Articles  Privacy

 

Tổng số lượt xem trang

Thứ tư, ngày 23 tháng năm năm 2012

THỜI "BÚT MỚI" : MIỀN CỰC LẠC


Truyện  viết năm 1991. Năm sau được chọn in trong tập truyện ngắn dự thi Bút Mới , tên truyện được chọn làm tên chung cho cả tập. Vì truyện này và một vài truyện của tác giả khác sách bị thu hồi. Mãi đến năm 2003, “Miền cực lạc” mới được in lại trong tập truyện ngắn “Tuyệt đối yên tĩnh” của Trần Đức Tiến. Năm 2005, “Miền cực lạc” được dịch và in trong tạp chí Shincho - một tạp chí văn chương có uy tín lâu đời của Nhật, số đặc biệt về văn học nước ngoài.


                     MIỀN CỰC LẠC
                                                                TRẦN ĐỨC TIẾN

                             
                                       Họa sĩ, nhà thơ Chu Hoạch minh họa  


           P., bốn mươi tuổi, cao một mét sáu mươi, mười bảy năm phục vụ trong ngành thống kê, là một người đàn ông trông vẻ ngoài không có gì đặc biệt so với những người đàn-ông-viên-chức khác, ngoại trừ một cố tật là hay đỏ mặt.
          Ông sống trong một khu tập thể nghèo nàn nhưng yên tĩnh, không hề có ý định giao du với bất cứ ai và nói chung cũng không ai hơi đâu để ý đến ông.
          Hàng ngày ông đạp xe đi làm và từ chỗ làm trở về nhà theo một lộ trình đã ổn định từ mười bảy năm nay. Trên quãng đường ấy, thỉnh thoảng P. gặp lại một người quen cũ - một bạn học từ thuở xa xưa hay một người nào đó đã từng biết ông qua những lần giao dịch công tác. Những người này mỉm cười gật đầu chào ông. Có người thân ái hơn thì dừng hẳn xe lại, bắt tay và hỏi han đôi ba câu ân cần. Mỗi lần như vậy, P. đỏ văng hết cả mặt mũi, nói năng lắp bắp, cử chỉ lúng túng cực kỳ khó coi. Ông còn phải tiếp tục sống trong tâm trạng thảng thốt rất lâu sau đó, giống như người suýt bị bắt quả tang vì một việc làm ám muội.
          Đã nhiều năm trôi qua như vậy, và cuộc đời của P. có lẽ chẳng còn gì phải nói nếu không muốn làm cho nó thêm loãng nhạt. Cho tới một buổi sáng tháng mười năm một ngàn chín trăm chín mươi mốt… Sáng ấy trên đường tới sở, P. bất chợt gặp đám đông đang xúm xít chung quanh một chiếc xe tải đỗ chềnh ềnh giữa lòng đường. Nhìn vẻ mặt hiếu kỳ của mọi người, ông đoán ngay: tai nạn giao thông. Giá như mọi lần khác thì ông đã tìm cách lảng xa - ông vốn là người lịch sự và luôn luôn chấp hành nghiêm chỉnh các lề luật ở nơi công cộng. Nhưng hôm đó không hiểu có sức cám dỗ ma quái nào đã khiến ông dừng xe và ngó cổ vào. Trên nền đường, ngay cạnh bánh xe tải, xác một người đàn ông nằm sóng sượt. Thi thể nạn nhân bầm dập, nhưng hàm răng lại đang nhe ra như cười. Điều này đột ngột gây cho P. cú sốc rất mạnh. Ngay lập tức, ông hiểu rằng thực sự người kia không chết. Linh hồn - tức cái phần còn sống, thậm chí còn tồn tại vĩnh cửu của y đã vọt thoát ra khỏi ngôi-nhà-thân-xác vừa kịp lúc ngôi nhà đó bị húc đổ và dập vỡ. Giờ đây, nó, cái linh hồn nhanh chân ấy, hẳn còn đang quanh quẩn đâu đây, trên ngọn cây, thậm chí ngay trên nóc xe tải, và đang lặng lẽ cười vào mũi đám đông lăng xăng dưới lòng đường.
          Có linh hồn thật không? Có sự siêu thoát ngoạn mục của nó khỏi thể xác thô tạp và ngán ngẩm hay không? Thần kinh P. tập trung cao độ vào câu hỏi này. Đến nỗi, ông không hề biết rằng, con người ông, về mặt cơ chế, đang có sự chuyển đổi ráo riết. Phải đến khi nhìn thấy chính mình đang ngồi trên xe đạp, ông mới kịp kinh ngạc. Xe vẫn lăn bánh, còn gương mặt ông - gương mặt của con người đang ngồi trên xe ấy - thì lại trắng bệch ra như cái xác không hồn. Sau một cú va chạm mạnh vào lề đường, P. lồm cồm bò dậy và sực tỉnh.
          Ông không dám nhảy lên xe đi tiếp. Người chưa hết run, ông dong xe đi bộ trên hè, cố làm ra vẻ bình thản, nhưng một nỗi hồi hộp thật khó tả khiến tim ông đập cuồng lên. Ông biết rằng, do sự tình cờ, ông đã phát hiện ra cái khả năng dị thường của chính mình.

                                                                   *
                                                                *    *

          Cuộc thí nghiệm đầu tiên dự kiến vào lúc mười chín giờ ba mươi phút cùng ngày. Bữa cơm vừa kết thúc, mâm bát dọn đi, một mình P. ngồi nán lại bên bàn. Ông bình tĩnh pha một ấm trà. Suốt cả ngày hôm nay ông căng thẳng chờ đợi giây phút này. Đã có lúc lòng kiên nhẫn suýt bị đánh gục - P. định thử luôn ngay tại bàn giấy… Nhưng bây giờ, ông lại thấy cái khả năng phi thường đó không có gì xa lạ với ông - ông muốn đem nó ra thực hành lúc nào cũng được.
          P. thong thả mở cặp, lấy ra tờ báo mới. Ngay trang nhất, báo đưa tin về cuộc thi hoa hậu đoan trang toàn quốc. Cần phải nói thêm rằng, ở cái thành phố hẻo lánh của P. không mấy ai quan tâm đến cuộc thi, nhất là những người ở lứa tuổi ông và có hoàn cảnh sống tương tự. Nhưng P. thì ngược lại - ông âm thầm theo dõi ngay từ lúc cuộc thi khởi đi bước đầu tiên. Và khi đài phát thanh, trong bản tin chiều cách đây vài ngày loan báo kết quả, ông đã lặng lẽ mặc quần áo đi ra đường. Nói đúng hơn là cả thành phố quạnh vắng lúc bấy giờ chỉ có một mình P. đổ xuống đường, làm một cuộc diễu hành chào mừng thầm lặng.
          Trên trang nhất, những tấm ảnh màu tuyệt đẹp - kỹ nghệ in ấn mấy năm qua đã tiến một bước dài! P. tò mò ngắm nhìn gương mặt Hoa hậu. Không, quả thật ông không thích các hoa hậu nói chung. Vẻ đẹp của họ hoàn thiện quá, trí tưởng tượng của kẻ chiêm ngưỡng sẽ chết luôn cùngvới niềm thán phục. Ông yêu các á hậu hơn. Ông sẵn lòng chia sẻ với họ nỗi cảm thông trước một thắng lợi chưa tuyệt đối.
          Á hậu thứ nhất đứng bên phải Hoa hậu, không hiểu sao lại có vẻ mặt hơi buồn. Khi P. nhìn nàng bằng cái nhìn dịu dàng nhất mà ông có, đột nhiên nàng thay đổi thái độ. Từ trong trang báo, nàng khẽ nheo một mắt lại - dấu hiệu chứng tỏ nàng đã nhận ra ông, đồng minh đáng tin cậy, giữa cái đám đông có khiếu thẩm mĩ nông cạn nhốn nháo nhiều ngày qua trước mặt nàng. P. cảm động ngây ngất. Sau cơn rùng mình khoan khoái, ông chợt thấy mình rơi tõm xuống một lòng giếng sâu hun hút, tối mù mịt. Gió thổi ù ù hai bên tai. P. hoảng hồn, cố vùng vẫy để thoát khỏi trạng thái rợn ngợp không trọng lượng, nhưng vô hiệu. May sao đúng vào lúc tưởng như hoàn toàn tuyệt vọng thì cuộc rơi bất ngờ kết thúc. Một khoảng không chan hoà ánh sáng mở oà ra trước mắt P. Trong vùng ánh sáng siêu thực, ông nhìn thấy nàng - Á hậu thứ nhất - bằng xương bằng thịt. Cái chấm nhỏ xíu trên mép nàng trong bức ảnh đã hiện nguyên hình là một nốt ruồi son. P. thấy mình vững tin lên và hơn thế, ông còn hào hoa phong nhã chẳng kém gì ai.
          - Đợi anh đã lâu chưa? - Ông hỏi.
          - Một thế kỷ! - Nàng đáp.
          - Thế cũng chưa gọi là lâu - P. thở phào, tự nhiên nảy ra nhu cầu triết lý - Có những người mãi mãi tìm nhau nhưng vĩnh viễn chẳng bao giờ gặp nhau. Còn anh và em thì…
          - Tiền!
          P. ngừng bặt. Ông ngơ ngác mất một chút. Ông có nghe nhầm không đấy? Hình như là ông nhầm. Để khẳng định mình nhầm, ông dấn lên một bước. Quả thật nàng đã ngoan ngoãn để cho ông hôn lên nốt ruồi son. Họ dắt tay nhau đi, phơi phới trong khoảng không bao la với thứ ánh sáng diệu huyền. P. còn định hỏi nàng một số câu hỏi nữa, tỉ như: tại sao nàng yêu ông; nàng có hiểu ông không; nàng có tin rằng ông là người duy nhất trên thế gian này đánh giá đúng vẻ đẹp tâm hồn và thể xác nàng, vân vân… Nhưng không hiểu sao cái âm thanh chết tiệt ấy - “tiền” - cứ văng vẳng bên tai ông, khó chịu như tiếng vo ve của một con nhặng. Lại nữa: nàng vẫn mặc trên người chiếc áo thời trang còn nguyên cả biển số, như đang trong cuộc thi. Số 36! Chín nút. P. lại liên tưởng rất nhanh đến những chiếc biển số gắn sau đuôi xe máy. Chả là ông vẫn có thói quen mỗi lần đi ngoài đường lại nhẩm tính số nút của những chiếc xe máy phóng ào qua mặt. Thường là xe càng sang thì biển số càng “đẹp” - nghĩa là số nút càng lớn. Nút của nàng tối đa… Rõ thật khỉ! Nhảm nhí đến thế là cùng. P. kiên quyết xoá bỏ những liên tưởng thô thiển chỉ chực làm phương hại đến cái không khí thần tiên mà ông đang đắm mình trong đó.
          Cuối cùng, họ cũng đến được đích mà không quá phức tạp như ta tưởng. Khi cả hai đã ngả mình trên bãi cỏ êm ái và P. chuẩn bị ngất lịm đi vì sung sướng, đột nhiên ông lại nghe:
          - Tiền?
          - Gì cơ?
          - Tiền!
          - Tiền nào?
          P. dỏng tai lên để nghe cho rõ thì lập tức tai ông bị tóm ngay lấy và xoắn đi khá đau. Trời đất bỗng tối sầm. Tất cả biến mất - chốn thần tiên cùng Á hậu tuyệt kỳ. Con đường hầm hun hút. Gió thổi ào ào. Chớp mắt, ông đã hiện diện ở nhà mình bên chiếc bàn ăn. Tờ báo đẹp lăn xuống đất.
          Những ngón tay tai ác nới lỏng vành tai của ông ra. Giọng bà vợ rin rít:
          - Chỉ khéo vờ vịt. Mê ngủ chắc? Tiền, tiền nào nữa… Hôm nay là mồng năm, nhớ chưa?
          P. hồi tỉnh, thừa nhận đúng hôm nay là mồng năm. Đã thành lệ, cứ đúng ngày mồng năm hàng tháng là bà vợ khảo tiền lương của ông. Nhưng lần này…
          - Hôm nay là mồng năm, nhưng là tháng đầu qúy, lương chậm.
          P. ôn tồn giải thích, đồng thời rất ngạc nhiên thấy có cái gì vương vướng ở trong quần. Ông thoáng đỏ mặt. Lừa cho bà vợ ngồi xuống yên ổn ở chiếc ghế bên kia bàn, ông đứng dậy, ấp úng đi vào nhà trong. Dáng đi lom khom khác hẳn thường ngày, nhưng may vợ ông không để ý - bà đang rầu rĩ về chuyện tiền nong.
          P. đi thẳng xuống nhà tắm, cẩn thận cài cửa lại. Ông tụt phăng chiếc quần mặc nhà rộng thùng thình. Bộ phận đàn ông trên cơ thể ông cương to, rắn chắc, nóng rãy, bật văng ra như một chiếc lò so bị hãm. P. bàng hoàng. Rồi ông lập tức hiểu ra đấy là di chứng duy nhất của cuộc du hý vừa rồi trong miền cực lạc. Ông bần thần hồi lâu. Sau rốt, quyết định hạ nhiệt độ cho nó bằng cách tưới lên những gáo nước lạnh.
          Tốn khá nhiều nước. Xong xuôi, P. thư thái bước lên nhà. Có một niềm vui trẻ trung, tuyệt mật, đang nhảy nhót trong lòng ông.

