Articles  Privacy

 

Thứ năm, ngày 24 tháng năm năm 2012

CHỨNG CUỒNG PHÓNG HỎA Ở TRẺ EM

Bài viết liên quan:

+ Phản biện tích cực và phản biện tiêu cực
+ Tâm bệnh của cộng đồng


Cả tháng nay hầu như tất cả các báo chính thống quan tâm đến cháu gái 12 tuổi “phát hỏa”. Hết các nhà cảm xạ học đến các giáo sự lịch sử của đại học phán đủ thứ loạn cào cào, đẩy xã hội Việt vào mê tín một cách mù quáng. Mặc dù bệnh lý tâm thần cuồng phóng hỏa ở trẻ con là một bệnh lý không hiếm thường đi kèm theo khoảng 14% trong tất cả các trường hợp bệnh lý tâm thần khác. Và chứng này có 90% là nam, 10% là nữ bị mắc.

Nhưng ở trẻ vị thành niên, chứng cuồng phóng hỏa này có nguồn gốc từ những xung đột trong mối quan hệ gia đình và xã hội gây ra trầm cảm. Từ đó phóng hỏa là cách để các cháu giải tỏa tâm lý bị bế tắc trong việc giải quyết các xung đột này gây ra. Đôi khi nó chỉ là niềm vui khi phóng hỏa, có khi là căm giận lúc phóng hỏa, v.v… kiểu trẻ con.

Chứng cuồng phóng hỏa ở trẻ em có tên tiếng Anh là Child Pyromania. Chữ Pyromania có nguồn gốc từ chữ Hy Lạp có 2 thành tố: Pyr, có nghĩa là lửa. Và Mania, có nghĩa là hưng cảm hoặc điên rồ. Ghép 2 chữ lại thành chữ Pyromania. Và ghép với chữ Child, là trẻ em thì thành cái bệnh Child Pyromania: Chứng cuồng phóng hỏa ở trẻ em.  Trong những cuốn sách giáo khoa ở các trường Y, như cuốn Sổ tay Thầy thuốc Lâm sàng (Clinician’s Handbook) của hai tác giả chủ biên Robert G. Meyer, và Sarah E. Deitsch hay cuốn Sổ tay Thống kê và Chẩn đoán về Những Rối loạn Tâm thần (the Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorders) của Hiệp hội Tâm thần Hoa Kỳ đã viết về cách chẩn đoán chứng này gồm 6 tiêu chuẩn sau, khi có một trẻ có những biểu hiện của chứng này:

1. Một đứa trẻ đã được chứng kiến hơn một lần cố ý phóng hỏa. Ví dụ chuyện phát hỏa có liên quan đến những vật liệu tạo ra lửa ở cháu bé như hộp quẹt, xăng, v.v…

2. Trước khi phóng hỏa cháu bé phải có một số cảm giác căng thẳng hoặc kích thích thúc đẩy việc phóng hỏa.

3. Trẻ thấy việc làm nên ngọn lửa là một niềm thích thú, thu hút trẻ.

4. Trẻ phải thấy nhẹ nhõm và hài lòng khi chứng kiến việc làm ra ngọn lửa.

5. Trẻ không có động cơ nào khác để làm nên ngọn lửa như trả thù, lý do tiền bạc hay tổn thương não gây ra, mà chỉ là hành động giải quyết căng thẳng cá nhân.

6. Vấn đề trẻ làm nên ngọn lửa không phải vì các rối loạn nhân cách chống đối lại xã hội hay là rối loạn hành vi, mà chỉ là kiểu giải quyết căng thẳng của trẻ con, khi không thể giải bày, giải quyết vấn đề xung đột tâm lý của mình mà thôi.

Với những gì mà báo chí đã đưa tin trong gần 1 tháng qua, tôi cho rằng cháu gái mắc chứng cuồng phóng hỏa mà y học đã biết cả hàng trăm năm qua, chứ không phải cháu gái này có thể phát ra lửa một cách huyễn hoặc như đã nghi ngờ vô chứng cứ.

Cần phải phân biệt với trẻ mắc chứng cuồng phóng hỏa với trẻ con thích nghịch lửa. Đó là vấn đề khó khăn trong quyết định chẩn đoán chứng cuồng phóng hỏa ở trẻ em.

Vấn đề phân biệt này đòi hỏi thầy thuốc phải tìm hiểu và phân biệt rằng, một trẻ tòm mò về lửa thì chỉ muốn tìm hiểu về lửa và đốt để nhìn và suy nghĩ về lửa. Còn trẻ bị chứng cuồng phóng hỏa thì phải là trẻ phóng hỏa vì một tâm lý bất thường do xung đột xã hội và cố ý phóng hỏa để giải tỏa áp lực này. Và ở trẻ bị chứng cuồng phóng hỏa sẽ phóng hỏa làm hại đến tài sản, ngược lại trẻ thích tìm hiểu về lửa thì lại tìm nơi quang đảng để đốt lửa để mà tòm mò thích thú.

Việc giải quyết bệnh này không khó, vì nó chỉ là vấn đề rối loạn cách giải quyết vấn đề ở tuổi vị thành niên trong quá trình phát triển tư duy từ tư duy một bước sang tư duy 2 bước. Chỉ cần giải quyết vấn nạn làm trẻ bị căng thẳng và trầm cảm từ những quan hệ giữa trẻ với gia đình, xã hội và học đường là chính.

Thiết nghĩ, việc cháu gái 12 tuổi này nên được các nhà chuyên môn y học tâm thần hoặc chí ít là nhà tâm lý học theo dõi, khám xét và đưa ra kết luận đúng hơn là báo chí và các nhà cám xạ học như cả tháng nay ở nước ta đã và đang xử lý. Hy vọng với bài viết này sẽ làm sáng tỏ để xã hội, truyền thông và gia đình cháu bé yên tâm đem cháu đến đúng nơi để chẩn đoán và điều trị cho cháu gái mắc chứng này.

