Articles  Privacy

 

Tuesday, May 22, 2012

Trên cùng một số báo SGTT

Trên cùng một số báo Sài gòn Tiếp thị 21/05/2012 đưa tin những bữa cơm cầm hơi của giai cấp vô sản và  thú vui chơi "kỳ quan sinh thái" tao nhã của ông Bí thư tỉnh ủy Hải Dương, người đứng đầu một đội tiền phong!

Monday, May 21, 2012

San sẻ phúc lợi từ đất đai

Lý thuyết màu xám, còn cây đời mãi mãi xanh tươi, đấy là lời của Goethe, đại thi hào người Đức. Đất đai thuộc sở hữu của ai, gọi quyền ấy là gì, chuyện cao siêu ấy thuộc về thế giới của những người ưa lý luận. Với dân tộc, vẹn toàn lãnh thổ là niềm đau đáu khôn nguôi, thì cũng thế với hàng triệu nông dân, ruộng vườn là tài sản thân thương tựa máu thịt của họ.

Một thời chưa xa, giao khoán ruộng đất cho các nông hộ đã cởi trói cho nông nghiệp, từ thiếu đói nước ta có gạo để xuất khẩu. Quyền của chủ nhân các ô thửa đất tăng lên từ 5 quyền, 8 quyền đến hàng chục quyền đã làm sôi động thị trường nhà đất. Từng ô thửa phải rõ chủ, việc đăng ký chủ quyền ấy phải thuận tiện, đó chính là phép màu nhiệm làm cho đất đai trở thành nguồn tư bản lưu chuyển không ngừng trong thế giới hiện đại này.

Từ hai mươi năm nay Hiến pháp nước ta luôn tuyên bố nhà nước thực hiện nguyên tắc giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Điều ấy đã đúng với đất ở, đất khu công nghiệp, song còn rất chênh vênh đối với ruộng đất của từng hộ nông dân. Đất nông nghiệp dễ bị nhà nước thu hồi với giá do nhà nước ấn định. Bất công bằng xã hội cũng từ đó mà lan nhanh.

Vì lẽ ấy, Luật đất đai 2003 cần được sửa để nếu vẫn cố giữ thuộc sở hữu toàn dân thì phúc lợi từ đất đai cần được san sẻ công bằng cho toàn thể nhân dân. Những khu công nghiệp, sân golf, đô thị mới, nếu phần lớn lợi tức chỉ dành cho một nhóm nhỏ những người giàu và trải đều sự bần cùng cho nông dân mất đất, nhân danh công nghiệp hóa-hiện đại hóa một nhóm người đã khai thác tài nguyên quốc gia vì những lợi tư.

Có lẽ đó cũng là điều mà Karl Marx vĩ nhân đã tiên đoán khi ông cho rằng sở hữu tư nhân, nhất là về đất đai, là nguồn gốc của mọi bất công. Ông mong ước về một chế độ “sở hữu xã hội –gesellschaftliches Eigentum” về tư liệu sản xuất. Những người theo Lenin sau này phát triển luận điểm ấy thành sở hữu toàn dân. Phần còn lại của thế giới này cũng lo hạn chế bất công. Nhà nước nào cũng phải có chức năng ngăn cản, kìm chế những thèm khát tư túi tài nguyên công cộng. Vì vậy, ở hầu hết các quốc gia ngày nay, dù đất đai có thể thuộc sở hữu tư nhân, song quyền của người chủ đất luôn bị giới hạn bởi những chính sách phân bổ phúc lợi của nhà nước.

Điều khẩn thiết cần làm là phải chặn đứng việc thu hồi đất trồng lúa với giá rẻ rồi trao món hời này cho các ông chủ doanh nghiệp. Nếu cần đất vì mục đích an ninh-quốc phòng, nhà nước phải trưng mua quyền sử dụng đất của nông dân với giá thị trường. Tuyên bố ấy cũng đã được ghi nhận rõ ràng trong Điều 22 Hiến pháp Việt Nam từ hai mươi năm nay.

Tôn trọng Hiến pháp, sửa Luật đất đai, đảm bảo quyền tham gia của người dân trong toàn bộ quá trình từ quy hoạch tới sử dụng đất đai như một nguồn tài nguyên khan hiếm của quốc gia, đó chính là những điều cần phải làm để lý thuyết cũng như cây đời mãi mãi tươi xanh./.