                                                                *
                                                             *    *

          Vậy là cuộc thí nghiệm, mặc dù không được P. chủ động, vẫn cứ diễn ra và kết thúc khá thành công. Giờ đây bất kỳ lúc nào, chỉ cần khôn khéo hơn một chút, ông cũng có thể từ bỏ cái thế giới xám xịt và tẻ ngắt thường ngày để phiêu diêu sang một thế giới khác hoàn toàn như ý. Những lúc ngồi một mình trước cái bàn giấy lạnh tanh ở cơ quan mà chẳng có việc gì làm. Những buổi tối vò võ bên bà vợ khắc khổ trong căn nhà thừa muỗi và thiếu ánh sáng điện. Ông chẳng dại gì làm việc đó khi đang đi trên đường. Và thích hợp hơn cả là sau bữa ăn tối lẻn ra ngồi ngoài sân dưới giàn hoa thiên lý. Ở đó, P. đã bố trí sẵn cho mình một chiếc ghế tựa. Từ cái sân bay bằng gỗ tạp hết sức khiêm tốn này, ông đã thực hiện bao nhiêu phi vụ tuyệt thú. Trong cái lãnh địa lý tưởng chỉ mình ông biết cách đặt chân tới, linh hồn ông mặc sức rong chơi, chạy nhảy tung tăng như đàn gia súc trên đồng cỏ tươi non.
          Đã có lúc, lạy Chúa, ông muốn ở lại hẳn bên ấy. Ông định vĩnh viễn từ bỏ cái thế giới cứ khiến ông luôn luôn bị đỏ mặt! Có quá nhiều lý do chính đáng để ông làm việc này, kể cả một thực tế mà nhờ có chuyên môn P. mới nắm được: theo những số liệu thống kê mới nhất, số người đỏ mặt trên thế giới nói chung và trong nước nói riêng đang ngày một ít đi. Điều này khiến P. ngấm ngầm lo ngại. Tuy vậy, ông vẫn chần chừ. Ông chần chừ vì những lý do khác kém quan trọng hơn, nói đúng ra là những lý do cực kỳ vớ vẩn: chiếc xe đạp để ngoài sân quên chưa khóa, một tờ bạc rách chưa kịp dán lại… Và bà vợ… Ôi chao, bà vợ ông, người đàn bà héo hon giờ đây chỉ thạo nắn túi chồng trong những ngày mồng năm hàng tháng. Một ngày xấu trời xa lắc nào đó, ông đã kết hôn cùng với bà; đã chung sống với bà chừng ấy năm và đẻ ra một lũ con xem ra tương lai cũng chẳng có gì sáng sủa hơn bố, nghĩa là cũng ngơ ngác, âu sầu và rất hay đỏ mặt. Ông không nỡ từ bỏ họ. Trong cái hành vi quay về của ông, bên cạnh sự khờ dại, còn có một nỗi buồn mà không phải ai cũng dễ dàng thông cảm.
          Dần dà, với nàng Á hậu khả ái, lòng ngưỡng mộ của P. cũng ít nhiều bị thương tổn. Thực tình ông không làm sao phân biệt nổi ai là người đã đòi tiền ông hôm đó - vợ ông hay nàng? Nghi ngờ thì rất khổ. Vả lại, trong cái thế giới hoàn mĩ kia không có chỗ cho sự nghi ngờ. Những chuyến bay vì thế đã có phần chểnh mảng. Chưa biết chừng chúng còn chấm dứt hẳn, nếu không bất ngờ xảy ra một sự việc khiến nguồn cảm hứng của ông được hâm nóng, và ông ráo riết chuẩn bị cho một cuộc phiêu lưu mới…
          Hôm ấy, P. quyết định đi may một chiếc quần. Bình thường ông chỉ có hai chiếc để thay đổi. Cả hai đều đã cũ sờn, gần đây lại phải trưng dụng thường xuyên vào những cuộc mật du như ta đã biết, nên một chiếc đã bục rách. Ông chọn cái tiệm may vắng vẻ, xoàng xĩnh ngay trên đường đi làm hàng ngày. Tiệm có cái tên rất đẹp: Ngọc Hân. Nhưng chủ tiệm - trùng tên nàng công chúa nổi tiếng trong lịch sử - lại là một cô gái nhỡ thì, suốt ngày ngồi bên bàn may lơ đãng nhìn ra đường, đầu nghênh nghênh sang bên như người nặng tai. Lúc P. mang vải tới, cô có vẻ mừng rỡ ra mặt. Cô dẫn ông vào phòng trong, đo cho ông rất cẩn thận.
          - Thằng bé nằm bên nào?
          - Thằng bé nào? - P. ngạc nhiên, và ông phải nhắc lại câu hỏi lần thứ hai, cô chủ tiệm mới nghe ra rồi cười ngặt nghẽo.
          - Dạ thưa, nó đây ạ - Cô khẽ búng ngón tay vào chỗ đó của ông - Tôi thấy nó hơi khác thường nên phải hỏi để tính toán cho kỹ, kẻo quần may xong ông mặc vào trông không được nhã.
          P. đỏ nhừ cả hai tai. Nhưng ông thấy thinh thích. Hàng lông măng sẫm màu trên mép nàng. Cái cổ áo trễ nải. Thậm chí cả đến vẻ nghênh nghênh lãng tai kia nữa… Lúc Ngọc Hân quay ra bàn để viết biên lai, ông phải lén thò tay vào túi quần, búng một cái thật mạnh.
          Lấy quần hôm thứ bảy, P. dự định dành cả buổi sáng chủ nhật sau đó sẽ cùng cô chủ tiệm may ngao du tới chốn thiên đường của riêng ông. Chưa lần nào ông háo hức và chu đáo như lần này. Ông tìm thấy ở cô công chúa điếc ấy một sự thân gần đặc biệt, hơn hẳn so với nàng Á hậu. Cô đã cười với ông, đã dám búng ngón tay vào chỗ thiêng liêng nhất… Rõ ràng để gian díu với cô, ông không cần phải cố.
          Nhưng một trục trặc nhỏ đã xảy ra. Đúng buổi sáng chủ nhật, ăn sáng xong, mặc quần mới đàng hoàng để chuẩn bị ra sân bay dưới giàn thiên lý, bà vợ ngăn ông lại. Bà yêu cầu ông đèo bà đi chợ. Bà có hàng tỷ lý do để đi chợ vào ngày chủ nhật. Ông biết mình không đủ sức mạnh để cưỡng lại ý muốn sắt thép đó, đành ngậm đắng dắt xe ra.
          P. đèo vợ đi cắm cúi. Chỉ đến lúc ngang qua chỗ tiệm may Ngọc Hân, ông mới liếc một cái thật nhanh về phía cửa tiệm. Ông chưa kịp nhìn thấy bóng cô chủ thì đã có ngay một con chó từ đâu đó lao vụt đến. Con chó màu xám, hộc lên một tiếng xấc xược, rồi cứ thế ép sát bên chiếc xe cà khổ của ông, tìm cách đợp vào chân ông. P. hoảng hốt co cả hai giò lên cao. Bà vợ ngồi sau ôm riết lấy ông, mắt nhắm tịt, miệng tru tréo. Chiếc xe lạng quạng. Tình huống thật bất ngờ và cực kỳ khôi hài. May mà P. hãm lại kịp, và con chó - sự bày đặt xỏ lá của số mệnh - đã quay đầu nhông nhông chạy đi.
          Bên kia đường, Ngọc Hân thò cổ ra. Cô bỗng nhận ra ông và cười rũ rượi.
          Mặt P. đỏ tía lên, rồi chuyển sang tím ngắt. Một nỗi căm uất đột ngột trào lên họng. Ông muốn đá một phát chết tươi con chó. Ông muốn - điều này ghê gớm hơn - hất nhào bà vợ vào gầm chiếc ôtô tải bất kỳ nào chạy qua (không hiểu sao đến lúc này bà vẫn còn ngồi vắt vẻo sau xe đạp?). P. hoàn toàn có thể, và ông khát khao làm việc đó, một lòng khát khao mãnh liệt và tăm tối.
          Nhưng rất tiếc (hay là rất may?) không có chiếc ôtô tải nào kịp đoán ra ý ông.