Asia Clinic, 12h05' ngày thứ Năm, 24/5/2012

Link to full article

Hoa phượng

Photobucket

                                          Ta còn em con đường tên cũ
                                          Cổ Ngư,
                                          Cành phượng vĩ là đà.
                                          Chiều phai nắng,
                                          Bông hoa muộn in hình ngọn lửa...
                                                    Phan Vũ

Nói đến hoa phượng tự dưng tôi nhớ tới câu thơ của Ogarev "Cạnh bụi tầm xuân nở hoa đỏ thắm / Là lối đi dưới hàng cây đoạn âm u" mà tôi đọc được trong một truyện ngắn của Bunin. Ở Hà Nội tôi không thấy có tầm xuân. Mùa này cũng là mùa tầm xuân nở hoa đỏ thắm ở các nước ôn đới. Hà Nội không có tầm xuân, nhưng Hà Nội có phượng vĩ. Dưới bóng cây phượng vĩ là lối đi đỏ rực của những ngày đầu hạ. Hoa phượng là tuổi thơ của tôi. Con phố nhà tôi ở trước đây đầy hoa phượng đỏ. Giờ không mấy dịp quay về góc phố ngày xưa đấy, để xem những cây phượng ngày xưa đấy có còn không. Có một người bạn nói rằng chỗ nhà bạn ở trước đây giờ ở giữa lòng đường. Tôi sợ những cây phượng ngày xưa cũng như vậy, đã bị lớp nhựa đường vùi lấp rồi. Mới bấy nhiêu thôi mà đã bao vật đổi sao rời, giờ ngoảnh lại chỉ còn là ký ức.

Hà Nội vào hè sắc màu thật rộn rã. Trắng dâu da xoan, vàng hoa điệp, tím bằng lăng, đỏ phượng vĩ. Có nơi nào đầy sắc màu như Hà Nội của tôi?  

Phượng vĩ không phải là cây bản địa của châu Á. Ở Việt Nam phượng vĩ có lẽ do người Pháp đưa tới. Tên khoa học của cây phượng vĩ là Delonix regia. Ở các nước ôn đới tôi chưa nhìn thấy phượng vĩ.


Link to full article

Thứ tư, ngày 23 tháng năm năm 2012

Bún… quát !

HM Blog. Bài này viết hồi 5-2008. Đăng lại để bà con tham khảo và đánh giá xem tình hình, chủ còn quát khách hay không. Biết tôi mới về Hà Nội, cô bạn muốn đãi món bún chua rất đặc biệt. Quán khá nổi tiếng vì món ngon thật và ông chủ cũng rất [...]
Link to full article

Thoái nan


Nếu nửa cuộc đời
Để sửa việc hỏng
Tiến nan, thoái nan.

Nếu cả cuộc đời
Để sửa việc hỏng
Thoái nan, thoái nan.

|- HHM 1205 -|


Filed under: .. Kinh Thi, Kinh, Thiền Tagged: Kinh, kinhthi "Kinh Thi", thiền
Link to full article

Thích này, được nọ, mất kia


Có vợ đẹp nhờ Euro cup – Nguyễn Quang Lập

Bạn bè cùng lứa với mình, thằng Chí muộn vợ nhất. Mình cũng thuộc diện muộn vợ, đến năm 1990 đã có hai con mà nó vẫn chưa vợ. Hồi ở Quảng Trị, thỉnh thoảng vẫn gặp nó, hễ hỏi vợ chưa nó đều nhăn răng cười, nói chờ ưa chưa. Ba sáu ba bảy tuổi rồi chứ không ít, thời đó tuổi ấy chưa vợ là ế thật chứ không phải chuyện chơi. Hỏi thì nó cười, nói tau bằng tuổi họa sĩ Tư trong sách của mi, cũng nỏ vợ con chi. Họa sĩ Tư chủ trương cứ để rứa cho đàn bà nó thèm, tau cũng rứa. Nó nói phét vậy thôi, kĩ sư thủy lợi ở huyện khỉ ho cò gáy, quanh năm lọc cọc chiếc xe đạp rách, cái ti vi đen trắng cũng không có, ai lấy?

Cuối năm 1992 bỗng đâu thằng Chí ghé qua nhà mình, nói tau có vợ rồi. Mình ngạc nhiên hỏi ai thế? Nó cười cái xoẹt, nói oa chà hay cực kì luôn, chuyện ni còn li kì hơn tiểu thuyết. Nó cười khặc khặc rồi ném cái thiệp cưới cho mình, nói mi liệu hồn về dự cưới đó. Bao thơ mừng cưới dày dày một chút, tau đang kẹt… Mình mò đến dự cưới, cứ tưởng vợ nó chắc diện ế chồng không xấu cũng già, ai dè cô nàng giáo viên cấp 3 xinh nhất huyện, lại là con ông chủ tịch huyện. Lạ quá trời.

Xong đám cưới, mình kéo nó ra quán, nói mày kể tao nghe làm sao mày kiếm được cô vợ xinh thế. Nó cười khặc khặc, nói oa chà hay lắm hay lắm. Hạng như tau có các vàng cũng chẳng dám mơ lấy được cô vợ vừa đẹp vừa sang như rứa. Xứ khỉ ho cò gáy như ri, con gái chủ tịch huyện là công chúa giữa rừng xanh, sang lắm thiệt đo. Nó vừa kể vừa cười khặc khặc, nghe như chuyện cổ tích đời mới, rất khó tin nhưng mà vui.

Một hôm liên hoan tổng kết ủy ban huyện, trời xui nó ngồi gần ông chủ tịch huyện. Ông này máu bóng đá lắm, hễ ngồi nhậu là nói chuyện bóng đá. Dân văn phòng huyện chẳng ai biết bóng đá để hầu chuyện ông, chỉ có nó là võ vẽ tí chút. Nó không thuộc dân ghiền bóng đá, tiện thì xem không thì thôi. Chủ yếu xem bóng đá trên báo. Được cái nó nhớ rất tài, tên các cầu thủ chỉ cần đọc qua nghe qua là nhớ ngay. Khi viết chuyện này thỉnh thoảng mình phải gọi điện hỏi nó, Euro cup đã qua hai chục năm nó vẫn nhớ như in.

