Articles  Privacy

 

Wednesday, May 23, 2012

Lửa thiêng


Photobucket


Khổ đẹp, giấy đẹp, trình bày đẹp, số trang dầy dặn cũng rất đẹp (hơn 400 trang)  chất lượng thì... vô cùng yên tâm :). Nội dung của tạp chí đây:


Photobucket

Tôi chỉ lăn tăn mỗi một điều, ấy là, hồi trước năm 1975 cũng có một tạp chí tên là Lửa Thiêng, sự tồn tại của nó rất ngắn ngủi, hình như chỉ ra được 2 số là dừng luôn. Lửa Thiêng hiện tại, chả biết có phải vì trùng tên hay không mà chưa chi đã thấy....hồng nhan lận đận.  Mới  ra được số 1 nhưng số tiếp theo thế nào thi còn phải...chờ mới biết được.

Photobucket

Thursday, April 19, 2012

Lòng hào hiệp (2)


Dự báo thời tiết: Hà Nội hôm nay nóng trên 30 độ C, trời từ sáng đã oi bức âm u, nhưng không có mưa. Vậy mà đã có một hiện tượng lạ xảy ra: nước ngập lênh láng trên một con phố gần khu phố cổ của Hà Nội. Nghe thiên hạ đồn rằng: đó là do sự cố rò rỉ của những giọt nước mắt quá vui mừng.


Photobucket



Chuyện lạ đó đây: một phụ nữ “có tuổi” đã “khiêu vũ quay tròn” với một thùng sách trong những tiếng la hét đầy kích động trước sự chứng kiến đầy bao dung của nhiều nhân chứng. Rất may không có một clip nào được quay lại. :)



Photobucket

Bạn hãy ngắm nhìn những cuốn sách này xem, chúng thật đẹp đẽ xiết bao, nhưng giá như bạn biết được, chúng có một thông điệp đe dọa ngấm ngầm: “Liệu hồn đấy nhá, hãy học lại căn bản từ đầu cho tử tế!”.


Photobucket
"Liệu hồn! Hãy học lại căn bản từ đầu cho tử tế!"

........
Cảm ơn rất nhiều, những tấm lòng hào hiệp! 

Thursday, April 12, 2012

Đối Vương hay Hùng Vương (tiếp theo)


Tôi đã có thể xác định chắc chắn rằng bản Việt sử lược ký hiệu VHv.1521 không phải là bản mà ông Trần Quốc Vượng dùng để dịch sang tiếng Việt. Ký hiệu VHv.1521 được in kèm thêm vào bản in Việt sử lược năm 2005 chỉ là một giải pháp tình thế (đây là một câu chuyện liên quan đến văn bản học sử liệu mà tôi sẽ nói  sau).


Photobucket
Bản Việt sử lược in năm 2005
Photobucket














Tuy nhiên, suy luận của tôi về việc ông Trần Quốc Vượng dịch Việt sử lược trên một bản chép tay vẫn đứng vững khi có người (đáng tin cậy) khẳng định điều đó. Nhưng lúng túng ở chỗ người cung cấp thông tin cũng không rõ bản đó là bản nào? Le Minh Khai ở đây đã chỉ ra một chi tiết quan trọng: Trong VHv.1521 không nhắc gì đến 守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư), trong khi tại bản dịch của Trần Quốc Vượng lại nêu rõ chi tiết đó. Nếu thực sự ông Trần Quốc Vượng đã dịch Việt sử lược dựa trên một bản chép tay thì bản đó nhất định phải có đầy đủ các yếu tố đã nêu trong phần dịch.

Hiện nay trong Kho sách của Viện Hán Nôm có 2 bản Việt sử lược 越史略. 1 bản có ký hiệu VHv.1521 như tôi đã nói ở bài trước. 1 bản khác có kí hiệu VHv.1331. Trong Thư mục đề yếu có thuyết minh rõ: Đây là bản do Hoàng Xuân Hãn chép bằng bút mực xanh trên giấy tây kẻ sẵn theo hàng dọc. Cuốn này trong Thư viện Hoàng Xuân Hãn có kí hiệu là A.74.



Photobucket
Việt sử lược ký hiệu VHv.1331



Photobucket
Mục "Quốc sơ duyên cách" bản VHv.1331

Khi chúng tôi khảo sát văn bản VHv.1331, lúc đầu thật khó phát hiện ra dòng chữ 守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư), vì nó bị đóng chẹt vào gáy sách (nếu không nhìn kỹ sẽ hoàn toàn không biết đến dòng chữ này).



Photobucket
守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư) 
Photobucket
守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư) 



Và không ngoài dự đoán của chúng tôi, cũng giống như VHv.1521, toàn bộ những chỗ chép là “Đối” trong nguyên bản Tứ khố, đều tự động chuyển thành “Hùng” (hữumột bên, bộ chuymột bên) trong bản chép tay VHv.1331.