                                                                   *
                                                                *    *

          Về đến nhà, khi đã bình tâm lại đôi chút, ông thấy người mệt rũ. Ông bỏ đi nằm ngay, không ăn uống gì. Nửa đêm, ông tỉnh dậy quờ tay sang vợ. Cánh tay ông nóng hầm hập. Ông thận trọng ôm riết lấy cái thân hình khô cứng của bà, khiến cho những đốt xương kêu lên răng rắc như những cành củi nhỏ bị bẻ gãy. Hoàn toàn không hiểu gì về tính chất sám hối trong hành động của chồng, bà vợ P. đã kiên quyết giãy ra khỏi vòng tay ông, càu nhàu một câu gì đó khiến ông bật khóc.
          P. nằm liệt giường khoảng một tuần lễ. Khi bình phục, ông bỗng có thái độ đố kỵ kỳ lạ với những chiếc ôtô tải. Ông tìm mọi cách tránh mặt chúng mỗi khi đi ngoài đường. Cái lộ trình quen thuộc mười bảy năm nhà-cơ quan-nhà bị đảo lộn lung tung. Nhưng hình như chính vì thế mà chúng, những chiếc xe mất dạy ấy, lại cố tình tỏ ra không biết điều. Bất kỳ ở ngã ba hay ngã tư nào đó, chúng cũng có thể đâm bổ ra, rú lên như quái vật và thốc bụi khói vào mặt ông. Những lúc ấy, P. đứng lặng hồi lâu bên lề đường, hai tay ghì chặt lấy ghi đông xe đạp, hoang mang không biết nên xử sự ra sao - đi tiếp hay quay lại? Ban đêm, những chiếc xe tải ấy còn hành ông dữ hơn nữa. Trong giấc mơ, chúng biến thành đàn bọ hung gớm ghiếc bò lổm ngổm lên người ông. Chúng rúc vào nách ông, bấu chặt những chiếc móng sắc vào da thịt. Ông đánh vật với chúng, phát khùng lên và sáng ra khi tỉnh dậy, trong đôi mắt đau ốm của ông còn lóe lên cái tia sáng man dại của một tên hung thủ chưa bị phát giác.
          Hôm ấy là mồng năm - ngày lĩnh lương hàng tháng. P. đếm tiền rất cẩn thận, chia làm ba phần nhét vào các loại túi có trên người. Dọc đường về, ông ghé vào một cửa hiệu thuốc tây. Ông dựng xe bên ngoài hè phố rồi thận trọng bước đến trước cái tủ kính bày la liệt các loại chai lọ, hộp giấy, ống tiêm, thuốc vỉ… Những cái nhãn hiệu in hình con rắn đang ngóc đầu nhả nọc độc vào miệng chiếc ly liên tiếp đập vào mắt P.
          - Ông làm ơn cho hỏi, ở đây có thuốc diệt côn trùng không? - Giọng P. vang lên không hoàn toàn tự tin.
          Viên chủ hiệu thuốc rời mắt khỏi trang sách đọc dở, ngước lên nhìn. Một cặp kính dày như hai cái vỏ sò đựng đầy lòng trắng trứng:
          - Thứ dành cho người cũng có, nếu ông muốn.
          P. rùng mình. Viên chủ hiệu nhận ra ngay câu đùa không đúng chỗ, vội nghiêm mặt lại:
          - Ông cần thứ nào? Ruồi, muỗi, gián, hay là thạch thùng? Ở đây có đủ những thứ đặc hiệu, sê ri mới nhất. Chẳng hạn như thuốc diệt thạch thùng - Ông ta nhanh nhẹn lôi từ trong ngăn kéo ra một gói bột màu trắng - Không biết ông thế nào chứ tôi ghét cay ghét đắng cái giống bò sát kinh tởm này! Chỉ cần một chút bột rắc lên tường chỗ chúng hay qua lại. Một thời gian sau, chúng khá lên trông thấy, núc na núc ních và thôi không bắt muỗi nữa. To chừng ngón chân cái, chúng sẽ rơi xuống và đứt ra từng khúc. Nói chung đối với giống sâu bọ, cứ phải vỗ béo chúng rồi tự khắc chúng sẽ lăn ra chết. Đánh đập chúng tàn nhẫn quá không ăn thua gì đâu…
          - Tôi cần thứ thuốc trừ khử loài bọ hung!
          Bị P. cắt ngang, viên chủ hiệu thuốc hơi cụt hứng. Ông ta hỏi lại một cách dè dặt:
          - Xin lỗi, nhưng hình như ở vùng ta không thấy xuất hiện loại côn trùng này?
          Vừa vặn lúc đó có một chiếc ôtô tải chạy ngang qua. Chiếc tủ kính đựng thuốc rung lên nhè nhẹ. P. ép sát bụng vào thành tủ, người cúi rạp về phía trước trong một tư thế không bình thường. Mặt ông đỏ lên với nụ cười méo xệch:
          - Ông lầm… Có rất nhiều… À mà thôi! Thế ở đây có thứ gì đầu độc các giấc mơ không? Sao, ông không hiểu à? Tiếc nhỉ. À, mà ông hiểu làm sao được. Không hiểu được…
          P. quay lưng, loạng choạng bước ra trong sự kinh ngạc trộn lẫn lòng trắng trứng.     Chiếc xe đạp của ông không còn thấy đâu nữa. Hè phố vắng ngắt.
          P. ngơ ngác mất vài giây đồng hồ. Rồi sau khi hiểu ra rằng mình đã mất xe - bị một tên kẻ cắp nào đó thuổng mất - ông tặc lưỡi, đi bộ.
          Ông rẽ vào một quán rượu. Ở đó, ông uống đủ đến mức không nhận tiền thừa người ta trả lại.
          Từ quán rượu ra, P. lang thang dọc các hè phố hồi lâu. Ông lạc vào một con hẻm đèn đóm lờ mờ. Nhưng điều đó chẳng hề làm ông lo ngại. Ngay cả khi có một ả đàn bà bất đồ từ trong vườn tối băng ra nắm lấy tay ông và nói một câu gì đó, ông còn lẳng lặng đi theo ả. Sau đó, trong căn phòng chật hẹp, ả chỉ thấy ông mở miệng nói một câu duy nhất với bức tường. Ấy là lúc ông vừa từ cái nhà tắm nhớp nháp trở về - ông chỉ tắm qua quýt nửa người bên dưới - ngồi trên giường thõng hai chân xuống, còn ả thì qùy dưới nền nhà dùng một chiếc khăn bông lớn lau khô nước cho ông. Bằng vẻ mặt quan trọng và giọng nói thì thầm đứt quãng, ông hướng vào bức tường vôi loang lổ trước mắt:
          - Thưa qúy vị! Tôi nói khí vô phép… Làm chó gì có qúy vị nào… lúc sắp lên giường… được vợ lau chân… như thế này?…
          P. nấc lên, sau đó thì ông lên giường và không còn biết gì nữa.
          Rời khỏi cái nhà thổ ấy, tất cả các túi trên người P. đều sạch nhẵn. Không còn phương tiện và cũng không còn nơi chốn nào để đến nữa, ông lần về nhà. Cửa nhà ông chốt chặt. Trong phòng tối om và yên ắng. Ông thở dài, định ngồi bệt xuống cho đỡ mỏi thì chợt nhìn thấy chiếc ghế dưới giàn thiên lý. “Lâu quá mình không bay”. Ông lảo đảo bước tới bên chiếc ghế quen thuộc. Khi đã vịn được tay vào thành ghế, ý nghĩ ông lập tức trở nên sáng tỏ. “Phải thoát ra khỏi vũng bùn hiện tại này. Phải thoát”. P. vội vã thực hiện các thao tác mà đã lâu ông xao nhãng. Ông cảm thấy chật vật hơn rất nhiều. Đúng vào giây cuối cùng, ông lại đột ngột thay đổi ý định. Ông không thả hồn mình phiêu lãng đến cái thế giới huyền hoặc như mọi lần…