Đúng bữa liên hoan là khai mạc Euro cup 1992, Thụy Điển gặp Pháp lúc 8 giờ đêm. Chủ tịch huyện bắt nhà hàng khiêng cái ti vi ra vừa nhậu vừa xem. Thằng Chí cười khặc khặc, nói tau có biết ơ rô ơ rót chi mô. Tau ghét bọn ơ rô, bọn ni chỉ được cái cu to chứ đá đấm như bòi. Là tau nghĩ rứa chứ đã có khi mô xem ơ rô mà biết, ti vi mô mà xem. Nó cười một tràng uống một hơi rồi túc tắc kể công cuộc cua gái của nó. Bữa đó chủ tịch huyện gặp được nó khác gì buồn ngủ gặp chiếu manh, thích lắm. Có hơi bia bốc lên mồm mép nó như tép nhảy, cứ dựa theo ông chủ tịch huyện mà tán phét. Cũng J. Ericksson, Rijkaard, cũng Brolin, Platt… loạn cả lên. Toàn tên tuổi lạ hoắc, dân văn phòng huyện lác mắt. Kì thực nó chưa bao giờ biết mấy cầu thủ đó méo hay tròn, cái tên cũng chưa từng nghe tới. Hi hi.

Khi đó mọi người đều chắc cú thế nào Pháp cũng thắng Thụy Điển, nó phán hòa. Mình hỏi sao ông phán hòa, nó cười khặc khặc, nói biết chết liền. Tau đoán mò thôi, chỉ vì tau ghét cả hai thằng đó, cho chúng hòa cho xong chuyện. Tau phán bừa 1-1. Không ngờ hòa thiệt, lại hòa 1-1… Thằng Chí ngửa cổ cười khặc khặc. Mỗi lần nó ngửa cổ cười khặc khặc, cái yết hầu nhảy lên nhảy xuống như có con cóc đang nhảy trong cổ nó vậy, rất ngộ.

Sau trận khai mạc, Chủ tịch huyện mê tít nó, hôm sau nhất định mời nó về nhà ông xem trận Anh- Đan Mạch. Bây giờ nó mới tận mặt con gái ông chủ tịch huyện. Cô giáo tên Lê, cũng rất mê bóng đá. Giờ này Lê rất muốn cắp bồ vào quán cà phê- bóng đá hò hét cho vui. Nhưng anh bồ giáo viên giỏi toán ghét bóng đá, coi bóng đá là thứ nghệ thuật thần kinh. Có hai cái gôn một quả bóng, hai chục thằng đá quá đá lại suốt buổi không biết chán, rõ là thần kinh, hi hi. Lê đành ngồi nhà xem bóng đá với bố. Lê thua thằng Chí gần chục tuổi, gọi nó bằng chú. Biết phận mình không xơ múi gì được, nó ra vẻ ông chú không thèm để ý đến Lê, suốt buổi chỉ tán chuyện với ông chủ tịch huyện, coi Lê là hạng cháu chắt, không chấp.

Ông chủ tịch huyện sai Lê bày đồ nhậu, ba người vừa nhậu vừa xem. Ông chê Đan Mạch, nói è he cái thằng đậu vớt đá đấm cái chi, trận ni Anh nó mần thịt. Bây giờ thằng Chí mới biết Đan Mạch vào vòng chung kết nhờ Nam Tư có chiến tranh, không tham gia được. Không biết bóng đá Đan Mạch nhưng biết Đan Mạch có Andersen, có Chú lính chì dũng cảm nó phán bừa, nói Anh không thể thắng nổi Đan Mạch mô chú ơi, trận ni rồi cũng hòa nốt. Không ngờ Lê phấn khởi quá túm tay nó day day, nói thiệt không chú thiệt không chú. Ông chủ tịch huyện lườm con gái, nói anh mày chưa vợ, chú chú cái chi. Anh mày giỏi bóng đá lắm, phán tỉ số như thần. Lê mừng lắm, nói anh Chí nói trận ni hòa à, hòa mấy mấy. Nó làm bộ ông đồ hay chữ, nói lực Anh hơn Đan Mạch, thế Đan Mạnh hơn Anh, thế- lực đấu nhau bất phân thắng bại, trận này tất hòa 0-0. Quả nhiên đúng. Lê nhìn nó mắt sáng long lanh, thuở bé đến giờ chưa một người đẹp nào nhìn nó như thế.

Thằng Chí nghiễm nhiên trở thành chuyên gia Euro cup của cha con ông chủ tịch huyện. Lê phục nó sát đất, vừa xem bóng vừa há miệng nghe nó phán. Đến trận Pháp-Đan Mạch, Lê hỏi nó, nói anh Chí đoán xem trận ni Đan Mạch thắng hay thua? Nó cười, nói không phải đoán, em muốn răng anh sẽ cho đúng như rứa. Lê lườm cái liếc cái, nói em thích Đan Mạch thắng thôi. Nó nhìn Lê ( mắt cũng long lanh không kém hi hi), nói rứa thì Đan Mạch thắng. Chủ tịch huyện biết tỏng thằng Chí muốn gì, ông nhìn nó cười cười, nói Pháp làm sao thua được, mi đừng có nịnh thối con gái tau, nó có người yêu rồi đó.

Bình thường vừa nghe dọa thế thằng Chí đã dựng tóc gáy tính bài chuồn ngay. Bữa đó khác, nghe vậy nó càng bị kích thích, càng nói cứng, nói chú ơi cháu nịnh làm chi, tại trời đó chú. Lê thích răng thì trời cho rứa. Chủ tịch huyện cười cái hậc, nói được rồi, để coi trời thương hay mi thương. Ông vừa dứt lời Lasen cho vào một quả. Nó sướng quá cười rung râu. Nhưng đến phút 60 Papin gỡ hòa cho đội Pháp, chủ tịch huyện đập bàn kêu to, nói đó, thấy chưa Chí, kha kha kha… Khi đó nó lo thắt ruột, trận này thua chắc phải ăn cứt ông chủ tịch quá. Nhưng trời thương nó, phút 78 Elstrup cho ngay một quả, Đan Mạch thắng 2-1. Nó đứng vụt lên, Lê cũng đứng vụt lên ôm chầm lấy nó, ông chủ tịch huyện cười nhạt không nói gì.