Friday, May 18, 2012

Không phải ban quyền cho dân, HP viết ra để trói buộc chính quyền

Trả lời ông Lê Thanh Phong, báo Lao Động (18/05/2012), nguyên bản thế này:

Nhu cầu về thiết chế bảo hiến

Trước hết cần lưu ý Hiến pháp là một khế ước của nhân dân lập ra để kiểm soát quyền lực nhà nước. Hiến pháp viết ra để trói buộc chính quyền chứ không phải ban quyền cho người dân. Nhưng ở một số quốc gia, Hiến pháp đã không được hiểu với ý nghĩa đó. Ví dụ Liên Xô trong giai đoạn 1922 – 1990, Hiến pháp được hiểu như là tuyên bố của Đảng cầm quyền. Một số quốc gia khác cũng sử dụng Hiến pháp như cương lĩnh của nhà nước, của những người lãnh đạo. Đó là sự khác biệt so với những quốc gia dân chủ, tôn trọng quyền tự do của công dân và kiểm soát quyền lực của nhà nước. Ở các quốc gia đó, Hiến pháp được viết ra để trói buộc nhà cầm quyền. Người có khả năng vi phạm Hiến pháp thường không phải nhân dân, mà là các các cơ quan có thể sử dụng quyền lực công. Các cơ quan giữ quyền lực công là Chính phủ, Tòa án, Quốc hội. Một đạo luật do Quốc hội ban hành, một hành vi của Chính phủ có thể vi phạm Hiến pháp, chính vì vậy phải có thiết chế bảo hiến nhằm bảo đảm Hiến pháp được thực thi.

Trong điều kiện VN, mô hình thiết chế bảo hiến nào là phù hợp thưa ông?

Trên thế giới có ba mô hình thiết chế bảo hiến, ví dụ Tối cao pháp viện Hoa Kỳ có thẩm quyền xét xử tranh chấp Hiến pháp hoặc mô hình Tòa bảo hiến ở Đức tách khỏi tòa thường tụng, hoặc mô hình Hội đồng bảo hiến ở Pháp. Tuy nhiên, nếu áp dụng vào VN cần phải nghiên cứu các điều kiện về chính trị, kinh tế, văn hóa, sự nhận biết của người dân để thiết chế bảo hiện phát huy được hiệu quả. Về chính trị, VN có một đảng lãnh đạo, Đảng quyết định các quyết sách lớn của đất nước. Cho nên, nếu xuất hiện một thiết chế mới đụng chạm đến các thiết chế hiện hữu thì cần tính toán thật kỹ để thiết chế mới có thực quyền. Thiết chế bảo hiến là một thiết chế chính trị, khi ra đời sẽ tác động đến các thiết chế khác. Trong bối cảnh VN hiện nay, tôi không tin có một thiết chế bảo hiến sẽ phát huy được hiệu quả.

Vậy thì khi nào VN mới có một thiết chế bảo hiến có thể sống được theo quan điểm của ông?

Ý nghĩa của chữ “sống” ở đây là cơ quan bảo hiến đóng vai trò đáng kể trong đời sống chính trị, nhân dân có thể dặt niềm tin và sự kính trọng vào cơ quan đó. Điều đó phụ thuộc vào nhiều điều như đã phân tích trên. Không phải chỉ riêng VN mà bất cứ quốc gia nào cũng cần có quá trình trưởng thành, hay nói cách khác là hội đủ các điều kiện để có được một thiết chế bảo hiến thực chất. Hàn Quốc du nhập thiết chế bảo hiến từ năm 1945, nhưng đến năm 1980 mới hoạt động có hiệu quả. Đức tuyên bố có tư duy bảo hiến từ Hiến pháp Weimar những năm 1918, nhưng trên thực tế, mãi đến sau 1949, cơ quan bảo hiến của Đức mới có hình hài rõ rệt. Thái Lan vay mượn thiết chế bảo hiến của Đức, song thành công còn hạn chế.

Ông có đề cập đến sự nhận biết của người dân, vấn đề này được hiểu như thế nào?

Dư âm của tâm lý thần dân đã tồn tại ở VN cả ngàn năm nay không thể một sớm một chiều mà tan biến được. Cần phải có quá trình và thời gian để người dân nhận biết đầy đủ về quyền công dân của mình, hiểu rằng quyền được nói, được biết, được tự do hội họp, biểu tình của công dân là những quyền đương nhiên họ được hưởng. Khi tinh thần công dân tăng lên mới xuất hiện nhu cầu đòi các quyền đó phải được tôn trọng.

Theo ông, chế ước quyền lực nhà nước sẽ thiết kế ra sao khi VN không đi theo chủ thuyết tam quyền phân lập?