                                                                   *
                                                                *    *

          Mùa hè năm một ngàn chín trăm bảy tư.
          P. vừa tốt nghiệp đại học, còn vợ ông lúc bấy giờ đang là sinh viên năm cuối cùng. Chàng và nàng chưa cưới nhau, nhưng quyết định ở lại trường với nhau suốt mùa hè ấy. Bằng cách nào đó, nàng đã bí mật mượn được một căn phòng lợp rạ, vách đất trong khu tập thể tồi tàn của sinh viên. Căn phòng kê vừa chiếc giường cá nhân, còn thừa ra một lối đi hẹp. Trong cái tổ chật chội và đạm bạc ấy, cả hai vẫn chưa dám bước tới giới hạn cuối cùng của tình yêu - các buổi tối, chàng vẫn phải bấm bụng đi ngủ nhờ nhà người bạn ở ngoài phố.
          Trước mỗi bữa ăn, nàng thường cất giọng vui vẻ hỏi:
          - Anh thích món gì?
          - Tùy em - chàng đáp, vẻ thờ ơ như một kẻ no đầy không bao giờ phải bận tâm tới chuyện ăn uống.
          - Thì chọn phứa đi, gà tần hay vịt quay?
          - Hừ… ừm! Gà vịt mãi ngấy bỏ xừ. Đổi món đi. Sườn xào chua ngọt, hay cá bỏ lò cũng được, em ạ. Với lại, anh van em, đừng có nốc sâm panh nữa, đầy bụng lắm.
          Nàng rũ ra cười, cười chảy cả nước mắt. Bao giờ chàng cũng tỏ ra có khiếu hài hước hơn nàng. Thay vì cá bỏ lò, họ chia nhau bánh mì suông với cả một bình nước đun sôi để nguội.
          Một lần đi đâu về, chàng phát hiện ra đống sách của mình xếp chất ngất ở cuối giường bị vơi đi một ít. Chàng chưa kịp hỏi thì nàng đã lôi chiếc soong từ gầm giường ra khoe:
          - Hôm nay em đãi anh món này, thú vị lắm - Nàng chỉ vào mớ cá giếc còn tươi rói với những quả cà chua đỏ mọng xếp trong đó.
          - Thế những quyển sách?…
          - Em thanh toán bớt đi rồi.
          Chàng quay ngoắt lại, bất ngờ tóm chặt lấy vai nàng:
          - Anh giết!
          Chỉ là đùa thôi, chàng định thế. Nhưng nàng đã khéo léo ngã ra giường, như sẵn sàng để cho chàng “giết”.
          Khi P. tỉnh lại, chàng ngạc nhiên nhìn thấy cửa sổ, cửa ra vào vẫn mở toang. Nắng chan hòa ngoài sân trường, và căn phòng chật chội dột nát này chìm đắm trong một bầu không khí yên tĩnh tuyệt vời trong sạch.
          Họ cùng ăn bữa trưa với nhau - bữa trưa có món riêu cá giếc. Vệt nước mắt đã khô trên má nàng. Đó là bữa ăn tuyệt trần nhất trong đời P. Xương cá giếc hơi cứng, nhưng chàng nhai ráo cả xương.
          Ăn xong, chàng uể oải đứng lên, thản nhiên rút ra từng quyển sách quăng xuống nền nhà. Không cần nói nửa lời, nàng cũng hiểu ra ngay ý chàng.
          - Cả Ban-zăc à?
          - Cả Ban-zăc.
          - Cả Hê-ghen à?
          - Cả Hê-ghen.
          - Cả…?
          - Tuốt! Văn học! Triết học! Kinh tế học! Thống kê học! Các nhà kinh điển! Các giáo sư!… Cho đi gói xôi tuốt!
          Hai con người bé nhỏ yêu nhau, mồ hôi mồ kê nhễ nhại, đang sung sướng và điên khùng đóng bao toàn thế giới đem đi bán đồng nát.
          Chàng ở hẳn lại cùng với nàng cả ngày lẫn đêm. Suốt những ngày hè còn lại, họ hầu như chỉ có việc ăn rồi lên giường với nhau. Tiếng chiếc giường rên rỉ, tiếng mặt đất hổn hển, tiếng mồ hôi đầm đìa hối thúc, không làm sao dập tắt cơn khát cứ hừng hực cháy lên dưới cái nắng hè thiêu đốt. P. hầu như không ngủ - chàng chỉ ngủ khi phải đèo nàng đi đâu đó, những giấc ngủ ngắn và khoan khoái ngay trên yên xe đạp.
          Mùa hè chói chang ánh nắng và tràn đầy sinh lực. Quá khứ ư? Vớ vẩn! Tương lai ư? Phụ thuộc và đầy bất trắc! Chỉ có hiện tại, hiện tại tươi ròng, xác thực như một cái đầu dương vật trong cuộc giao hoan. Mùa hè ấy là của P. Thế giới bất hợp pháp, điên rồ nhưng có thật ấy thuộc sở hữu của ông. Nó từng bị chôn cất mười bảy năm, và giờ đây đi trong ánh sáng của chính nó, ông bàng hoàng, sung sướng, đau đớn như lạc vào một xứ sở hoàn toàn xa lạ.

                                                                  *
                                                               *    *

          Nửa đêm, vợ P. tỉnh giấc mở cửa ra sân. Bà nhìn thấy chồng đang ngồi bất động như pho tượng, đầu cúi gục. Bà hoảng hốt dìu ông vào nhà vì sợ ông bị cảm lạnh. Thân thể ông nhẹ bỗng như bị rút hết ruột, khiến bà không ngần ngại bế bổng ông lên.
          Bà không bao giờ ngờ được rằng bà đã giết ông bằng chính cái hành động từ thiện của mình. Khi linh hồn tươi tốt của P. từ mùa hè năm bảy tư hân hoan quay về cái sân bay dưới giàn hoa thiên lý, nó không tìm thấy ngôi-nhà-thể-xác đâu nữa.


                                                                        Vũng Tàu, tháng 10-1991
                                                                                          T.Đ.T 

NHÀ VĂN NGÔ THỊ KIM CÚC :

Một mình, anh ta thực hiện cuộc đào thoát. Một mình, anh ta thỏa thuê tận Hưởng những lạc thú chốn thiến đường tự tạo ấy.Nhưng cuối cùng bao giờ anh ta cũng quay trở lại cuộc đời thực của mình bằng mối dây liên lạc là nỗi buồn . Đó là sự nhẫn nhục, sự biết điều tối đa của kẻ có cuộc đời đã bị cấm cố. Thế mà chính nàng , người tình say mê và cuồng dại, người bây giờ đã trở thành kẻ canh giữ túi tiền thảm hại của anh ta, đã đẩy anh ta vĩnh viễn ra khỏi cuộc đời mình, chỉ vì đã lầm lẫn xâm nhập vào chốn lãnh địa riêng tư của chồng. Đúng khi anh ta quay trở về mùa hè mười bảy năm trước , mùa hè của tình yêu và tuổi trẻ của họ. Chu kỳ đã khép kín khi anh ta trở lại điểm xuất phát.
Những “cuộc ngoại tình tư tưởng” ấy thực ra là lối thoát duy nhất giúp anh ta duy trì cuộc sống của mình, có được sự thăng bằng cần thiết để tiếp tục những gì mình phải gánh chịu. Bởi cái  hiện tại thê thảm xám xịt đó của P không xứng đáng được gọi tên là cuộc sống. Lối mòn lặp đi lặp lại mỗi ngày, cái bàn giấy không có việc làm, căn nhà thừa muỗi và thiếu ánh điện, bà vợ chỉ có mối quan tâm duy nhất là tiền cùng lũ con ấu sầu ngơ ngác….P cần được bù đắp, được an ủi bằng nàng á hậu kiều diễm và ngay cả cô thợ may nghễnh ngãng . Cho nên con người cục đất là P suýt trở thành kẻ sát nhân khi bị ngăn trở bởi chính bà vợ vừa-là-đồng-lõa-tội-nghiệp vừa là cai-tù-không-thể-thoát của mình.Người ta tự hỏi nếu đúng lúc đó một chiếc xe tải xuất hiện, liệu cái ý nghĩ đột xuất hung tàn trong P có biến thành hành động tàn nhẫn và dứt khoát ? Trong khi chỉ mới là ý nghĩ thôi, P đã bị nó ám ảnh và trừng phạt nặng nề đến thế ?
Một vài đối thoại cứ trở đi trở lại trong tôi. Câu nói tưởng-như-giữa-trời của chủ hiệu thuốc :
- Chỉ cần một chút bột rắc lên tường , chỗ chúng hay qua lại. Một thời gian chúng khá lên trông thấy, núc na núc ních và thôi không bắt muỗi nữa.To chừng ngón chân cái, chúng sẽ rơi xuống đất và đứt ra từng khúc. Nói chung đối với giống sâu bọ cứ phải vỗ béo chúng rồi tự khắc chúng sẽ lăn ra chết. Đánh đập chúng tàn nhẫn quá không ăn thua gì đâu…
Và câu nói lắp bắp , hầu như tối nghĩa của P:
- Có thứ gì đầu độc các giấc mơ không ? Sao ? Ông không hiểu à ? Tiếc nhỉ ? À, mà làm sao ông hiểu được ?
Chân dung của cái gã người được gọi là P đã trở nên bắt mắt hơn nhờ những câu nói ấy.Cái gã người không già không trẻ , chỉ có được hai chiếc quần với cố tật hiếm hoi là đỏ mặt , gã đàn ông gần như có thể hóa thân thành cây cỏ ấy, tực ra có thể gọi tên từ A đến Z. Bình thản, lẳng lặng  và có lẽ với một thoáng cười châm chọc, Trần Đức Tiến đã trình bày nhân vật của mình rất thân ái có lúc suồng sã.Chỉ tiếc ngòi bút tả thực của anh đôi khi đi quá mức cần thiết , làm hạn chế sự tham gia của người đọc vào trò chơi ngôn ngữ thú vị của mình .

N.T.K.C.

Thứ ba, ngày 22 tháng năm năm 2012

CHÂN DUNGHAY CHÂN TƯỚNG NHÀ VĂN (KỲ 40)


                  
                                                               (tiếp theo)