Photobucket
Bản Việt sử lược trong Tứ khố
Photobucket
Bản Việt sử lược bản VHv.1331


Chính vì sự phát hiện ra dòng chữ守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư) ở một vị trí khó khăn như thế (nằm kẹp trong gáy sách) nên chúng tôi nghi ngờ bản VHv.1521 cũng trong trường hợp tương tự. Bản VHv.1521 mà Thư viện Hán Nôm cung cấp cho độc giả là bản copy. Tôi có chút băn khoăn giả dụ nếu ở bản gốc của ký hiệu VHv.1521守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư) cũng được chép ở một vị trí sát gáy sách thì khi photo sách có thể dòng chữ đó sẽ bị bỏ sót. Tuy nhiên khi tôi ngỏ lời muốn xin được phục vụ bản gốc thì Thư viện họ yêu cầu phải có sự đồng ý của cấp lãnh đạo Viện. Vì các thủ tục cần có một thời gian nhất định nên tạm thời với trường hợp VHv.1521 tôi chưa thể xác minh rõ có hay không có dòng chữ守山閣叢書 (Thủ sơn các tùng thư).   

Tôi không khẳng định chắc chắn rằng ông Trần Quốc Vượng có thể đã dịch Việt sử lược từ bản chép tay của Hoàng Xuân Hãn. Bởi vì sẽ còn nhiều các vấn đề rắc rối khác của yếu tố văn bản học mà hiện giờ tôi chưa thể khảo sát. Nhưng lần này, vấn đề thực sự mà tôi quan tâm lại không nằm ở chuyện ông Trần Quốc Vượng đã dịch từ bản nào. Việc xác minh lại các thông tin của bản VHv.1331 càng khiến tôi băn khoăn: tại sao trong các bản chép tay của Việt sử lược ở Việt Nam, “Đối vương” lại “tự động” được chép thành “Hùng vương” như một sự mặc nhiên? Trong khi những bản Việt sử lược in thành sách ở Trung Quốc chữ Đối vẫn được giữ nguyên? Có phải vì tự dạng của hai chữ “hùng” và “đối” quá giống nhau nên khi người sao chép ở Việt Nam đã có sự nhầm lẫn? Hay người sao chép nghiễm nhiên cho rằng “Đối” là sai, “Hùng” mới đúng. Với những người tiến hành sao chép Việt sử lược (những trí thức Nho học) ở Việt Nam dường như được kế thừa một thứ “tiềm thức Hùng Vương”, thứ tiềm thức này đã tồn tại từ các thế hệ trí thức Nho học trước nữa, trước nữa và trước nữa nữa, khiến cho các khả năng có một vị tổ tiên dân tộc khác không phải tên là Hùng Vương đều bị loại bỏ, nghĩa là vị tổ tiên của dân tộc nhất định phải là “Hùng”? Thậm chí ngay cả Hoàng Xuân Hãn cũng mang "tiềm thức" này nếu quả thực ông chính là người chép văn bản VHv.1331. 'Hùng" bắt đầu được tiếp nhận vào Việt Nam từ bao giờ và qua hệ thống sử liệu nào? Vậy tại sao trí thức phong kiến nhất quyết chọn “Hùng” mà không phải “Lạc” (trong khi "Lạc" đáng nhẽ phải là "ứng cử viên" số một vì tư liệu ghi chép về nó có niên đại  sớm hơn)? Nó phản ánh ý thức hệ gì và  cho thấy gì về hệ thống sử liệu Nho gia Việt Nam?

Một ghi chú nhỏ: “Đối”: chày giã gạo
……………………….
Bàn về Lạc Vương và Hùng Vương trên Tri Tân (hay là sự trỗi dậy của ứng cử viên "Lạc Vương" cho ghế "quốc tổ" :)) :))):

1. Nguyễn Văn Tố, Lạc Vương chứ không phải Hùng Vương, Tri Tân, số 9, Tháng 8, năm 1941.
2. Nguyễn Văn Tố, Lạc Vương với Hùng Vương, Tri Tân số 96, 1943
3. Nguyễn Văn Tố, Lại chữ Lạc với chữ Hùng, Tri Tân số 101, 1943
4. Ngô Đức Kinh, Góp ý kiến vào câu chuyện Lạc Vương với Hùng Vương, Tri Tân số 105, 1943

Liên kết: 
Blog Le Minh Khai: The Evils of Quốc Ngữ #4 continued yet again

Saturday, April 7, 2012

ĐỐI VƯƠNG HAY HÙNG VƯƠNG?