Trong cấu trúc quyền lực VN, quyền lực thực tế dồn vào Chính phủ và UBND các địa phương. Hệ thống tòa án cần nỗ lực để có thêm niềm tin và sự kính trọng cao trong xã hội. Quốc hội với ¾ đại biểu kiêm nhiệm nên chưa thể chuyên nghiệp. Vì hai thiết chế đó còn yếu nên quyền lực tập trung vào lực lượng hành pháp. Nếu phân bổ lại quyền lực, cần phân nhiệm để có đối trọng và kiểm soát quyền lực. Quốc hội thực sự mạnh khi đại biểu Quốc hội thực sự nói lên tiếng nói cử tri của mình. Muốn làm được điều đó đại biểu phải chuyên nghiệp, là một nghề có thù lao xứng đáng, có đầy đủ phương tiện và điều kiện hỗ trợ phục vụ cho hoạt động. Muốn tòa án mạnh, nhiệm kỳ của thẩm phán phải đủ dài, không hạn chế 5 năm như hiện nay. Tổ chức tòa án phải độc lập, tách ra khỏi ảnh hưởng của lực lượng hành pháp mà tòa án khu vực có thể là một mô hình.

Xin cảm ơn ông
Lê Thanh Phong thực hiện.

Saturday, May 12, 2012

Khi nhà báo bị đánh

Khi không thể chối cãi mãi được nữa, chính quyền tỉnh Hưng Yên, dù chưa biết xin lỗi, song đã bắt đầu lấy làm tiếc về việc lực lượng cưỡng chế ở Văn Giang đánh người. Thật trớ trêu, người bị đánh đòn đau lại là hai nhà báo từ trung ương. Mặt mày sưng húp rồi cũng sẽ lành, song nỗi đau tinh thần sẽ mãi ê ẩm với cảnh đánh đập hung tợn này.
Gần hai vạn phóng viên của 800 cơ quan báo chí nước ta rất dè dặt, chưa dám phanh phui những nhức nhối ẩn sau vụ thu hồi đất mang tính kinh điển này. Một ống kính bí hiểm, cho đến nay vẫn chưa lộ danh tính, đã chộp lấy cảnh hành hung, sau khi được tung lên mạng, đoạn video clip lan truyền nhanh chóng, day dứt nhiều, dần dần lộ ra danh tính của các nạn nhân. Không có đoạn video clip đó, không có sự phản ứng của công chúng trên mạng, nếu người bị hại cũng cam nín lặng, ai dám tin rằng ở đất nước chúng ta hàng chục dân phòng và cảnh sát lại xúm vào đánh hội đồng một người không có khả năng kháng cự giữa thanh thiên bạch nhật.
Người ta bảo ánh nắng làm chết vi trùng. Bưng bít thông tin chỉ làm cho sự gian trá lên ngôi. Ngày nay, với chiếc điện thoại di động bé xíu, một người nông dân vốn quen cầy cuốc bỗng chốc có thể trở thành nhà báo công dân. Mẩu video clip trở thành chứng cứ buộc chính quyền tỉnh Hưng Yên phải đối mặt với sự thật, đối mặt với trách nhiệm giải trình.
Để giữ lấy sự chính danh, xứng đáng đại diện cho nhân dân để cầm quyền, Chính phủ đã nhiều lần tuyên bố xây dựng một chính quyền minh bạch. Báo chí là một trụ cột góp phần tạo nên sự minh bạch ấy. Muốn làm được điều đó, nhà báo phải có quyền được an toàn, được tự do hành nghề. Luật pháp Việt Nam không hề thiếu những cam kết đó.
Đối mặt với những thế lực không ưa sự minh bạch, nguy cơ nhà báo bị cản trở tác nghiệp tự do, bị mua chuộc, bị đe dọa hoặc thậm chí bị đánh là những rủi ro nghề nghiệp thường thấy. Theo một nghiên cứu của Liên hiệp các Hội KH&KT Việt Nam công bố tháng 10/2011, có tới 12 loại hành vi cản trở báo chí tác nghiệp rất phổ biến ở Việt Nam. Trong số các hành vi cản trở đó, đe dọa, giữ người, khủng bố tinh thần nhằm vào cá nhân và người thân trong gia đình nhà báo, trả thù phóng viên do viết bài phanh phui tiêu cực là các hành vi thường xảy ra. Vì lẽ ấy, dấn thân cho một nền báo chí trung thực và có trách nhiệm trước công chúng quả thật là một cam kết không kém phần nguy hiểm.
Hành vi hành hung nhà báo không chỉ làm tổn thương sức khỏe, tinh thần, danh dự và nhân phẩm của cá nhân người bị hại. Đằng sau báo chí là hàng triệu người dân với quyền được biết về những gì đang xảy ra trên đất nước này. Mỗi nhà báo bị đánh là ẩn chứa một mưu đồ bưng bít thông tin. Không được biết, không được bàn thì khó giám sát, quyền lực thực sự của nhân dân sẽ bị cản trở ngay từ quyền được tiếp cận thông tin. Vì lẽ ấy, những hành vi hành hung nhà báo làm tổn thương đến hàng triệu bạn đọc, chúng cần bị nghiêm trị bởi pháp luật và lên án bởi toàn xã hội.
Hai nhà báo bị đánh ở Văn Giang, thêm một lời cảnh báo để xây dựng một chính quyền mạnh chúng ta cần chung tay xây dựng một xã hội công dân mạnh, có năng lực phản kháng chống lại những điều ác, bất công và tàn nhẫn vẫn còn nhởn nhơ tồn tại trong xã hội này.

