Đảng Cộng sản Việt Nam quang vinh muôn năm”. Hội Nông dân là một trong những “tổ chức quần chúng” chủ lực của Đảng. Vai trò của nó là làm “sợi dây nối” giữa nông dân và Đảng – nhưng cũng là hướng dẫn nông dân về chính sách của Đảng. Lãnh đạo Hội năm 2007, ông Vũ Ngọc Kỳ, giữ một nhiệm vụ khó tới mức đáng sợ, nhưng vẫn còn dành thời gian rảnh rỗi để sáng tác và xuất bản thơ. Hôm tôi gặp ông, ông vừa hoàn thành một tập thơ nữa – thơ ca ngợi các thành viên của Hội. Trong đó, ông kêu gọi nông dân hãy làm giàu cho đất nước để đất nước bắt kịp với phần còn lại của thế giới. “Mùa xuân đến đem theo bao hy vọng, hoa hồng tươi và chúng ta lại tiến tới ngày mai…”, có một câu thơ như vậy. Nhưng ông cũng rất ý thức được rằng đối với những người nông dân đang chật vật tồn tại, mùa xuân mang đến điềm gở hơn là vận hội. Liệu còn đủ cái ăn cho tới mùa gặt không? Làm sao xoay sở được?

Không như các lãnh đạo nông dân ở nhiều nước khác, ông Kỳ không coi công việc của mình là phải bảo vệ quyền của các thành viên trong hội – quyền được ở trên đất của họ. Ông tỏ ra rất thẳng thắn khi nói về những việc cần làm. “Hiện tại chúng tôi có 32 triệu người lao động ở nông thôn, và có thể nói rằng khoảng 10 triệu trong số họ ở trong tình trạng bán thất nghiệp”. Giải pháp của ông không phải là yêu cầu nhà nước trợ cấp nhiều hơn cho nông dân để duy trì cuộc sống của họ. Đảng đã quyết định công nghiệp hóa đất nước, một số lượng lớn nông dân phải rời đất, và với tư cách chủ tịch Hội Nông dân, ông sẽ phải làm sao để bảo đảm việc đó. Ông Kỳ dự đoán là trong những năm tới, một phần ba số nông dân cả nước sẽ thất nghiệp, như là kết quả của hiện đại hóa nông nghiệp và cạnh tranh từ hàng nhập khẩu. “Do đó, việc quan trọng nhất bây giờ là phải đào tạo để họ có kỹ năng tốt hơn, đáp ứng được yêu cầu của các ngành dịch vụ” – ông bảo vậy. Nói cách khác, nông dân cần được đào tạo lại để trở thành bồi bàn hoặc lái xe. Hội Nông dân đã hoàn toàn dựa vào (lý thuyết) phân chia giai cấp để đào tạo những kỹ năng mà họ nghĩ là sẽ cần thiết trong nền kinh tế mới.

Đoan Trang biên dịch