Khi đọc những phản biện của Blogger Le Minh Khai ở đây và  ở đây về trường hợp chữ “đối” (: chữ này Le Minh Khai đọc là “đôi”, chúng tôi đọc là “đối”) trong văn bản Hán văn Đại Việt sử lược đã "bị" Trần Quốc Vượng và Nguyễn Gia Tường dịch thành “hùng” 雄 trong bản tiếng Việt mà không có sự giải thích, tôi đã tiến hành kiểm tra lại các thông tin. Tôi cho rằng đã có uẩn khúc trong trường hợp này. Có lẽ vào thời điểm khi dịch Đại Việt sử lược, cả Trần Quốc Vượng lẫn Nguyễn Gia Tường đều không có điều kiện tiếp xúc với chính văn Đại Việt sử lược khắc in trong Tứ khố toàn thư (là bản gốc) mà họ chỉ dịch dựa trên bản một bản sao chép được lưu trữ tại Việt Nam. Trong trường hợp Trần Quốc Vượng, đó có thể là bản Việt sử lược ký hiệu Vhv.1521. Bản Hán văn này được in kèm trong cuốn Việt sử lược (Trần Quốc Vượng dịch, Đinh KhắcThuân đối chiếu chỉnh lý, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây xuất bản năm 2005. Bản in năm 2005 này người đối chiếu chỉnh lý cũng hoàn toàn dựa trên  bản Vhv.1521 nên cũng không có chú thích gì cho trường hợp Hùng Vương). 
Photobucket
Việt sử lược trong Tứ khố toàn thư

Photobucket
Việt sử lược ký hiệu VHv.1521 (bản sao chép?)


Qua ảnh chụp, có thể suy đoán,  Việt sử lược ký hiệu Vhv.1521 là một bản sao chép lại từ nguyên bản của Tứ khố. Tuy nhiên, giữa hai bản có một sự sai khác rất nghiêm trọng: toàn bộ những chữ “đối” 碓" (trong chữ "Đối Vương". mục Quốc sơ duyên cách) của bản trong Tứ khốđã được  sửa lại thành “hùng” trong bản ký hiệu Vhv. 1521 (chữ “hùng” có một bên là chữ hữuvà một bên là bộ chuy).(xem ảnh)


Photobucket
"Đối" trong Việt sử lược Tứ khố toàn thư

Photobucket
Thành "hùng" trong Việt sử lược ký hiệu VHv.1521





Như vậy, có thể hiểu, vô hình chung, người sao chép Hán văn (chứ không phải người dịch sang tiếng Việt) đã mặc nhiên cho rằng “đối” chính là sự chép sai từ “hùng” (một bên là chữ và một bên là bộ chuy) . Theo tôi, trong trường hợp này, ông Trần Quốc Vượng và Nguyễn Gia Tường đã không có điều kiện đối chiếu với bản gốc (và cũng có thể là vào thời điểm đó họ chưa tiếp xúc cả với những công trình hiệu đính của Trần Kinh Hòa) nên họ mặc nhiên dịch thành "hùng" (theo đúng tự dạng chép trong VHv.1521), họ không biết được có sự tồn tại của chữ “đối” 碓 trong văn bản, dẫn tới cả hai đều không có chú giải cho trường hợp này.


Photobucket
Chữ "đối" 
Photobucket
Chữ "hùng"


Quay lại chuyện “đối” và “hùng” (chữ “hùng” như trên ảnh), có thể thấy sự khác biệt của hai chữ này là  vô cùng nhỏ, đặc biệt rất dễ nhầm lẫn. Đặt giả thiết “đối”  là một chữ bị Tứ khố toàn thư khắc nhầm, tôi cho rằng trường hợp “hùng” (một bên là chữ và một bên là bộ chuy) bị nhầm sang “đối” 碓 là trường hợp có khả năng hơn là nhầm từ “lạc” sang “đối” . Nhận định đó của tôi thuần túy dựa trên mặt tự dạng. Còn những chuyện phức tạp hơn về cuộc tranh luận Lạc Vương và Hùng Vương chúng tôi sẽ trở lại trong một bài khác.

...........................

Gạch đầu dòng:

1.

Photobucket
Mục Hồng Bàng thị (Họ Hồng Bàng) trên Wikipedia Trung văn
.
Đây là mục viết về họ Hồng Bàng trên Wikipedia Trung văn , những người viết đã đặt  Đôi Vương như là một trong những hiệu của vua thời Hồng Bàng. "Quân chủ xưng hiệu là "Hùng Vương". "Lạc Vương" hoặc "Đôi Vương", từng sử dụng quốc hiệu như "Xích Quỷ quốc", "Văn Lang quốc"....vvvv. Wikipedia không phải là một tài liệu tham khảo mang tính học thuật, nhưng là nơi cung cấp thông tin dạng phổ biến, vì thế trong trường hợp này cũng cần có sự lưu ý.

2. - Một cách thức diễn giải lười biếng khác: Thời Hồng Bàng, các vị vua nối nhau lên ngôi, lần lượt xưng hiệu là: Lạc Vương, Hùng Vương (hoặc Đôi Vương)...vvv. Như thế có nghĩa là có cả Lạc lẫn Hùng, đỡ phải tranh cãi  Lạc hay Hùng mới là chính xác....