Tuesday, May 8, 2012

Hien phap

Đảng bàn về Hiến pháp

Hôm qua khi tuyên thệ nhậm chức, sau một thời gian lắt léo từ Tổng thống xuống làm Thủ tướng rồi lại trở về làm Tổng thống nhiệm kỳ 3, ông Putin ở nước Nga một tay đặt lên Hiến pháp và thề sẽ tuân thủ Hiến pháp. Ở Việt Nam tôi không rõ các ông bà lãnh đạo đất nước này khi nhậm chức có phải thề trước đấng linh thiêng nào không và nếu thề, không rõ họ sẽ cam kết những gì.
Làm ra Hiến pháp, hy vọng Đảng tuân thủ chính bản Hiến pháp ấy. Ở VN, Hiến pháp chưa phải của người dân viết ra để trói buộc chính quyền, nó không có giá trị nhiều hơn một tuyên bố của Đảng cầm quyền. Thế thôi.

Thursday, April 26, 2012

Toi tuong la the

Tôi tưởng là thế

Tuần này, một vài tờ báo rụt rè đưa tin, ở một miền quê ngoài Bắc hàng ngàn cảnh sát bao vây, cưỡng chế thu hồi đất của dân làng để giao cho một công ty kinh doanh (xây những ngôi nhà đẹp, bán cho người có tiền). Có mùi lựu đạn cay, dùi cui và những tiếng la hét, 20 người bị tạm giữ.
Về mặt pháp luật, điều ấy cần được giải thích như thế nào?
Tôi đọc Điều 23 Hiến pháp Việt Nam năm 1992, theo đó "Trong trường hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và vì lợi ích quốc gia, Nhà nước trưng mua hoặc trưng dụng có bồi thường tài sản của cá nhân hoặc tổ chức theo thời giá thị trường". Tôi cũng đọc Câu thứ 2 Điều 18 Hiến pháp Việt Nam năm 1992, theo đó "Nhà nước giao đất cho các tổ chức và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài".
Như vậy, quyền sử dụng đất của dân làng dù chưa được công nhận là sở hữu tư nhân tuyệt đối, song cũng là một quyền tài sản được nhà nước bảo hộ. Quyền tài sản ấy chỉ bị trưng mua hoặc trưng dụng trong những trường hợp ngoại lệ với các lý do và thủ tục khắt khe như vừa được liệt kê ở trên.
Mọi đạo luật và hành vi của bất kỳ ai chống lại những nguyên tắc hiến định ấy phải được coi là vi phạm Hiến pháp, chúng phải được tuyên là vô hiệu, tức là không có giá trị thi hành. Nguyên lý ấy được gọi là "nhà nước pháp quyền", có thể đọc tại Điều 2 của bản Hiến pháp 1992 trong lần sửa đổi năm 2001.
Tôi tưởng là thế.