Chưa hết, ông bí thư tỉnh uỷ còn ‘thọc sâu” vào gia đình người ta :
Đồng chí Bí thư tỉnh uỷ liền tính toán với ông chủ gia đình về công việc của từng đứa, buổi sáng chúng làm gì ? Trưa chiều nên giao cho chúng những việc gì ? Rồi Quang bày cách thu dọn lại nơi ăn chốn ở, từ chỗ xếp quần áo, đến sách vở, guốc dép, đồ dùng thức đựng trong gia đình…”
Chẳng rõ bà chủ nhà – tức vợ ông “bí thư xã” phản ứng sao khi chứng kiến thằng cha căng chú kiết nhảy vào nơi riêng tư trong tổ ấm của chị , “xía vô” tới cả những việc lẽ ra chỉ có vợ chồng chị biết. Ngược đời, thời đó  người ta lại lấy làm “vinh dự” và cảm động vì được ‘đồng chí bí thư tỉnh uỷ” quan tâm ,săn sóc . Văn hoá ứng xử xã hội chủ nghĩa nặng mùi “ nô lệ”, “tôi tớ” vậy đó. Người ta tự tước bỏ quyền riêng tư trong  gia đình khi được nhận ơn mưa móc của cấp trên . Quả nhiên sau khi ‘dậy dỗ bảo ban” gia chủ chi li cặn kẽ, ông “bí thư tỉnh uỷ” liền lệnh cho ông Chủ tịch huyện trích quỹ cho ông này vay “hai trăm mua một con nghé, chăn dắt một năm bán đi cũng được ba bốn trăm, có thêm một khoản tiền…”.
Đảng “lãnh đạo’ ở cấp tỉnh là như thế đấy, nổi hứng lên một ông bí thư tỉnh uỷ có quyền tuỳ tiện móc công quỹ ra ban phát cho kẻ này kẻ khác bất chấp luật lệ tài chính của Nhà nước. Xuống xã lần này, ông Bí thư tỉnh uỷ cũng được  chứng  kiến một ông Chủ tịch xã tham ô. Ông này lợi dụng chức vụ “ viết giấy giới thiệu lên huyện xin mua những…hai chục tạ phân đạm rồi bán ra ngoài theo giá tự do” rồi thì “một năm trời làm ngơ cho thằng Kim ở Đại Lâm mổ lậu mười lăm con lợn , mổ mỗi con lại mời ông chủ tịch một bữa chén, nếu không ăn thì hắn cho con đưa sang một nửa cỗ lòng.” . Rồi thì “chỉ riêng số gạo cứu đói cho Du Lâm tháng ba năm ngoái , ông Chủ tịch cũng để riêng cho gia đình mình hơn hai tạ…”.
Mua bán chênh lệch hai tấn phân đạm, ăn của đút “nửa cỗ lòng heo”, “một bữa chén”, ăn chặn hai tạ gạo…chỉ có thế thôi mà ông Chủ tịch xã vẫn phải đi tù. Đó là tình hình tham nhũng vào những năm đầu thập kỷ 1970. Hơn 40 năm sau, tốc độ ăn cắp  của cán bộ Đảng ta đã gia tăng đến khủng khiếp nếu ta tính được số tiền và của cải bọn đầu sỏ VINASHIN, VINALINES và vô số các Tổng công ty khác moi móc của Nhà nước. Từ “nửa cỗ lòng heo” ngày xưa đến biệt thự, trang trại ngày nay  -  cán bộ Đảng ta quả thực đã nhảy vọt một bước vĩ đại, có tính cách lịch sử nâng nghề ăn cắp thành nghệ thuật, đưa tham nhũng trở thành một phần máu thịt trong cơ thể “Đảng ta”.
 Ông bí thư xã nhận xét ông Chủ tịch xã tham ôlà một cán bộ đã được  rèn luyện, một con người tốt, có năng lực làm việc , sở dĩ mắc tội  tham ô là vì “những sai lầm của anh ấy chúng tôi biết cả, biết ngay từ đầu.. Chỉ vì trong Đảng uỷ nể nả nhau quá, nhân nhượng nhau nhiều lần quá thành thử lỗi nhỏ thành lỗi lớn…”
Ông Bí thư tỉnh ủy giở giọng cao đạo :
 “Hoặc là chúng ta phải nghĩ tới nhân dân , tới phong trào; hoặc là chúng ta chỉ lo lắng cho riêng mình…” 
Ngày nay các đồng chí “bí thư tỉnh uỷ” chẳng còn nói năng theo kiểu “chống chủ nghĩa cá nhân” thời “bác Hồ” được nữa, một vì “"ngượng mồm"” , hai  sợ cấp dưới nó cười cho thối ruột.
Khác với “ Xung đột” còn có “mâu thuẫn địch – ta”, còn có chuyện đấu đá giữa ‘nhà nước” và “ nhà thờ” câu chuyện còn có chút hấp dẫn , ly kỳ, trong “ Chủ tịch huyện”, chỉ  có quan hệ giữa cán bộ và xã viên , tức “mâu thuẫn nội bộ” ,  ít  “gay cấn”, đấu đá “một  mất một còn” nên chuyện nhàm chán, tẻ nhạt. Để hấp dẫn độc giả, ông nhà văn  tạo ra những “xung đột” tưởng ác liệt mà thực chất  là hoà hợp vui vẻ.
Nguyên ở hợp tác xã Nam Hoà , “sau khi rỡ khoai mùa xong, có hai  chục hộ gửi đơn thẳng lên trung ương khiếu nại về đời sống khó khăn , thu hoạch quá thấp , xin được ra ngoài làm ăn, nhưng vẫn “trung thành với Đảng, với chủ nghĩa xã hội”.
Thời nay, bà con nông dân làm đơn khiếu kiện là chuyện thường ngày , nhưng  thời đó – làm đơn lên thẳng trung ương xin ra hợp tác xã là chuyện tày trời, kinh khủng, chắc do phản động xúi giục.
Bởi vậy ngay lập tức , chủ nhiệm hợp tác xã triệu tập họp Ban quản trị và các hộ đã nộp đơn xin ra khỏi hợp tác. Người đọc chờ đợi ông nhà văn qua sự kiện này vạch mặt bọn cường hào mới ở nông thôn, ăn cắp tài sản hợp tác xã , chèn ép và bóc lột sức lao động, đẩy người dân vào nghèo đói cùng cực  khiến họ phải vùng dậy phản kháng, qua đó chứng minh đường lối xây dựng hợp tác xã của Đảng là sai lầm nghiêm trọng.
Lẽ ra nhà văn trung thực phải làm được chuyện đó. Tiếc thay, ông Nguyễn Khải làm ngược lại. Ông bôi xấu những người khiếu kiện, ông mô tả một trong những người đầu đơn xin ra hợp tác đó lại là một tên “ ăn mặc kỳ quái. Hắn ta khoác lên người không phải cái áo mà là những mảnh giẻ, một cái quần không ra chùng, không ra cộc vá víu hàng chục mụn, và cái thằng vô giáo dục đã không biết giữ liêm sỉ , khi cái phần đáng lẽ ra phải giấu kín thì nó lại phơi bầy ra trước mắt mọi người…”
Ông nhà văn đã dựng chân dung người phản kháng, xin ra khỏi hợp tác là một thằng lưu manh, chày cối như vậy đấy. Tệ hại hơn nữa, hắn nghèo đói nhưng không phải do hợp tác xã gây ra mà chính là do …cờ bạc. Ta hãy nghe bà chủ nhiệm kể tội hắn :
Chúng tôi còn có khuyết điểm là đã để anh thua bạc phải gán nợ hàng tạ thóc đến nỗi vợ con anh phải đói.Lại không biết khuyên anh thôi rượu, thôi chè chén, thành thử trong lưng anh bây giờ không còn lấy được  vài đồng đong gạo cứu đói…
Nguyễn Khải coi những kẻ làm mất trật tự trong hàng ngũ đó  chẳng qua là đám “giòi bọ”. Ông thừa nhận tuy có những người xin ra khỏi hợp tác xã  nhưng đó là bọn cờ bạc, lưu manh ở nông thôn chứ không phải nông dân làm ăn lương thiện.
Để chứng tỏ thêm chủ trương hợp hóa nông nghiệp của Đảng là đúng đắn, sáng suốt , Nguyễn Khải “bịa” thêm một nhân vật xin ra hợp tác xã :   lão Hoá – một nông dân cách mạng nòi, đã từng đào hầm cứu sống  Chủ tịch huyện hồi chống Pháp. Ô hay, một hạt nhân tích cực của Đảng vậy sao xin ra hợp tác ? Người ta cứ tưởng nhà văn Nguyễn Khải phát hiện ra một “lỗ hổng” trong chính sách hợp tác hoá buộc xã viên phải nộp đơn xin ra sẽ dẫn tới nguy cơ tan vỡ hợp tác xã. Nhưng không phải vậy, ông nhà văn đã “làm động tác giả” để kích thích trí tò mò độc giả, tăng phần hấp dẫn cho cuốn sách đó thôi.
Hoá ra ông già Hoá và một số xã viên làm đơn xin ra khỏi hợp tác xã không phải vì “bất mãn chế độ” mà ngược lại, chính là để đòi cán bộ hợp tác xã thực hiện đúng ..chủ trương chính sách Nhà nước.
Nguyên vùng này có nhiều đất vườn có thể gieo trồng, chăn nuôi nhiều thứ , giá trị hơn cả ruộng khiến người ta có thể trao cho hợp tác xã tất cả đất ruộng của mình , nhưng cốt tử phải giữ lấy mấy sào vườn…. Bởi vậy xã viên chỉ chăm chút vào mảnh vườn riêng lơ là ruộng chung. Rồi thì phân bón của hợp tác xã cũng chạy vào mảnh vườn riêng.
Đứng trước “mầm mống tư hữu” trỗi dậy , ông lão Hoá và một số xã viên “tiên tiến” đã đấu tranh với cán bộ đòi uốn nắn tư tưởng xã viên, yêu cầu họ phải coi trọng ruộng đất chung trong hợp tác quan trọng  hơn mảnh vườn riêng . Tuy nhiên do cán bộ cũng có “mảnh vườn riêng” nên yêu cầu đó không được thực hiện , bởi vậy họ bày mưu  làm đơn ra khỏi hợp tác xã để gây áp lực buộc cán bộ thực hiện đúng chủ trương của Đảng và chính phủ mà thôi.
Trong “ Chủ tịch huyện”, Nguyễn Khải đã bịa ra một loại nhân vật giả, xã viên hợp tác xã “cách mạng hơn cả Đảng”, “mác xít hơn cả người cộng sản”.
                              (còn tiếp)


Thứ hai, ngày 21 tháng năm năm 2012

VỀ MỘT THỜI HÀ NỘI (KỲ 39)


                                                        

                                       (tiếp theo)