Liên kết: 
Blog Le Minh Khai:  The Evils of Quốc Ngữ #4 continued again

Thursday, March 29, 2012

Ghi chú về Ngọc


NGỌC KHUÊ


1. Theo Quản Tử  "Có thể bị đập nát nhưng không biến đổi phẩm chất đó là đức DŨNG” của Ngọc”

2. Theo lễ chế cổ Trung Hoa, trong Lễ khí có Lục khí, trong Lục khí có Ngọc Khuê (xem ảnh).
Khuê: ngọc khí được vương và chư hầu cầm trong khi TRIỀU sính , và là ngọc khí dùng để tế thần phương ĐÔNG”  (Dĩ thanh Khuê lễ Đông phương).

Chỉ là trùng hợp rất tình cờ, kinh ngạc sửng sốt, nên ghi chú lại. :)

Monday, March 26, 2012

Trả nợ rượu bạn giang hồ


Photobucket
"Sấu kim thư" của Tống Huy Tông- Bảo tàng cố cung Đài Bắc 

Mượn câu thơ giang hồ tặng bạn giang hồ: 

一琴一聖一月明,
一曲江湖一世情。
一酒一箫一劍影,
一生笑傲一身輕。

          Nhất cầm nhất thánh nhất nguyệt minh
Nhất khúc giang hồ nhất thế tình
Nhất tửu nhất tiêu nhất kiếm ảnh
    Nhất sinh tiếu ngạo nhất thân khinh
                                           
                                              (Nguồn: Nhặt trên weibo)

     Một đàn một ẻm một trăng chênh
 Một khúc giang hồ một cõi tình
 Một tửu một tiêu một kiếm ảnh
  Một đời tiếu ngạo một đời tênh
                                                          
                                            (Tiểu Tử Cuồng dịch)

Monday, March 12, 2012

Bi kịch


“Tử Cống hỏi Khổng Tử “Tứ tôi chán ghét việc học, muốn nghỉ ngơi để phụng sự chúa quân, có được không?”. Đức Khổng Tử trả lời: “Kinh Thi” có câu: “Sớm cung chiều kính, làm việc nghiêm túc lại cẩn thận”. Phụng sự chúa quân khó lắm, phụng sự chúa quân có thể ngơi nghỉ được chăng? ”. “Vậy Tứ tôi muốn nghỉ ngơi để hầu hạ cha mẹ”. Khổng Tử đáp: “Kinh Thi” có câu: Bậc hiếu tử thì không có chỗ tận cùng, trời mãi mãi ban thưởng cho họ”. Hầu hạ cha mẹ khó lắm, hầu hạ cha mẹ có thể ngơi nghỉ được chăng? “Vậy Tứ tôi muốn nghỉ ngơi nơi vợ con có được không?” Khổng Tử đáp: “Kinh Thi có câu: “Làm gương cho vợ, rồi đến anh em, cứ theo đó mà trị lý việc nước việc nhà”. Ở với vợ con khó lắm, ở với vợ con có thể ngơi nghỉ được chăng? “Vậy thì Tứ tôi nghỉ ngơi nơi bằng hữu, có được không?”. Khổng Tử đáp: “Kinh Thi có câu: “Bằng hữu tương trợ, tương trợ phải uy nghi”. Ở với bằng hữu khó lắm, ở với bằng hữu có thể ngơi nghỉ được chăng? “Vậy Tứ tôi muốn nghỉ ngơi để đi làm ruộng, có được không?”. Khổng Tử đáp: “Kinh Thi có câu: “Sáng ngươi cắt cỏ mao, tối ngươi lại bện thừng, vội vã sửa mái gianh, kịp vụ mùa sắp tới”. Làm ruộng khó lắm, làm ruộng có thể ngơi nghỉ được chăng?”. “Vậy Tứ tôi không lúc nào được ngơi nghỉ ư?” Khổng Tử đáp: “Hãy nhìn xem phần mộ kia, ở chốn cao như thế, được đắp nổi như thế, ngươi nhìn vào chỗ ấy thì có thể biết lúc nào có thể ngơi nghỉ vậy”. Tử Cống nói: “Ôi, lớn thay, cái chết! Quân tử nghỉ ngơi vào lúc ấy, tiểu nhân cũng nghỉ ngơi vào lúc ấy.”. (Trích dịch, thiên “Đại lược” sách Tuân Tử)

Chưa có số liệu khảo sát rõ ràng, nhưng cứ theo đoạn đối đáp trên mà suy thì đàn ông Trung Quốc thời cổ đại, với đủ mọi thể loại áp lực suốt cả cuộc đời như thế kia, có lẽ là những người thường xuyên bị stress nhất thế giới, chả thế mà họ đến tuổi 50 đã mừng rỡ xem như là “thọ”. Nói thật chứ lúc dịch xong cái đoạn đối đáp trên suýt nữa tôi cũng rống lên vì….stress (he he). 