Đến trận bán kết Hà Lan- Đan Mạch, Chủ tịch huyện không mời nó đến nhà xem nữa nhưng Lê lại mời, nó liều đến. Hôm đó rất đông người xem, ai cũng chắc mẩm Hà Lan sẽ vào chung kết. Ông chủ tịch nhìn nó cười nhạt, nói thắng Chí có dám ủng hộ Đan Mạch nữa không? Nó liếc Lê rồi cười, nói dạ em Lê ủng hộ đội mô cháu ủng hộ đội đó. Lê nhìn nó lúng túng, nói em ủng hộ Đan Mạch nhưng em không dám tin Đan Mạch thắng trận ni. Chủ tịch huyên cười kha kha kha, nói đó, thấy chưa Chí, tưởng bở nữa không Chí!

Phớt lờ Chủ tịch huyện, nó nói cứng với Lê, nói em muốn là trời muốn, Đan Mạch vào chung kết. Trận đó hòa 2-2, đến phiên sút phạt đền, tim nó mấy lần suýt đứt cuống. Cuối cùng Đan Mạch thắng chung cuộc 5-4. Khi Christofte sút vào quả phạt đền cuối cùng, Lê nhảy lên ôm cổ nó hôn chùn chụt. Nhà đông khách, Chủ tịch huyện hơi ngượng với con gái, ông chỉ mặt thằng Chí, nói này Chí, chung kết Đức- Đan Mạch mi vẫn bắt Đan Mạch hả? Nó dạ. Ông nói nếu Đan Mạch vô địch tao gả con Lê cho mi, cho không khỏi cần sính lễ. Nó dạ. Ông nói nhưng nếu Đức vô địch thì mi tự nguyện tự giác đi khỏi huyện ni, đừng nói tau đuổi mi nghe chưa. Nó dạ.

Trận chung kết nhà Chủ tịch huyện đầy khách. Người ta đến không phải vì trận chung kết, chủ yếu vì cái sự cá cược có một không hai kể từ ngày thành lập huyện. Phút 18 Jensen ghi bàn cho Đan Mạch, nó nhảy lên ôm chầm lấy Lê, nói em ơi, anh sắp có em rồi. Chủ tịch huyện cười như mếu. Phút thứ 78 Vilfort ghi bàn thứ hai cho Đan Mạch, mọi người nhảy lên, nó lẳng lặng đi ra ngoài. Mâm rượu nó đã chuẩn bị sẵn gửi ở quán trước ngõ. Nó đội mâm rượu vào nhà vừa lúc trận đấu kết thúc, Đan Mạch thắng Đức 2-0. Nó đội mâm rượu quì trước mặt ông Chủ tịch huyện, nói thưa chú, xin chú nhận lấy mâm rượu này.

Mặt Chủ tịch huyện đỏ bừng, ông đánh mặt sang con gái, nói ý con Lê ra răng hè, nói coi. Miệng ông cười rất tươi nhưng mắt thì vằn lên ý như bảo: “ Mi mà đồng ý chết tao!” Lê không sợ, cô lẳng lặng đi đến bưng lấy mâm rượu, nói chà, ba thua rồi còn hỏi. Ông chủ tịch huyện bật cười kha kha kha, nói thua thì thua, cưới thì cưới, rể thì rể, sợ chi hè! Mọi người vỗ tay ầm ầm.

Kể đến đó thằng Chí nhăn răng cười , nói trời cho tau vợ như rứa đó, hay không? Nó tu sạch cốc bia, ngửa cổ cười khặc khặc, cái yết hầu nhảy lên nhảy xuống như có con cóc đang nhảy trong cổ nó vậy. Con cóc là cậu ông trời mà, hi hi.


Filed under: . Kinh Truyện, Bạn bè viết Tagged: bóng đá, Bạn bè viết, kinhtruyen, Nguyễn Quâng Lập
Link to full article

Trở về nền cộng hòa dân chủ

timthumb.php Bài viết thú vị của PGS. Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng trường đại học Kinh tế TpHCM, Phó chủ tịch hội khoa học kinh tế VN trên báo điện tử Tầm Nhìn, với tư tưởng quay trở về nền cộng hòa Hồ Chí Minh. Cùng với bài “Từ Marx đến Văn Giang” của tiến sĩ Phạm Ngọc Cương tôi đã đăng vài hôm trước, thiết nghĩ đây là một đề tài thú vị giúp bạn đọc có được một diễn đàn trao đổi sôi nổi trên “bàn tròn” website Một góc nhìn khác- TDN

Nên trở về với nền cộng hòa dân chủ theo tư duy Hồ Chí Minh

          (Tamnhin.net) - Tinh thần nền cộng hòa theo tư duy của Hồ Chí Minh mà chúng ta có thể cảm nhận được là:

          Tinh thần của nền cng hòa

          “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

          “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

          Theo tư duy của Hồ Chí Minh, đó là những lời bất hủ về tinh thần của nền cộng hòa, mà người tiếp nhận được từ bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và bản Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791. Những lời bất hủ ấy cũng đã được Hồ Chí Minh đưa vào Việt Nam qua Tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945 và hiến pháp năm 1946 – Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.

          Với khát vọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ cho đất nước; ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành, thoát khỏi áp bức bất công cho nhân dân, Hồ Chí Minh cũng đã đến với chủ nghĩa “tam dân”: dân tộc độc lập – dân quyền tự do - dân sinh hạnh phúc, như đến với những giá trị của tinh thần cộng hòa ở phương Đông.