Lâu lắm tôi mới được một mình giữa thiên nhiên trong lành và thoáng rộng như lúc này. Những ngôi nhà cao tầng, những con người trong cơ quan, những chiếc máy điện thoại, những buổi truyền hình màu... tất cả đã xa tít trong thành phố, xung quanh tôi, bây giờ chỉ còn lại những cơn gió vô hình chạy dài trên cánh đồng lúa và màu trầm tư của bầu trời bát ngát. Tôi cứ đứng  vậy, mắt mở to cho tới khi Biên Cương từ trong nhà ra, bước tới đặt tay lên vai tôi. Tôi quay lại, không nhìn anh, chỉ nói dịu dàng:
      - Anh vào đi, em van anh.
      Anh rụt tay lại, đứng cạnh tôi giây lát rồi biến trở vào. Cơn ớn lạnh đã thấm vào người và bắt đầu rung lập cập. Tôi thấy những vòng sáng loáng trong mắt, hai tai như bị vít chặt, tôi chỉ còn biết vòng hai tay ra sau ôm chặt lấy cột điện để chống lại một cơn ngất xỉu. Tôi thấy cố gắng của mình chưa là gì cả, chúa cứu thế bị đóng đinh trên thánh giá còn đau đớn gấp ngàn lần tôi. Ý nghĩ đó làm tôi gan lì đứng giữa trời cho tới khi Biên Cương hoảng sợ chạy ra gỡ tay tôi khỏi cột điện và dìu vào nhà. Ly nước trà nóng làm tôi ấm trở lại. Biên Cương nhìn tôi trách móc. Tôi thấy  chuyện vừa nãy, cả tôi lẫn anh, không ai có lỗi. Vả lại, có gì quan trọng đâu khiến anh phải trầm mặt xuống nghĩ ngợi thế kia?
      Tôi phì cười:
      - Sao? “Sang trang” được chưa?
      - Nếu biết thế này, chả dại gì anh đổi em lấy bà chủ vườn.
      - Anh đừng có tiếc, giờ có muốn đổi, chồng em nó cũng chẳng chịu .
      - Chà em cao giá quá thế?
      - Cũng vừa vừa.
      Chị chủ nhà đã trở về, nhìn tôi khinh khỉnh. Dù chị có chửi vào mặt tôi, chị cũng không có lỗi. Biên Cương đã qua được cơn “khủng hoảng” trở lại vẻ tự tin, nhanh nhẹn thường ngày. Anh muốn nghe tôi nhận xét tiểu thuyết của anh. Thông thường, trong trường hợp này, người ta chỉ thích lời khen. Nguyên cái công ngồi nghĩ ra từng chữ, đánh máy ra từng ấy giấy đã đáng khen , huống hồ anh còn dám rũ tuột cả lối viết khoa trương, õng ẹo để cố gắng viết cho được giản dị và chân thành. Anh nghe tôi nói mắt sáng trưng. Ông nhà văn nào cũng thế, dù kín đáo, đạo mạo đến đâu, khi được khen đều hớn ha hớn hở như trẻ con được kẹo. Theo tôi, có lẽ đó là điểm đáng mến nhất ở các ông. Nhân đà, tôi nói thêm  cả những nhận xét của ông Giám đốc, ông Trưởng phòng biên tập cho Biên Cương  sướng luôn thể. Tuy nhiên sợ anh lại nổi xung lên nữa, tôi không dám nói rằng tất cả những cái đó chưa đủ để sách  anh xuất hiện trong kế hoạch xuất bản của cơ quan tôi. Muốn được chấp nhận, ngay đến tôi cũng chẳng biết được, tác giả và tác phẩm phải có những điều kiện gì. Người ta thường  phải làm OTK một cái quạt Gió Mới, một đôi lốp Sao Vàng, nhưng sản phẩm của Nhà xuất bản thì không thế, sau khi sách ra, người ta chỉ còn làm phần việc sau cùng của cả dây chuyền là đếm chữ, tính tiền cho tác giả.
      Biên Cương đưa tôi về trên xe máy, tôi bảo anh chạy thẳng về nhà mẹ . Hãm xe trước cửa cho tôi nhảy xuống, anh cười:
      - Chồng đi vắng bắt vợ về nhà, gửi mẹ bảo quản phải không?
      - Phải, phải, đồ dễ vỡ mà...
      Thực ra căn phòng của tôi hiện là tổ uyên ương cho cặp vợ chồng mới. Sau đám cưới chui mà vẫn hụt, cuối cùng anh da đen rồi cũng tới vào lúc tôi và Hồng Loan đã ăn hết các món đặc sản, uống hết bia xuất khẩu, bao nhiêu đồ cưới và hoa giấy trang trí đã dẹp đi hết. Hai ngày liền tôi lo Hồng Loan phẫn chí nhảy lầu. Ngày “chủ nhật tươi hồng” hôm đó kết thúc bằng “đêm tân hôn “ của Hồng Loan không có chú rể. Mãi đến chiều, khi hy vọng đã tắt ngấm, Hồng Loan bỗng trở nên can đảm khác thường. Không sao hết, nó bảo tôi, tớ không phải cô dâu duy nhất làm đám cưới không có chú rể, khui bia ra đi, mời cậu dự lễ thành hôn của anh Y Blok và cô Hồng Loan, nào, xin bắt đầu. Nó mở băng nhạc mới, tôi cụng ly chúc mừng hạnh phúc rồi hai đứa ôm nhau nhảy suốt cả một buổi tối gượng vui. Nó chỉ phân vân tại sao Hoàng Minh không tới như đã hẹn, còn tôi thì không muốn nói rõ căn nguyên. Anh chàng hiện giờ chắc đang như con thú bị thương, hãy để yên cho nó chui vào bụi rậm liếm lành vết máu. Sáng hôm sau Hồng Loan dặn tôi phải ở nhà, cấm đi đâu lâu. Nó biến đi đâu mất cho đến một buổi tối tôi đang ngồi định lấy giấy bút viết cho Bình mấy dòng kẻo anh ấy kêu quá, nó chạy ào vào buồng, hớn hở bảo tôi:
      - Quay đi, quay mặt vào tường  nhắm mắt lại .
      Tôi ngẩn người ra, chẳng hiểu vì sao nó bày cái trò “thi hành án tử hình” quái gở này. Và khi tôi đã quay mặt vào tường, sẵn sàng chờ viên AK vào gáy, nó lại hô: “Mở mắt ra, quay mặt lại”. Hồng Loan đã biến mất, trước mặt tôi là một người đàn ông tóc quăn tít, da màu đen, giương đôi mắt rất to nhìn tôi, cười hiền lành. A, Godot đã tới, anh Y Blok của Hồng Loan là thế này đây. Từ sau cánh cửa, nó nhảy ra cười nắc nẻ. Romeo,Juliette và tôi, buổi tối hôm đó đương nhiên phải mở chai rượu tây, vật cuối cùng Hồng Loan có thể thó được của mẹ nó. Thôi, bi kịch đã hạ màn, cái happy end, cái kết cuộc đoàn viên này, tôi là người thừa và cách giải quyết duy nhất là trở về nhà mẹ, nhường lại căn phòng cho đêm tân hôn mà tôi dám chắc rằng những gian truân trắc trở vừa qua sẽ nhân lên gấp mười lần hạnh phúc như của tôi và Bình trong một đám cưới xuôi chiều mấy năm trước đây.


5.

      Không như những lần trước, chia tay tôi lần này, đến lượt Biên Cương  bịn rịn. Chống một chân xuống đường, vẫn ngồi trên xe máy, anh ngập ngừng:
      - Sáng mai em có ra sân bay tiễn anh không?
      Thôi thôi, để rồi tôi lại chúc “bon voyage, bon voyage” như với Bình thì thật rủi ro cho cả hai. Tuy nhiên tôi cũng phải nói câu gì đó cho anh khỏi buồn.
      - Lâu la gì mà phải tiễn. Ba tháng nữa anh lại ra tặng sách cho em và các thủ trưởng của em cơ mà.
      - Ừ nhỉ, vậy thôi, anh đi đây...
      Chiếc xe máy vọt mất để lại cho tôi một làn khói. “Người con gái ra đi vào lúc mờ sáng...”, có lẽ tôi phải theo gương anh viết tiếp chứ? Nếu như có can đảm đi đến cùng như anh, có thể tôi cũng đạt được một cái gì đó ? Tôi bước ra nhà ngoài, mẹ tôi đang tíu tít bán nước trà cho khách, thấy tôi, bà mừng rỡ:
      - Con lên gác nghỉ đi, lát nữa dọn hàng mẹ sẽ lên.
      Tôi thấy lây cái vui của mẹ. Sau Hồng Loan, Biên Cương, thêm một người nữa nhận được cái mình chờ đợi: mẹ tôi đã có giấy phép của phường cho mở quán nước. Như vậy, tôi sẽ lên phòng viết ngay một lá thư cho Bình để anh cũng nhận được cái mình chờ như mọi người. Tôi thong thả lên gác, mở khóa căn phòng vẫn còn nguyên như hồi tôi chưa lấy chồng, chỉ thêm có cái radio-casette tôi mang từ nhà tới. “ Anh Bình ơi”, tôi chỉ ngồi viết ở bàn được có thế cơn buồn ngủ đã kéo tới, khiến tôi phải tạm dẹp đức ông chồng yêu quý để lăn ra chiếc giường đệm mềm. Co người lại trong chăn bông, tôi nghĩ tới món cá rô rán và rau xào tỏi mẹ tôi đang làm và thiếp đi trong niềm vui mơ hồ. Tôi ngủ một giấc ngon lành, chẳng mộng mị gì cho tới lúc mẹ lên phòng bật đèn lay tôi dậy, gọi  xuống nhà ăn cơm. Trời rét quá, tôi ngại chui khỏi chăn, kéo mẹ nằm luôn xuống.
      - Con ạ, mẹ tôi ngập ngừng, cười mỉm mỉm, chiều nay chị Sở ở Bênh viện Bà mẹ và trẻ em mới ghé tới thăm mẹ.
      Tôi nhớ ra hai con ếch đực mẹ tôi mua hôm trước và công cuộc xét nghiệm của khoa học.
      - Kết quả ra sao hả mẹ? - giọng tôi dửng dưng.
      - Cha bố cô, trúng rồi chứ còn sao nữa.
      Tôi im thít, sững người kinh ngạc. Cái ý nghĩ đầu tiên nảy ra là cuộc xét nghiệm cho kết quả tôi vẫn nguyên vẹn là đàn bà. Một người đàn bà khỏe khoắn, lành mạnh, không đầy 9 tháng 10 ngày lại có con nữa kia. Hóa ra mọi phân vân, day dứt, lo lắng của tôi từ trước là hão huyền cả. Rõ chán, sự đời vốn rất giản dị: lấy chồng, đẻ con, làm mẹ trẻ, mẹ già rồi...chết, mọi sự có bằng ấy thôi, tại sao tôi cứ khuấy tung nó lên.
      - Thôi con nhé, từ đây bớt bay nhảy đi, cố giữ gìn cho con sau này nó khỏe.
                                        (còn tiếp)

Thứ bảy, ngày 19 tháng năm năm 2012

MỘT THỜI "BÚT MỚI" : KỊCH CÂM


Năm 1990-1993 nhờ tiền tài trợ của nhà văn Nhật Tiến, giấy phép của NXB TP Hồ Chí Minh, tập san Văn Học & Dư luận đã ra mắt bạn đọc.  Tuy nhiên vì “trái tai gai mắt” các nhà quản lý nên tập san chỉ ra tới số 4 là bị đình bản. Mặc dầu vậy, “cuộc thi truyện ngắn Bút Mới” vẫn tiếp tục với trên 300  truyện dự thi  của nhiều “cây bút mới” sau này trở thành nhà văn nổi tiếng. Tập tuyển chọn các truyện ngắn dự thi cũng chỉ ra được một tập là bị thu hồi. Xin lần lượt giới thiệu một số tác phẩm “thời bút mới” kèm theo nhận xét rất chân tình và thẳng thắn của các nhà văn đàn anh.

                 KỊCH CÂM

                                    PHAN THỊ VÀNG ANH

                               Họa sĩ , nhà thơ Chu Hoạch minh họa

1
“Từ đây - nó nghĩ - mọi thứ tự, luật lệ đã thay đổi !". Với mẩu giấy này, nó trở nên một người có vai vế trong nhà, nó sẽ đư­ợc tự do, tự do tiếp bạn bè vào chiều tối, thoải mái mà đi chơi và nhất là, nó đã có cái cớ để mà đổ tội cho nhũng sai lầm nếu có, sau này.
Tờ giấy thông hành ấy nhỏ bằng hai bao diêm, một cạnh xé lam nham, vội vã, một lời hẹn yêu đư­ơng của một người già quên tuổi tác và nghĩa vụ - bố nó - với một người nó không hề có một tí khái niệm nào về tuổi, đẹp, xấu, nghề nghiệp... hoàn toàn lù mù, chỉ hiệu bố nó tha thiết viết :”Em !” ...