Đoạn trích trên là một trong nhiều đoạn trích được tiến sĩ triết học trẻ người Trung Quốc tên là Khấu Bằng Trình  đưa ra như một minh chứng cho quan điểm của anh ta: nền văn hóa Trung Quốc là một nền văn hóa nặng nề trầm trọng. Nền văn hóa ấy có vẻ ngoài dị dạng (khi nhân loại còn ở giai đoạn trẻ thơ (giai đoạn thần thoại Hy Lạp) thì lúc ấy Trung Quốc đã là một ông già lọm khọm với mũ áo nghi lễ đầy mình), trên vai thì đè nặng các thể loại áp lực về lễ nghi và bổn phận giống như thần Atlas cõng bầu trời trên lưng, và trong lòng (trong tầng sâu của nền văn hóa) thì ôm một khối "bi cảm" thống thiết.  Vì thế cốt tủy của văn hóa Trung Quốc chính là “bi cảm”, vì bi quá, bi đến mức không thể bi hơn được nữa cho nên phải  “lạc cảm” để mà tồn tại. Nói như thế có nghĩa là Khấu Bằng Trình đã “cãi” lại một quan niệm tồn tại như một chân lý từ bao lâu nay ở Trung Quốc (cũng có nghĩa là anh ta “cãi” lại cả những tên tuổi lớn): nền văn hóa Trung Quốc là nền văn hóa “lạc cảm” (Lý Trạch Hậu), và rằng Trung Quốc làm gì có  bi kịch đích thực (Chu Quang Tiềm, Hồ Thích, Lỗ Tấn…..)! Phản bác tất cả những tên tuổi lớn, Khấu Bằng Trình bảo: Khồng, các bác nói thế nào ấy chứ, em đọc lại kinh điển thì thấy rằng, cái tinh thần đến chết mới được nghỉ ngơi, cái tinh thần cứ tiến  mãi không được dừng nghỉ giữa chừng là bi kịch quá đi ấy chứ. Trung Quốc đầy rẫy tinh thần bi kịch! Xuất phát điểm của nền văn hóa  Trung Quốc đã là bi kịch.

Nhân đọc bài của người ta, tôi lại nhớ đến câu hỏi: ở Việt Nam chúng ta có bi kịch đích thực hay không? Nhiều người có kiểu tư duy không thua kém "rất lạ": thế giới có giá trị đẹp đẽ gì thì chúng ta nhất định cũng phải có,  và vì thế cứ nhất quyết phải tìm ra cho có. Thử dũng cảm một lần phủ định xem nào: Ở Việt Nam làm gì có cái nền tảng nào để tạo nên bi kịch đích thực. Hết ạ.

 …………………
À chưa hết, (Lưu ý: đoạn này không dành cho những người không biết đùa): mấy bác triết học cứ thích dùng các khái niệm to tát dễ gây stress như: cái đẹp, cái bi, cao thượng, hướng thượng, rồi thì hành động bi kịch với lại số phận bi kịch. Chém gió ở chiếu đình làng thì đành thúc thủ theo lệ, nhưng ở trên blog này, tôi thích đinh nghĩa bi kịch như thế này: Bi kịch là một người gào lên “I love you”, còn người kia thì bịt tai lại sợ hãi (he he). Như thế này chẳng hạn: :))

Wednesday, February 29, 2012

Cổ sử 4: “Sự kiện không tự nói về mình”


Cho Tam Uyển Trần Quang Đức

Thử đặt một câu hỏi thế này: tại sao trong hằng hà sa số các sự kiện đã xảy ra trong lịch sử, có những sự kiện được ghi chép lại, có những sự kiện lại không? (Nói theo một cách khác: Tại sao trong cùng một thời điểm, cùng một câu chuyện, cùng viết về một nhân vật, có sự kiện được sử gia này chép lại, nhưng lại bị sử gia khác lờ đi?). Loại bỏ các yếu tố khách quan, loại bỏ các yếu tố theo kiểu “viết sử theo chỉ đạo từ trên” (sử Nho gia có các tiêu chí của riêng mình), có những sự kiện sử gia biết rõ mười mươi nhưng họ nhất định không chép mà chỉ chăm chắm vào sự kiện khác. Điều đó cho thấy “quyền lực”của sử gia trong việc điều khiển các sự kiện dưới ngòi bút cả mình. Sử gia mới chính là những người “quyết định sự kiện nào được phát ngôn, theo trật tự nào và vào lúc nào” (Arnold Toynbee). Trước khi đặt bút chép sử, sử gia đã có sẵn một chủ ý, một mục tiêu và sự kiện chỉ là một chuỗi các chứng cứ được sắp xếp theo tính mục đích. Nói một cách khác, sử gia là mới chính là người “đem lại ý nghĩa” cho sự kiện. “Sự kiện không tự nói về mình” (Arnold Toynbee). Vì thế, tương tự, “đọc” được gì từ các sự kiện, xét cho cùng hoàn toàn phụ thuộc vào cách thức diễn giải của người đọc. Sự kiện không bao giờ ở sẵn đấy cho chúng ta dùng. Chúng ta phải đọc nghĩa của sự kiện, cái đó, tôi gọi là “đọc sử”.