          Mục tiêu tối thượng là giải phóng thuộc địa từ tay thực dân Pháp giành lại độc lập cho đất nước và lợi quyền cho nhân dân, đã thúc đẩy Hồ Chí Minh đến với Lênin, qua bài viết của Lênin về vấn đề thuộc địa. Vấn đề này, ở khía cạnh giải phóng các dân tộc thuộc địa khỏi áp bức bóc lột, bất công do đế quốc thực dân gây ra, thiết nghĩ cũng không nằm ngoài tinh thần cộng hòa - là cái mà Hồ Chí Minh cần tìm, chọn cho Việt Nam.

          Tinh thần cộng hòa theo tư duy và hành động cách mạng của Hồ Chí Minh gắn liền với việc lựa chọn chính thể cho Việt Nam sau khi giành được độc lập, bao gồm một số nội dung cơ bản như:

          - Nền cộng hòa dân chủ.

          - Sứ mệnh và tầm nhìn của nền dân chủ cộng hòa ấy là: độc lập, tự do, hạnh phúc.

          - Tất cả quyền bính là của toàn thể nhân dân, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo. Tất cả quyền bính đó, được cụ thể hóa trong 11 điều (từ điều 6 đến 16) của hiến pháp năm 1946, đến nay vẫn còn nguyên giá trị của tính thần cộng hòa, dân chủ.

          - Tất cả công dân đều bình đẳng trước pháp luật – ngang quyền về mọi phương diện: chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội, là cơ sở pháp quyền cho sự phát triển của khối đại đoàn kết dân tộc Việt Nam.

          Sự bất cập của thể chế

          Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, Hồ Chủ Tịch đọc tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa. Tiếp đó, quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập được bầu ra tại cuộc tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946. Và hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã được quốc hội thông qua ngày 9 tháng 11 năm 1946.

          Trải qua trên 65 năm, hiến pháp năm 1946 đã qua 3 lần sửa đổi vào các năm 1959, năm 1980 và năm 1992. Ba lần sửa đổi đó, mà nhất là lần sửa đổi năm 1992 đã có khoảng cách khác biệt khá xa với tinh thần cộng hòa, dân chủ mà hiến pháp năm 1946 đã chọn.

          Hiến pháp năm 1992, chọn chế độ chính trị là xã hội chủ nghĩa trong cụm từ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa thay cho Dân chủ cộng hòa của hiến pháp 1946.

          Vậy xã hội chủ nghĩa (XHCN) là gì mà vừa thay cho cộng hòa dân chủ, lại vừa gắn kết với cộng hòa trong cụm từ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa?

          XHCN được đề cập ở đây là một hình thái xã hội (xã hội XHCN), mà những người phát kiến ra nó đã đưa vào đó những ý tưởng rất nhân văn, rất đáng được trân trọng. Nhưng mô thức tổ chức vận hành của hình thái xã hội XHCN cả trên góc độ lý thuyết lẫn thực tiễn, lại có không ít những nội hàm không hợp lý, quá lạc hậu, nhất là lạc hậu so với sự phát triển của xã hội hiện đại vốn mang những đặc tính cơ bản đã được sàng lọc, lựa chọn trong quá trình tiến hóa của lịch sử nhân loại, bao gồm kinh tế thị trường, xã hội dân sự và nhà nước pháp quyền.

          Nền tảng chính trị tư tưởng và là kim chỉ nam của sự phát kiến hình thái xã hội XHCN là học thuyết Mác - Lênin. Mà với nhiều kết quả nghiên cứu, lý luận và tổng kết thực tiễn cho biết – học thuyết Mác-Lênin có cái trước đúng nay vẫn đúng, có cái trước đúng nay không còn phù hợp vì bối cảnh xã hội đã có quá nhiều thay đổi, có cái trước và nay đều không đúng. Đơn giản chỉ vì nó “không phải là một học thuyết đã hoàn thành hẳn, có sẵn đâu vào đấy, bất di bất dịch nào đó”, như cách nói của chính Lênin.

          Vì thế, mô thức tổ chức xã hội XHCN, tự thân nó có nhiều khuyết tật gây bất ổn cho hệ thống giải pháp phát triển và hoàn thiện xã hội. Những khuyết tật gây bất ổn đó đã và đang tồn tại gắn liền với một số đặc trưng cơ bản như:

          Tổ chức xã hội theo thuyết giai cấp và đấu tranh giai cấp. Coi đấu tranh giai cấp là động lực phát triển xã hội. Coi nhà nước XHCN là nhà nước chuyên chính vô sản và trên thực tế đã không tránh khỏi tình trạng lấy vô sản chuyên chính dân tộc đánh vào khối đại đoàn kết dân tộc.

          Mô thức tổ chức và vận hành nền kinh tế bị chi phối hầu như  tuyệt đối bởi chế độ công hữu tư liệu sản xuất (bao gồm cả ruộng đất) là nền tảng, kinh tế nhà nước là chủ đạo và phương thức kế hoạch hóa tập trung, bao cấp thay cho phương thức thị trường. Chọn mô thức tổ chức và vận hành như thế là không phù hợp với tinh thần “lấy dân làm gốc”, không khuyến khích và tạo điều kiện cho việc phát triển mọi nguồn lực của dân từ khu vực dân doanh.

          Trong khi đó, khu vực kinh tế nhà nước,  nhất là các tổng công ty và tập đoàn kinh tế lớn được quá nhiều ưu ái, giao cho quá nhiều nguồn lực (cả nguồn lực cứng lẫn nguồn lực mềm) vượt quá tầm quản lý (cả quản trị kinh doanh và quản lý nhà nước), và hệ lụy khôn lường đã và đang đến là vừa kinh doanh không hiệu quả, vừa làm vẩn đục môi trường kinh doanh, tạo quá nhiều lỗ hổng cho cạnh tranh không lành mạnh, gây lãng phí, thất thoát và tham nhũng vô phương cứu chữa.