2
Như một con rắn, nó trư­ờn đến một hàng photocopy thật xa, ở đấy chắc không ai biết nó là ai; hai tờ, một tờ đút túi, một tờ nó lảng lặng đưa   cho ông bố đang ngồi đọc báo,và cư­ời, một cái cười ngang hàng, không phải của con giành cho bô. Một trật tự mới ngay lập tức được  thiết lập, bố nó cầu khẩn và căm thù nhìn nó, cái đứa lầm lì nhất trong bốn đưá này, cái đứa ít nhìn vào mắt ông nhất trong nhà, hầu như  hai bố con không trạo đổi gì ngoài những câu chào, tiếng mời cơm, đứng tr­ước nó, ông thật sự thấy mình là chủ gia dình, một gia đình của trăm năm xa xư­a mà trong thâm tâm ông đàn ông nào cũng ao ư­ớc... Bây giờ, nó đứng trước ông, điệu bộ rất lễ phép, cũng lẳng lặng không một lời... chỉ có cái cư­ời nhẹ nhàng và đôi mắt... ông bố hiểu ra, nó thỏa mãn biết bao nhiêu, nó đã căm hờn ông biết bao lâu...

3
 Bà mẹ không biết gì, chỉ thấy các con mình ít bị la mắng hơn, nhữ­ng bữa cơm dọn trễ một chút cũng không sao, đứa nào chậm chân ngồi vào trễ một chút cũng không sao,ông chồng đăm chiêu, thờ ơ và dễ tính... lẫn lộn. Và nó,  không sử dụng ngay cái quyền của "giấy thông hành" ấy, vẫn chư­a thằng bạn trai nào đ­ược  tiếp vào chiều tối, vẫn chưa một buổi đi chơi nào quá lâu không phải vì nó còn sợ, chỉ đơn giản là nó ch­ưa quen được tự do, chỉ thế thôi, chẳng có tí ti đạo đức nào trong việc chậm trễ này cả. Rồi nằm dài một trưa , nó nghĩ :"Hay thật, mình bây giờ lại còn dạo đức hơn bố minh ! Bây giờ, bây giờ mà đi chơi nhiều, đàn đúm nhiều thì lại hư­ bằng nhau. Mình càng nghiêm trang, ông cụ càng hãi, nh­ư vậy đã hơn".

4
Và như­ thế, hàng ngày, nó quan sát lại mọi việc trong nhà. Nó nhìn bố nó, ông hiệu phó của một trường cấp  III. Lầm lũi  với cái cặp đen, gầy gò mực thước~ trong bộ quần áo phẳng phiu đến lớp, nó c­ười thầm :"Đi giảng đạo đức đây !”. Nó quan sát mẹ nó say s­ưa trong cái trò rửa thịt  nhặt rau, nhìn bà mẹ hồn nhiên giữa mấy đứa con lít nhít  đứa nào cũng giống mẹ, .mắt lồi. Nhìn mấy mẹ con quấn lấy nhau trong góc .bếp, nó nghĩ :"Chẳng cần có bố cũng sống đư­ợc' ?". Nh­ưng khi ngồi vào bàn ăn, nhìn thấy mẹ mình yêu th­ương và sợ sệt gắp thức ăn cho chồng, nó tủi thân một cách trẻ con :"À… Cái đám mắt lồi chúng mình  đây được yêu thư­ơng chẳng qua vì chúng mình là sản phẩm cua ông bố này. Mẹ yêu bố gấp đôi tụi mình. Nếu bây giờ có một đám cháy, cho mẹ cứu  một người duy nhất, han là mẹ sẽ cứu bố".. Rồi như­ thật, nó kín đáo liếc các em nó, liếc những đứa bé sẽ bi bỏ rơi trong  đám cháy thử thách mà nó đã tư­ởng tư­ợng ra...
Rồi bình tâm trở lại, nó nhìn bà mẹ rất đơn giản ẩy mà th­ương hai :"Thôi, giấu đi là vử'a, mẹ hiền quá chắc cũng chẳng  làm gì được  và ngây. ngô quá, chư­a chắc đã khổ,chuyện lớn sẽ thành trò đùa bố sẽ quen đi, rồi sẽ không ai sợ. ai trong nhà này cả". Vậy là nó tiếp tục ăn, mẹ tiếp tục gắp, bố tiếp tục lặng lẽ, các em nhai nuốt hồn nhiên, ngày này qua ngày khác, không ai biết có hai người khổ sở trong nhà.

5
Nó khổ sở trong nhà,. Cũng chẳng nghĩ đến việc thù tiếp bạn bè hay chơi bời khuya khoắt nữa. Cảm thấy mình giống một tên "thừa nư­ớc đục thả câu', nó cụt hứng. Ngồi lặng lẽ bên một đám bạn ồn ào, nó nhìn hàng dầu gió bên đư­ờng thả quả như­ những cái trực thăng tý hon và nghĩ :"Khốn nạn thật, nếu không có chuyện bẩn thỉu kia thì bây giờ phải đạp bán sống bán chết về nhà rồi ?”. Và một tối, một thằng bé chư­a biết luật lệ của cái gia đình nghiêm khắc này, cao hứng ở lại đến 9 giờ, cười cười nói nói, tay chân múa may không biết sợ. Ông bố, theo thói quen cùng một chút tự ái thua cuộc  đi ra rồi bất lực đi vào. Tự nhiên, nó thấy cái miệng thằng bé sao mà rộng, tay chân sao mà nh­ư hề, và nó cáu lên một cách vô lối, nghĩ rằng từ đây mọi trò vui của mình có được chẳng qua cũng nhờ một trò đáng khóc.
Rồi nó tiếc, phải như­ không nhặt đư­ợc cái tờ giấy quỷ quái ấy. Nhặt được , tư­ởng rằng tử đấy sẽ có gan nhìn thẳng vào mát bố nó khi cần thiết, hóa ra càng ngày càng ít dám nhìn; nhìn nhau, mắt hai bố con dại đi, và nó ngượng.
Cay đắng, nó nghĩ đện cuộc sống gia đình đen tối  mà nó sẽ phải có. Nó sẽ không được  hồn nhiên Trời phú như­ mẹ nó. Chồng nó, dễ gì có đ­ược cái đia vị mực thước  bố nó, có nghĩa là cái gia đình tư­ơng lai ấy càng dễ tan nát gập trăm lần cái tổ âm bây giờ. Nghi ngờ, nó gác lại những kế hoạch yêu đương; sợ hãi và giễu cợt, nó nhìn nhũng thằng bạn đi bên cạnh nh­ư nhìn những tên lửa đảo còn ẩn mình trong lá ủ ?
Và ông bố, mỗi sáng lầm lủi trên đ­ường đến trư­ờng, ông nghĩ ra mọi cách để giải thích tại sao lậu nay mình ít nói trư­ớc học trò, ông sợ rằng một ngày nào đó, rủi như­ chuyện này võ lở, nhữ­ng cái áo dài nết na kia, những bộ đồng phục ngoan ngoãn kia sẽ làm thịt ông như­ trả thù một nhà đạo đức  giả hiệu bao lâu nay vẫn áp bức chúng nó. Rồi lo sợ, ông miên man nghĩ đến bà vợ và những đứa bé ở nhà như­ một cái án treo lơ lửng trên đầu, và co rúm người lại, ông vô tình tập tr­ước cái tự thế sẽ thay cho tác phong uy quyền xưa nay.
Nư­ớc mắt, người và xe nhòe nhoẹt, ông nghĩ đến đứa con gái lớn :”Mình mất nó thật rồi ! Nó có rơi xuống bùn, minh cũng không đủ t­ư cách mà kéo nó lên; thò tay xuống kéo, biết đâu nó sẽ trừng  mắt rồi tự nguyện  lăn luôn xuống đáy ?". Rồi tủi thân của một người già, ông loạng choạng đạp xe giữa cây cỏ hai bên đư­ờng :"Mình chết đi, nó có khóc không ?". Lẩn thẩn như trong mơ, ông tư­ởng tư­ợng rạ một đám tang, một bà vợ, mấy đứa bé mít mù khóc lóc cùng nhang khói. Chỉ một đứa, nó lặng lẽ đứng bên quan tài, một đứa con gái lầm lũi và cư­ơng quyết đang canh gác một phạm nhân.
8-91
PTVA

NHÀ VĂN NGUYỄN KHẢI :

Lại thêm một cây bút văn xuôi rất có tài.