Lấy ví dụ từ một trường hợp cụ thể, sự kiện tranh cãi giữa phe Nguyễn Trãi và phe Lương Đăng về lễ nghi (bao gồm âm nhạc và ở đây tôi muốn bàn rộng thêm về chuyện triều phục) có thể diễn giải ra thành những nghĩa khác nhau tùy từng tiêu chí của người đọc, như trên blogCavenui (tôi vào đọc theo chỉ dẫn của bác thaothucsaigon và vì thế mới có bài viết này) chẳng hạn, là một “kiểu đọc”, một “kiểu đọc có chủ ý”. Khác với blog Cavenui, tôi “đọc” từ câu chuyện này một ý nghĩa khác, không thuần túy chỉ là chuyện tranh cãi nhã nhạc hay như chuyện ai Hoa hơn, ai Việt hơn (ở Việt Nam bây giờ hình như bất cứ chuyện gì dính dáng đến chuyện Hoa Việt mới được xem là hot? Một thứ mode tư duy của thời đại chăng?). Việc thiết định lễ nghi triều phục ở các triều đại “thường” (“thường” chứ không phải “luôn”) được chính sử chép tương đối tỉ mỉ vì nó là chuyện chính sự hệ trọng. Tuy nhiên, trong lịch đại vương triều Việt Nam chưa từng có việc hiệu định triều phục, nhã nhạc nào lại gây tranh cãi om xòm như dưới thời Lê Thái Tông. Bên cạnh ý nghĩa tranh chấp quyền lực quyết liệt giữa các phe phái trong triều đình (như sử gia Tạ Chí Đại Trường đã diễngiải), sự kiện giữa Nguyễn Trãi và Lương Đăng với tôi còn có thể được xem như là một chứng cứ cho thấy việc thiếu thốn sử sách điển tịch nghiêm trọng (điển tịch hoặc bị thiêu hủy, hoặc bị thất tán) của nước ta tại thời điểm đó. Nếu đọc lại toàn bộ diễn biến của sự kiện đó từ đầu đến cuối, chúng ta có thể thấy “cổ chế” là một câu hỏi thường xuyên được đặt ra mỗi khi động chạm đến vấn đề lễ nghi triều phục, là nỗi đau đáu của Trần Thái Tông, và cũng là nỗi đau đáu của những vị Nho thần như Nguyễn Trãi.

Thông thường, triều vua nào muốn sắp đặt lại lễ nghi triều phục thì những vị quan được giao nhiệm vụ sẽ dựa theo “tiền lệ” mà hiệu định. Tiền lệ nằm ở đâu, nằm trong sách kinh điển, trong các sách ghi chép về quy chế cổ, hoặc trong những ghi chép điển tịch của các triều trước. Theo như sử chép, từ dưới thời Lê Thái Tổ Nguyễn Trãi đã được giao cho việc chế định triều phục, nhưng đến tận thời Lê Thái Tông ông vẫn “vị cập thi hành” (chưa kịp thi hành). Đại Việt sử ký toàn thư không chép cụ thể là Lê Thái Tổ giao cho Nguyễn Trãi nhiệm vụ chế định triều phục vào năm nào nhưng có thể ngầm hiểu là từ sau khi ông được phong Quan phục hầu 冠服候 vào năm 1428. Suốt từ năm 1428 đến năm 1437, ngoài sự kiện can ngăn vua không bỏ áo tang năm 1434, Nguyễn Trãi xoay sở loay hoay mãi mà vẫn không dâng lên được một quy chế cụ thể nào về triều phục cho triều Lê, đến cuối cùng Lương Đăng chỉ dâng một tờ sớ là xong. Một người như Nguyễn Trãi mà lại không soạn nổi quy chế triều phục? Chỉ có một lí do duy nhất: Phải chăng ông trù trừ vì ông không có trong tay một điển tịch nào khả dĩ để có thể làm đầu mối, làm chỗ dựa, làm bằng cớ cho công việc hiệu định của mình. Có lẽ ông cần thời gian để truy xét lại sách vở và tìm kiếm thêm nguồn tư liệu từ phía Trung Hoa?