          Đảng nắm quyền lãnh đạo trực tiếp và tuyệt đối mọi mặt hoạt động của đời sống chính trị, kinh tế, xã hội của đất nước, và trên thực tế quyền lãnh đạo đó đã trở thành siêu quyền lực, (có nơi có lúc là đảng trị cộng với sùng bái cá nhân) đặt lên trên dân quyền và pháp quyền. Sự hiện hữu của siêu quyền lực như vậy, không phù hợp với tinh thần đề cao dân chủ và thượng tôn pháp luật. Tập trung thái quá quyền lãnh đạo của đảng làm cho đảng bị tha hóa và cũng làm cho các bộ phận quyền lực khác của hệ thống chính trị nói riêng và toàn xã hội nói chung (bao gồm quyền của người dân và công dân) bị vô hiệu hóa, trở thành hữu danh vô thực. Hệ lụy đã và đang đến là, đã mất quyền thì cũng mất luôn trách nhiệm xã hội, khiến cho xã hội không có người làm chủ đích thực và trở thành chỗ dung thân hợp pháp cho thói vô trách nhiệm và vô cảm.

          Mô thức tổ chức vận hành xã hội XHCN với những đặc trưng vốn hàm chứa nhiều khuyết tật gây bất ổn cho giải pháp phát triển và hoàn thiện xã hội như vậy thực sự không còn đáng được tồn tại trong sự lựa chọn thể chế chính trị mà hiến pháp cần có.

          Mô thức tổ chức vận hành xã hội XHCN như vậy, cũng có khoảng cách khác biệt quá xa với tinh thần của nền cộng hòa theo tư duy Hồ Chí Minh. Do vậy, cũng không thể ghép “XHCN” đó với “cộng hòa” trong cụm từ “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa” để giữ lại cái tên nước Việt Nam là nước “Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” như đã ghi trong hiến pháp năm 1980 và hiến pháp năm 1992.

          Hiến pháp năm 1992 so với hiến pháp năm 1946 là một bước thụt lùi. Không có những đột phá về cải cách thể chế trong sửa đổi hiến pháp năm 1992 khó có thể có được kết quả lập hiến ngang tầm với giai đoạn phát triển mới.

          Mấy kiến nghị sửa đổi hiến pháp năm 1992

          Xin nêu mấy vấn đề, cũng có thể coi là những ý tưởng muốn góp vào hiến pháp sửa đổi:

          - Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời. Các dân tộc Việt Nam là một khối thống nhất, đều bình đẳng, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo, đảng phái.

          - Chế độ chính trị mà Việt Nam lựa chọn đưa vào hiến pháp là cộng hòa (hoặc cộng hòa – dân chủ hay cộng hòa – dân chủ - nhân dân). Sứ mệnh với tầm nhìn xa của chính thể cộng hòa là bảo vệ nền độc lập, thống nhất toàn vẹn lãnh thổ, dân giàu nước mạnh, xã  hội dân chủ, công bằng, văn minh.

          - Lợi quyền lớn nhất, cao nhất kể cả quyền sửa hiến pháp là của toàn dân. Nghiêm cấm bất kỳ sự áp đặt lợi quyền nào khác lên trên lợi quyền của dân, do dân, vì dân.

          - Nhà nước của nước Cộng hòa Việt Nam (hoặc Việt Nam dân chủ cộng hòa hay Cộng hòa dân chủ nhân dân Việt Nam) là nhà nước pháp quyền tam quyền phân lập, của dân, do dân, vì dân chứ không thể chỉ phân công ba quyền dưới sự lãnh đạo thống nhất của đảng như hiện nay.

          - Điều 4 của hiến pháp năm 1980 và hiến pháp năm 1992 đều khẳng định đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo nhà nước và lãnh đạo xã hội Việt Nam. Thiết nghĩ, trong  hiến pháp sửa đổi, điều này nên dành cho những quy định của hiến pháp về đảng cầm quyền. Đảng cầm quyền phải trung thành với hiến pháp và tuân thủ pháp luật, được nhân dân lựa chọn với những giới hạn thời gian nhất định, chịu sự giám sát, phán xét và xử lý của nhân dân theo Luật định.

          - Với tầm của hiến pháp, cần có quyết sách đúng và rõ về chủ quyền và quyền sở hữu về đất đai.

          Đất đai là tài nguyên và môi trường tự nhiên, như tài nguyên khoáng sản trong lòng đất, tài nguyên nước, thời tiết khí hậu và đa dạng sinh học, vùng trời, vùng biển và hải đảo... thuộc chủ quyền quốc gia, nhà nước được trao quyền quản lý, ai khai thác sử dụng phải được nhà nước cho phép, chịu sự chế tài của pháp luật và phải nộp thuế cho nhà nước.

          Đất được đưa vào sử dụng, trở thành sản phẩm của lao động (thậm chí cả lao động cha truyền con nối), là tài sản của chủ thể sản xuất kinh doanh nhất định. Trong sản xuất nông nghiệp, đất là tư liệu sản xuất, là yếu tố của sản xuất, như các yếu tố công cụ khác là vật sở hữu của nông dân, không có lý gì đất ở đây không phải là vật sở hữu của nhà nông. Đất là yếu tố cấu thành tài sản trong bất động sản, vốn là một thể thống nhất không thể chia cắt được, tất yếu phải là tài sản, là vật sở hữu của chủ thể kinh doanh bất động sản.

          Vì thế với tầm hiến pháp, lần sửa đổi này, cần có quyết sách đúng về chủ quyền quốc gia về tài nguyên và môi trường tự nhiên, trong đó có tài nguyên đất. Và cần có sự thừa nhận quyền sở hữu của các chủ thể sử dụng đất với tư cách là tài sản, là tư liệu sản xuất, là yếu tố của sản xuất như bao nhiêu yếu tố khác vốn đã là sở hữu của họ, trong đó có chủ thể là tư nhân (là chủ sở hữu tư nhân), có chủ thể là tổ chức xã hội (là sở hữu tập thể) và có chủ thể là nhà nước (là sở hữu nhà nước).