Cả hai truyện (Đất đỏ vả kịch câm) đều buồn, rất buồn. Buồn  đến rợn cả tóc gáy, vì sau cái buồn còn có cái hãi hùng. Một vùng đất đỏ nhầy nhụa, hoang vắng, một lũ trẻ con sống nh­ư cây cỏ và bốn cô gái chẳng dính líu bao nhiêu đến nhau. Mỗi người tự gói trong một cõi sống riêng biệt, một cô ngây dại, một cô thất tình, một cô rất vô t­ư, chỉ còn một cô là có quan tâm chút ít đến người khác . Vì cố ta rất trẻ lại đẹp , một người có quyền lực với xung quanh nên sẵn sàng san sẻ niềm vui của mình cho những kẻ bất hạnh . Khốn nỗi cái giọt nắng duy nhất của bức tranh ảm đạm cũng lại tắt nốt. Cô bé đẹp như tranh ấy bị chết đuối , một cái chết rất là vô lý nhưng vẫn cứ là chết. Thế là hết . Và vẫn mưa, mùa mưa mà , những cái chén mủ đeo bên hông cây cao su và một vùng đất đỏ quạch vớ một cô gái ngây dại đứng đó. Thời xưa truyện ngắn của Thạch Lam, của Hồ Dzếnh cũng rất buồn , nhưng là cái buồn của người với người , những con người dính với nhau bởi vô vàn mối quan hệ . Còn ở đây chẳng  ai dính với ai cả, con người cô đơn như đứng giữa sa mạc , nói với nhau những câu rời rạc và vô hồn. Cái buồn không duyên cớ , không mầu sắc , không gợi cái gì nên thơ cả. Cái  thế hệ hiện nay lại buồn đến thế ­, lại vô cảm, dửng d­ưng đến thế . Giá cứ kêu thét lên một tiếng còn chịu  được, đằng  này cứ đứng  im đó, giương cặp mắt trống rỗng mà  nhìn về phía trước thì thật đáng sợ, thật hãi hùng.
Nhưng đến cái truyện ngắn KỊCH CÂM thì quả thật chính tôi lại muốn vùng chạy ,và hét !ên, trong khi hai nhân vật trong truyện vẫn đứng nhìn nhau , dò xét nhau và không hề nói với nhau một lời nào , la hét cũng không, chỉ có im lặng, thì đã gọi là Kịch Câm mà. Một ông bố dã có tuổi, là nhà sư­ phạm, con cái một bầy mà còn đi lại vụng trộm với một người đàn bà khác . Đứa con gái lớ do tình cờ mà nắm được chứng cớ không thể chối cãi về sự phản bội của người bố. Nhưng nó không nói, nó chi nhìn bố nó thôi, ông vua của nhóm thần dân bé nhỏ vì một lỗi lầm đã rơi xuống chỗ đứng của tên tội .phạm . Đứa con gái vẫn lễ phép còn rất lễ phép với cái nhìn cười cợt ngang hàng vì  từ' lúc này nó có quyền hư­ mà nhà mô phạm kia không dám hé môi nói nủa lời. Nhưng nó chưa cần hỏi ­ vội, nó muốn trả thù bằng cách cố giữ cái mức đạo đức của nó nhất thời phải hơn hớn cái ông bố mất đạo đức kia . Trận đấu thật quyết lệt như­ng không cân bằng. Người bố tội lỗi đã bị cột chặt , đã bị nhét giẻ vào miệng đành phó mặc cho đứa con muốn làm sao thì làm. Và đứa con cũng không chút xót th­ơng, không chút dung thứ, tha hồ biếu lộ mọi sự căm ghét vả khinh bỉ với cái người đã đẻ ra nó. Niềm vui  trả thù chỉ chững lại khi đứa con chợt nghĩ rằng cái gia đình trong tương lai của nó nếu có liệu có được  êm thấm như ­ nó mong đợi ? Hẳn  là không ?
Chắc là không ? Từ xư­a tới nay và mãi mãi về sau rất hiếm có những ông bố và bà mẹ là tấm ­guơng hoàn toàn cho con cái soi vào đó mà sống và hành động. Mỗi  thế hệ đều có công việc và cách sống riêng của nó, đều có phần cống hiến và những lầm lỗi riêng của nó. Dẫu là thế nào cuộc sống vẫn cứ nối tiếp, không có lúc nào bị gián đoạn, bị  phá vỡ. Vì sự khôn ngoan của cộng đồng đã dạy ngư­ời ta rằng có nhiều chuyện phải nhớ như­ng có nhiều chuyện cũng phải biết quên đi. Khốn nỗi nhà văn không phải là nhà đạo đức  nên họ không thể quên, cũng không biết nhân nhượng và tha thứ. Họ cứ đẩy
mọi sự ngang trái, thù nghịch tới tột cùng để buộc xã hội phải đối mặt, phải trả lời . Cho nên thẩm định giá tri của hai truyện ngắn này cũng không thể ai khác ngoài bạn đọc, nhất là những bạn đọc cùng lứa tuổi với các nhân vật trong truyện.
N.K

NHÀ VĂN NGUYỄN QUANG SÁNG

Đọc "Kịch câm" và "Đất đỏ"
“ Kịch  câm" và "Đất đỏ" hai truyện ngắn của Phan Thi Vàng Anh, với tôi là hai truyện ngắn hay . Tôi không muốn và không thế phân tích hoặc giải thích nó hay ở chỗ nào - Sẽ rất thừa và cũng rất thiếu khi phải làm điều nào chỉ biết nó là hay . Kịch  câm" hay theo 'kịch câm", "Đất đỏ" hay theo "Đất đỏ" - Trong lúc tôi đọc, nếu có một ngư­ời nào đó ở gần tôi, ngư­ời đó không thể không hỏi - Tại sao ông cư­ời và làm gì mà trầm ngâm dữ vậy ?". Tôi cư­ời vì có những chi tiết làm tôi bật cư­ời. Đọc rồi không thể không nghĩ ngợi đến chuyện đời . Tại sao ? Kể lại cho mình nghe đi ! - Không thể nới là tại sao và không thể kể nổi. Tốt nhất là đọc đi. Đọc để bật cười , để trầm ngâm.
Tôi cũng có thể viết vài dòng về Phan Thi Vàng Anh và (cũng có thể nói  vì sao Phan Thi Vàng Anh viết được vậy, hay vậy, như­ng thấy cũng chẳng  cần, trong lúc này, muốn đợi  thêm một chút nữa, chỉ muốn nói ngắn một câu : "Đây là một cây bút, trong dòng mực có sự hài hòa của một tấm lòng nhân ái và một trí tuệ thông minh, sác sảo. Tác giả của hai truyện ngắn Kịch  câm và Đất đỏ sẽ di rất xa". Tôi hay đoán nhầm nhưng  lần này tôi tin tôi.
      NQS

   NHÀ VĂN NHẬT TIẾN :


“Kịch Câm" … trong mặt bên kia của đời sống .

Kịch câm đặt nhân vật trong một tình huống : đứa con gái nhặt được  một lá th­ư tình của ông bố, một sự kiện chưa đến nỗi gọi là biến cố, vì ở thế.gian này, chuyện nh­ư thế xem ra cũng là bình thường . Như­ng ở đấy, một cuộc chiến âm thầm đã diễn ra giữa hai đối thủ : một bên là một nhà mô phạm chất đầy đầu mặc cảm tội lỗi, và một bên là cô gái dậy thì, đầu óc còn trong veo, vẫn xem đời sống gia đình như một cái gì khuôn thước cần gìn giữ - cho đến khi xòe ra lá thư ­ nhặt được, cô đã ở thế thượng  phong, cô giành lại đư­ợc những gì đã bị tước đoạt : tự do đi chơi , tự do về muộn, ngay cả khi tự do tiếp bạn trai ở ngay trong nhà.  Nhưng sự tự do mà bao nhiêu năm nay cô hằng mơ lúc nắm trong tầm tay, nó chỉ có thế  thôi sao ? Và sự tự do nào mà không phái trả giá, cái giá cô phải trả là sự trực diện với những sự thực mà tr­ước đó cô chưa bao giờ khám phá ra : sự cụt hứng khi nghĩ rằng chẳng qua mình cũng chỉ là đứa thừa đục thả câu, hình ảnh đích thực  của đứa bạn trai khi đư­ợc nhìn qua lăng kính của tự do "miệng thằng bé .sao mà rộng, tay chân sao mà như hề…”  và nhất là sự nghi ngờ về hạnh phúc đích thực bỗng hiện ra : Nó nhìn những thằng bạn đi bên cạnh như nhìn nhũng tên lừa đảo còn ẩn mình trong lá ủ .
Cuộc chiến đấu thầm lặng giữa hai ngư­ời chưa bùng nổ thì đã có một kẻ thua cuộc. Dù nắm võ khí trong tay, cô bé đã mệt mỏi muốn buông xuôi : "Phải như không nhặt được cái tờ giấy quỷ quái ấy; bởi vì càng ngày cô càng ít dám nhìn đối thủ, "nhìn nhau, hai mắt bố con dại, và nó ng­ượng”' , sự mất mát đổ vỡ không cách gì hàn gắn được.
Ở “kịch câm”, văn tuy chư­a điêu luyện  Nhưng đã phô bày mặt trái của những tấm huân chương , tấm này gắn cho một nhà giáo với bề ngoài đầy vẻ mô phạm, tấm kia gắ  cho một mái  gia đình đầm ấm cha mẹ, con cái đoàn tụ, yên ấm và tấm kia nữa, gắn cho những ước mơ mà người ta tư­ởng rằng nếu thực hiện đư­ợc, là sẽ có tất cả.

       N.T.


NHÀ VĂN TRẦN THỊ NGH.

Trò chơi buồn.

Vô cùng kịch , nhưng câm. Những cái bóng di động trong không gian hẹp : bố, mẹ, các em và tôi. Em mở ra không biết bao nhiêu cánh cửa, dù chỉ là chữ em cụt ngủn trên một mẩu giấy nhỏ bằng hai bao diêm.
Một lời hẹn yêu đ­ương của một nhà đạo đức giả hiệu. Lời hẹn câm bắt đầu cho một trò chơi không vui.
Tôi bị  kết án với sự tự do và loay hoay làm quen với nó. Tôi châm bẫm quan sát cái trò rửa thịt nhặt rau của mẹ, những con mắt lồi di truyền, tôi lắng nghe tiếng nhai nuốt tóp tép trong các bữa ăn, nhìn ngắm cái mái ấm trăm năm cũ màu thòi gian, ngờ vực hôn nhân và hạnh phúc. Bỗng d­ưng một đám cháy t­ưởng tượng  thiêu rụi mọi mư­u mô lặng lẽ. Tôi cụt hứng, xoay mòng như những trái hoa dầu gió trong cơn giông. Đúng là một trò chơi chóng mặt và làm chảy nước  mắt. Muôn đời tôi vẫn là nạn nhân của những biến dộng do chính tôi đư­a đẩy xây dựng và xô ngã. Vở kịch kết thúc với một dám tang dự tư­ởng, vần vũ hư­ơng khói, thê thiết tiếng khóc. Còn tôi ? Tôi vẫn câm như một cai tù bất hạnh bên kẻ vi phạm lầm lùi. Kể từ cái hôm trời  nắng chang chang “mèo con đi học” với “cái bút chì cùng mẩu bánh mì con con (1), đến buổi chiều bão gầm gió giật, thầy đến trư­ờng như hiệp sĩ trong cái áo tơi lồng lộn mưa với cây đàn guitar nhỏ xíu úm trong túi tặng em ngày cuối cấp (2), rồi vùng đất đỏ quạch thắt thỏm mối tình của chị  Hai (3), nỗi  trầm mặc của bố - nhà đạo đức giả (4)... có lẽ không ít  ngư­ời thú vị dõi theo đ­ường bay của con chim nhỏ Vàng Anh. Những mảnh vụn , sợi  chỉ, mảng màu, mẩu giấy..., tất cả như các vết khắc trên cánh cửa, ghi dấu tầm cao của một bé con đang lớn.
T.T.NGH.
(1) Mèo con đi học  (2) Đàn xưa  (3) Đất đỏ (4) Kịch câm