Sự thể rõ ràng hơn trong lời tâu của Lương Đăng sau khi bị đám các ông Nguyễn Trãi, Nguyễn Truyền, Đào Công Soạn, Nguyễn Văn Huyến dâng tấu nghi ngờ về tri thức và tư cách chế Lễ tác Nhạc của ông ta. “ 制。今 已。 下。臣 ”. (Thần không có học thuật, không biết quy chế cổ. Nay những gì được chế định đều nằm hết trong những gì thần biết (được thấy) mà thôi. Nhược bằng chuyện thi hành hay không thi hành trông chờ cả nơi bệ hạ, thần đâu dám quyết riêng được.). “Không có học thuật” bởi vì ông ta vốn là một Thái giám chứ không phải là một Nho thần. “Không biết quy chế cổ” là bởi vì những gì ông ta biết về triều phục lễ nghi là những gì ông ta “sở kiến” khi còn làm Thái giám dưới triều tiên đế (Lê Thái Tổ), sự hiểu biết của ông ta chỉ dừng đến đó thôi, lễ nghi triều phục của đời trước thế nào thì ông ta không biết. Mà lễ nghi triều phục dưới triều Lê Thái Tổ thì vốn chỉ là đặt tạm ra để đáp ứng nhu cầu chính sự trước mắt (chính Lê Thái Tông cũng nghi ngờ về sự chính xác của quan phục, muốn đổi áo của quan tam phẩm từ hồng sang xanh cho hợp với “cổ chế” (quy chế cổ). Sau Lê Sát lấy cớ là quy định của tiên đế, Lê Thái Tông mới thôi).

Tuy nhiên Lương Đăng không phải là một Thái giám tầm thường: ông ta là người biết chữ (nếu không muốn nói là người có hiểu biết), (theo lời tâu của Bùi Cầm Hổ với Lê Thái Tông: “tiên đế dĩ tiêu thức tự dụng vi nội nhân” (tiên đế cho rằng [ông ta] là người có chữ nghĩa nên dùng làm nội nhân). Với trách nhiệm mà Lê Thái Tông giao phó, nếu ông ta muốn tìm hiểu “quy chế cổ” thì cũng không có gì là quá khó khăn nếu có điển tịch trong tay. Vấn đề là vào thời điểm đó, liệu có đủ điển tịch để ông ta tra cứu hay không?. Ngay trong lời tâu của Nguyễn Trãi khi phản bác lại Lương Đăng cũng rất mơ hồ, không trích dẫn rõ là những quy chế mà ông nêu ra khác với Lương Đăng là ghi trong sách nào, những triều nào đã thi hành. Người ta có thể nghi ngờ rằng, những quan điểm không khớp giữa ông và Lương Đăng, chính là sự khác nhau trong “sở kiến” giữa hai người. Nguyễn Trãi “sở kiến” nhiều hơn Lương Đăng vì ông là cháu ngoại của Trần Nguyên Đán, vì ông đã từng có giai đoạn làm quan dưới thời nhà Hồ. Nhưng “sở kiến” quan trọng nhất trong quan niệm của một Nho thần như Nguyễn Trãi phải là “điển tịch”. Không có điển tịch làm bằng, ông chỉ có thể dựa vào một lý lẽ duy nhất: Lương Đăng là một hoạn quan, ông ta không có tư cách để chế Lễ tác Nhạc.

Kết cục cuối cùng của Nguyễn Liễu chính là bằng chứng có sức nặng nhất cho thấy tại thời điểm đó, những điển tịch quan trọng  (trong đó có các bộ sử) của nước ta đã không còn. Bởi vì cho dù thế lực hoạn quan có lớn mạnh đến thế nào đi chăng nữa, thì trong cuộc tranh cãi trước mặt vua như thế, chỉ cần dâng lên một điển tịch làm chỗ dựa lý lẽ thì đám Nho thần đâu đến nỗi phải chịu nhục trước thế lực hoạn quan. Vấn đề là phe Nguyễn Trãi không có được những bằng chứng đó. Họ không có điển tịch. Nước ta sau cuộc chiến với nhà Minh hầu như đã không còn điển tịch.

Không có điển tịch nghĩa là không có rường mối. Không có rường mối thì mọi việc ắt loạn. Câu chuyện giữa Nguyễn Trãi và Lương Đăng không phải là khởi đầu cho một giai đoạn lịch sử đại loạn và đầy bi thảm đó sao?


......................................................................................


Cùng một xâu: Cổ sử (1),  Cổ sử (2), Cổ sử (3)

Thursday, February 23, 2012

Khi nào thì dừng lại?