          Đất đai là tài sản có chủ sở hữu rõ ràng, trong kinh tế thị trường việc dịch chuyển quyền sở hữu dưới hình thức mua bán đất là tất yếu. Nhà nước khi có nhu cầu vì quốc kế dân sinh thường phải trưng mua theo cơ chế và giá cả thị trường.

          - Mô hình kinh tế tổng quát bị chi phối bởi thể chế kinh tế nặng về công hữu là nền tảng, kinh tế nhà nước là chủ đạo, kế hoạch hóa tập trung và bao cấp đã không còn phù hợp, thiết nghĩ phải thay đổi trong việc sửa đổi hiến pháp năm 1992.

          Mô hình kinh tế được lựa chọn, thay thế có những đặc trưng cơ bản là: (1) Kinh tế thị trường hiện đại; (2) Hai loại hình – công hữu và tư hữu về tư liệu sản xuất chủ yếu; ba khu vực - kinh tế công, kinh tế tư  nhân và  kinh tế  hỗn hợp; với đa dạng các chủ thể kinh doanh bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển trong môi trường cạnh tranh lành mạnh, không coi công hữu là nền tảng và cũng không coi kinh tế nhà nước là chủ đạo, mà chỉ xác định đúng mức vai trò của nhà nước pháp quyền đối với nền kinh tế thị trường Việt Nam; (3) Thực thi dân chủ trong kinh tế, mà vấn đề cốt lõi là quyền của người dân và thực quyền kinh doanh của doanh nghiệp; (4) Liên kết hợp tác và hội nhập quốc tế.

          PGS. Đào Công Tiến, nguyên Hiệu trưởng trường đại học Kinh tế TpHCM, Phó chủ tịch hội khoa học kinh tế VN.

(nguồn: tamnhin.net)

____________________


Link to full article

Philip Roth


Gần đây nhất, bốn tác phẩm của Philip Roth là bốn tiểu thuyết ngắn: Everyman (2006) Indignation (2008), The Humbling (2009) và Nemesis(2010). Nhìn tổng thể thì cảm giác chung của tôi là loạt tiểu thuyết này thể hiện một thái độ nghiêm chỉnh nhìn cuộc đời. Với tôi, điều này tương đối khó hiểu: xét cho cùng, cuộc đời có thực sự nghiêm túc không? Năm 2008, về Indignation, tôi viết bài review không chính quy dưới đây, với rất nhiều bỡn cợt:

How fucking good

Được đọc một cái gì đó trước tất cả mọi người không chỉ kích thích, mà còn rất kích thích. Thông thường thì như vậy, nhưng cũng có người nghĩ khác, chẳng hạn bài review này trên blog của Matthew Asprey hết sức negative. “I’ve come across an advanced reader’s copy…” Quả thực quyển tiểu thuyết Indignation của Philip Roth mãi đến 16 tháng Chín mới được ấn hành: thông báo rất rõ ràng trên amazon, nhưng ngay từ bây giờ đã có thể đặt mua.

Bài review đó negative đến mức cho rằng phần lớn các tiểu thuyết khác của Roth đều có thể đặt lại tên thành Indignation (ý nói tất cả tác phẩm của Roth đều na ná như nhau, nhất là thái độ không vừa lòng với cuộc đời), và kết luận kiểu “cứ đểu đểu” bằng câu “And we learn a lot about kosher butchery.” Mà Roth có lẽ là nhà văn Mỹ có núi giải thưởng cao nhất, nhà văn duy nhất còn sống của Mỹ được in “a comprehensive, definitive edition by the Library of America”, một loại series thuộc vào hàng “canon” (tập tám tức là tập cuối cùng dự kiến sẽ in vào năm 2013).

Đọc bài review rồi và cũng đã “come across an advanced reader’s copy” (với rất nhiều lỗi typo), tôi vẫn nghĩ quyển tiểu thuyết này rất hay. Thật ra tôi cũng chưa bao giờ đọc gì của Philip Roth cả hehe, Human Stain thì làm biếng bằng cách xem phim, quyển tiểu luận đọc qua cũng chỉ vì bản tiếng Pháp (Parlons travail) có lời giới thiệu của Milan Kundera. Roth vẫn hay được xếp cùng John Updike, mà Updike thì tôi thấy chán mớ đời không nuốt nổi. Cả thế hệ nhà văn này của Mỹ được coi là “hậu duệ” của Saul Bellow, nhưng có vẻ hậu duệ không làm sao vươn lên nổi bằng ông thầy.

Italo Calvino trong một quyển sách bàn về các tác gia và tác phẩm cổ/kinh điển (tên chính xác không nhớ, đại khái tiếng Việt dịch ra sẽ thành Tại sao chúng ta lại đọc các nhà văn cổ điển) nói một ý, rằng rất nhiều lúc trong trò chuyện bình thường, khi nhắc đến một tác giả cổ điển nổi tiếng nào đó người ta có xu hướng nhận là đã đọc rồi mặc dù thật ra là chưa bao giờ. Theo Calvino thì điều này không nên coi là dối trá, vì thường thì thực tâm người phát ngôn nghĩ quả thực mình đã đọc ông này rồi, tác phẩm kia rồi. Những người khốn khổ chẳng hạn hehe.

Quay trở lại với Indignation. Nhan đề quyển tiểu thuyết được đặt theo lời bài quốc ca Trung Quốc thời đánh nhau với Nhật:

“Arise, ye who refuse to be bondslaves!
With our very flesh and blood
We will build a new Great Wall!
China’s masses have met the day of danger.
Indignation fills the hearts of all of our countrymen,
Arise! Arise! Arise!
Every heart with one mind,
Brave the enemy’s gunfire,
March on!
Brave the enemy’s gunfire,
March on! March on! March on!”