Về phân tích kinh tế, xem bài dưới đây:
Dựa vào bài báo "Văn Giang, Lịch sử một cuộc cưỡng chế", có thể tính và đưa đến các kết luận sau:


  • Đây là dự án nhà nước đổi đất lấy đường, nhưng đất này lại của nông dân, không phải của nhà nước.
  • Dự án tước hữu đất, đền bù với giá cao nhất là 135,000 đồng/m2,vào giai đoạn cuối cùng cho những người không chịu chấp hành lệnh tướchữu. Giá đền bù lúc đầu chỉ có 10,000 đồng/m2. Như thế tổng chi phí đềnbù cho dân ở mức cao nhất cũng chỉ là 37 triệu USD (Coi bảng 2). Nhưvậy với giá ban đầu mà nhiều người phải nhận chỉ tốn dự án dưới 3.7triệu USD. Dù là 37 triệu hay 3.7 triệu, số tiền này so sánh với lãi làdự án đem về là 1600 triệu USD như muối bỏ biển.
  • Để đổi lại, dự án lấy 55ha xây 14 km đường. Nếu tính theo chi phíxây dựng cao tốc ở Mỹ là 8 triệu/km, tổng chi phí xây dựng đường là 112triệu USD.
  • Giả thiết chỉ có ½ đất được xây dựng nhà để bán (250ha), chi phíxây dựng cao nhất là 6 triệu VND/m2, và đem bán với giá 20 triệu VND/m2,tổng doanh thu sẽ là 2500 triệu USD và tổng chi phí xây dựng là 750triệu USD.
  • Như vậy, tổng chi phí của dự án là 900 triệu USD, tổng doanh thu là 2,500 triệu USD. Dự án có lãi 1,600 triệu USD.
  • Còn một điều cuối cùng chưa tính đến, là theo bài báo, đối với đấtbị lấy 360m2 (1 sào bắc bộ) sau này sẽ được giao lại 10m2 dịch vụ. Nhưvậy tỷ lệ trao đổi là 3% doanh thu, tức là 69 triệu (cứ giả dụ chi phíxây dựng giống nhau) và giả thiết rằng người dân không phải trả gì đểđược 10m2 này.
  • Tổng cộng ở mức cao nhất, người nông dân được trả 37 triệu USD đềnbù và 69 triệu đất dịch vụ, tổng cộng là 106 triệu USD so với lãi củadự án là 1600 triệu.
  • Nói tóm lại, ai cũng có thể đặt câu hỏi là lý do gì mà cả hệ thốngchính quyền và công an đem uy tín của mình nhằm bảo đảm cho thiểu số tư bản được hưởng lợi nhuận như thế? Chỉ vì 14 km đường?
GSTS VQV

Saturday, March 31, 2012

Đằng sau mỗi chức quan

Cháy ván cờ, một ông, hai ông, lại lòi ra ba ông quan nho nhỏ thừa tiền cá cược hàng tỷ đồng cho mỗi ván cờ. Bạc tỷ… đối với hàng triệu người vẫn đang mơ có được mức lương tối thiểu trên đất nước này, nghĩa là tổng cộng tiền công cho lao động của của hàng nghìn con người không ăn không tiêu suốt một tháng trời. Ẩn sau những ván cờ tiền tỷ ấy, của nổi của chìm lộ dần sau mỗi chức quan.
Của nổi, ấy là dinh thự, đất đai, vốn cổ phần, tiền bạc chu cấp cho người thân du học hoặc hưởng các dịch vụ y tế tiên tiến ngày càng nhiều ở nước ngoài. Của chìm, ấy chính là quyền lực của nhân dân được trao cho cơ quan nhà nước, tới tay nhà chức trách, quyền lực công nếu không được giám sát chặt chẽ có nguy cơ lén lút trở thành những lộc riêng.
Như cái kim trong túi lâu ngày rồi cũng lòi ra, thêm một vụ đánh cờ tiền tỷ là nguy cơ giảm đi một chút sự tôn trọng của nhân dân đối với bộ máy những người có chức quyền trên đất nước này. Mất niềm tin của dân, chính quyền có nguy cơ mất dần sự chính danh. Nhìn thẳng vào sự thật ấy, việc xây dựng một đội ngũ quan chức giỏi nghiệp vụ và đáng tin về đạo đức, đủ để dân chúng tôn trọng, thuộc về trách nhiệm không thể né tránh của Đảng cầm quyền. Người dân mong có những sức ép đủ mạnh để Đảng phải tự làm mới chính mình, trở thành một thể chế quy tụ những tinh hoa và giai tầng ưu tú có tài năng và đức độ lãnh đạo đất nước này.
Góp phần thực hiện điều ấy, càng không thể né tránh những cuộc cải cách thể chế căn bản tạo điều kiện cho người dân được tham gia rộng rãi hơn trong giám sát và ràng buộc trách nhiệm giải trình của những người giữ chức quyền. Những ván cờ tiền tỷ, của nổi của chìm, hy vọng cho đến một ngày đằng sau mỗi chức quan, ngoài bổng lộc, còn là thường trực một nỗi lo ngay ngáy làm thế nào để lấy được lòng dân./.