Cảm hứng sáng tạo cũng giống như một hệ thống sưởi, đến một mức độ nào đó thì nó sẽ dừng hoạt động. Nhưng cảm hứng sáng tạo khác cái hệ thống sưởi ở chỗ, chỉ cần 50 euro, một mức giá đủ cho một người thợ tay ngang người Croatia có thể khiến cho hệ thống sưởi hoạt động trở lại. Vấn đề của hệ thống sưởi và cái bình nước nóng có thể được giải quyết trong hai chữ  “sửa chữa”. Nhưng vấn đề của cảm hứng sáng tạo thì sao? Khi nó dừng lại, anh không thể “sửa chữa”. Bất cứ một sự cố gắng sửa chữa nào trong cảm hứng sáng tạo cũng đồng nghĩa với sự chấm hết. Có lẽ đó là điều mà Jed Martin đã nhận thấy khi anh cố gắng sửa lại bức tranh “Damien Hirst và Jeff Koons chia nhau thị trường nghệ thuật”. Giải pháp cuối cùng: anh phá hủy nó.

Trong Bản đồ và vùng đất của Michel Houellebecq, một chân lý đơn giản được đặt ra: mọi thứ đều có thời điểm của nó. Phải bắt được đúng thời điểm, nếu để lỡ thời điểm đó, anh sẽ tuột mất tất cả. Đó là lúc anh nên dừng lại. Các nhân vật trong Bản đồ và vùng đất dường như đều tìm cho mình một thời điểm thích hợp để dừng lại. Như người mẹ của Jed Martin, bà dừng lại ngay trong giây phút bà cảm thấy hạnh phúc nhất: bà tự tử. Như Jean Pierre Martin, bố của Jed-người đã để lỡ mất thời điểm “trở thành một nghệ sĩ” khi còn trẻ- cũng đã chọn thời điểm dừng lại sau khi ông cảm thấy hết hứng thú với cuộc sống: ông chọn một nhóm trợ tịch ở Zurich để kết thúc đời mình. Jed Martin đương nhiên là một ví dụ điển hình cho sự dừng lại đúng lúc. Anh đã luôn luôn dừng lại ở những thời điểm mà anh phát hiện ra rằng mình không thể đi tiếp được nữa. Anh mải mê sáng tạo (chụp ảnh, vẽ tranh, quay video về những modul) để rồi khi cảm hứng dừng lại, anh gói ghém tất cả, tổ chức một buổi triển lãm. Sau đó chấm hết, anh chuyển sang một nguồn cảm hứng khác, mọi thứ lại bắt đầu lại từ đầu. Vấn đề về sự dừng lại còn đặt ra với cả tay nhà văn Houellebecq. Ông ta bị bế tắc. Là một tiểu thuyết gia nổi tiếng, nhưng ông ta không còn viết tiểu thuyết nữa. Ông ta tuyệt vọng với bản thân (hoặc giả lũ nhà báo và đám phê bình đã khiến ông ấy tuyệt vọng). Và rồi chính những bài thơ viết về lũ chim và con chó Platon là một khởi đầu mới đầy hào hứng đối với ông ta. Nhưng sự dừng lại của tay nhà văn này hơi thảm khốc. Ông ta không được lựa chọn. Kẻ khác đã quyết định sự dừng lại của ông ấy. Và phải chăng, cảnh sát trưởng Jasselin đã không dừng lại? Ngay sau khi ông ta phát hiện ra rằng ông ta đã bỏ lỡ một chi tiết quan trọng trong vụ án thảm sát nhà văn Houellebecq, sự nhanh nhạy đã rời bỏ ông ta, thời điểm của ông đã hết, ông quyết định về hưu cho dù ông vẫn muốn vụ án phải được điều tra đến cùng.

Cái buổi sáng sau ngày Jed Martin gặp lại Olga, đó là thời điểm dừng lại của họ. Họ đã để lỡ mất nhau. Tình yêu đó là cảm hứng nghệ thuật lớn nhất và bạn cần phải nắm bắt được thời điểm của bạn. “Cuộc sống đôi khi cho bạn một cơ may…nhưng người ta quá hèn nhát hoặc quá thiếu quả quyết nắm bắt lấy nó thì cuộc sống bèn tịch thu lại hết, có một thời điểm để làm mọi thứ và để bước vào một hạnh phúc khả dĩ, cái thời điểm ấy kéo dài vài ngày, đôi khi vài tuần, hoặc thậm chí vài tháng, nhưng nó chỉ xảy ra một lần duy nhất, và sau này chỉ đơn giản là không thể nào quay trở lại được nữa, không còn chỗ cho niềm hào hứng, sự tin tưởng và lòng tin, chỉ còn lại một sự nhẫn nhục mềm mại, một niềm thương hại lẫn nhau rất buồn, cảm giác vô ích và đúng đắn rằng, một điều gì đó đáng lẽ đã có thể xảy ra, rằng người ta chỉ không xứng đáng với món quà được tặng” (tr.274). 

Đừng cố, khi cảm hứng đã hết. Mọi cảm hứng (cảm hứng sáng tạo hay cảm hứng trong tình yêu) đều không cần đến sự cố gắng. Và mọi sự cố gắng sửa chữa chỉ làm mọi thứ hỏng hóc thêm, vì thế bạn nên dừng lại. Michel Houellebecq bảo thế.