Rất theo kiểu “Vùng lên các nô lệ trên thế gian” quen thuộc, tất nhiên có chấm phá màu sắc Trung Quốc, với cái Vạn Lý Trường Thành. Bài hát này liên tục vang lên trong đầu Marcus Messner (người Do Thái, bố là thành viên Federation of Kosher Butchers of New Jersey - các bác thấy rồi đấy, một người bán thịt, và là “a straight-A-student”) mỗi khi không thích thú (tức là rất thường xuyên), và sẽ có lúc Marcus coi “indignation” là “the most beautiful word in the English language”, từ đẹp đẽ nhất trong tiếng Anh (nghĩa từ “Indignation” là phẫn nộ, tức tối, cáu tiết etc). Chuyện này hoàn toàn có thể hiểu được.

Yên tâm đi, tôi sẽ không tung spoiler vào đây, vì kể lại nội dung tiểu thuyết không phải là điều tôi muốn làm (mặc dù được huấn luyện đặc biệt kỹ càng về tóm tắt văn bản: với một văn bản cho trước và một số từ cho trước, phải tạo ra một văn bản mới có số từ đúng bằng số từ cho trước kia; kể cả khi phải tóm tắt ở những tình huống ngặt nghèo thì cũng phải nghĩ ra cách: chẳng hạn nếu yêu cầu của đề bài là tóm tắt hồi ký Ta đã làm chi cái đời tacủa Vũ Hoàng Chương trong một câu, tôi sẽ tóm tắt là “Ta đã làm chi cái đời ta”, nếu phải tóm tắt Tu viện thành Parme trong một từ tôi sẽ tóm tắt là “Hay”, và nếu phải tóm tắt truyện ngắn “Mùa lạc” của Nguyễn Khải ở mức tối giản mà vẫn thể hiện được mình là người lịch sự, tôi sẽ tóm tắt thành “ ”), tôi chỉ muốn nhận xét về cách viết câu của Philip Roth. Roth sử dụng liên tục, tràn lan dạng câu danh-động từ (nói thế có đúng thuật ngữ không nhỉ?): “Olivia was fascinated by my being a butcher’s son”, hoặc điển hình là trong câu này:

“She just did it. I pulled her hand onto my pants, and on her own, without my doing anything more, she unzipped my fly and took it out and did it.”

Thôi chết, thế là lại vô tình để lộ cái không khí truyện rồi. Đã vậy thì nói thêm một chút vậy. Marcus Messner chuyển đến học ở trường Winesburg vào năm 1951. Tra lịch sử thì sẽ biết những cuộc nổi loạn của sinh viên tại đây, và cuộc chiến đấu của Marcus cùng một lúc chống lại số phận (trở thành một straight-A-student để khỏi bị “drafted and killed”), chống lại sự ngây thơ của chính mình trong… ờ… nhiều chuyện (bài review đã nói ở trên cũng nhấn mạnh vào mấy quả blowjob và handjob, nhưng công nhận là buồn cười với màn handjob trong phòng bệnh viện, khi đột nhiên mấy câu thơ của Longfellow lại được dẫn ra: “I shot an arrow in the air/It fell to earth I knew not where”), chống lại sự kìm kẹp (vì tình yêu) của người bố bán thịt, và chống lại tôn giáo (với niềm tin sắt đá vào các tuyên bố của Bertrand Russell trong “Why I Am Not a Christian”).

Về cuộc chiến chống lại sự ngây thơ, có đoạn trích thế này (cuộc hẹn đầu tiên với Olivia Hutton):

“Till that moment I was wholly innocent of anyone’s tongue in my mouth other than my own. That alone nearly made me come. That alone was surely enough. But the rapidity with which she had allowed me to proceed – and that darting, swabbing, gliding, teeth-licking tongue, the tongue, which is like the body stripped of its skin – prompted me to attempt to delicately move her hand onto the crotch of my pants. And again I met with no resistance. There was no battle.”

Hí hí

-----------

Năm ngoái, viết về Everyman:

Trong vòng một cuộc đời

Năm năm gần đây, Philip Roth, một trong những nhà văn lớn nhất của nước Mỹ, thích viết tiểu thuyết ngắn. Trong số bốn tiểu thuyết ngắn viết trong giai đoạn này, Người phàm (Everyman) (2006) đã ra mắt bạn đọc Việt Nam (Thùy Vũ dịch, Nhã Nam & NXB Văn học, 2011).

Tài năng của Philip Roth không chỉ được thể hiện bằng danh sách giải thưởng dài đến khó tin (chỉ còn thiếu Nobel Văn chương) mà còn bằng một điều tiên quyết để một nhà văn thực sự trở thành vĩ đại: tài nắm bắt cuộc sống ở những điểm cốt yếu nhất. Philip Roth làm việc này với sự chuẩn xác và bình thản của một con người nhiều trải nghiệm, biết bỏ qua những nhao nhác thông thường của cuộc đời, bỏ cả hình thức tiểu thuyết đồ sộ trước đây từng giúp ông thu hoạch danh tiếng (nhất là loạt sách về nhân vật Zuckerman) để đến với một hình thức tiểu thuyết vô cùng gọn nhẹ và bình dị, nhưng làm người đọc hiểu rằng sự hiểu đời của ông sâu sắc đến khó ngờ.

Philip Roth từng làm được điều này rất hoàn chỉnh trong một tiểu thuyết ngắn khác mang tên Indignation(2008), nhưng ở Người phàm thì ta thực sự thấy tinh túy của một giọng văn độc đáo, ảm đạm nhưng không bi lụy, phấn khích nhưng lạnh lẽo và tỉnh táo đến khắc nghiệt. Người phàm đi vào trong vòng một cuộc đời bình thường để phác họa hình dung của một nhà văn lớn về đời người nói chung.

Nhân vật chính của Người phàm, một người làm trong ngành quảng cáo tương đối thành đạt, cũng không ít thành công trong tình trường: khi đã nhiều tuổi ông còn lấy được cô vợ thứ ba là người mẫu, nhưng ở cuối đời mình nhân vật ấy hiểu một cách sâu sắc rằng cuộc sống về bản chất là những gì đang tan rã, mai một không thể cứu vãn. Lâu lắm rồi ta mới thấy một tác phẩm của Philip Roth không đậm đặc tình dục, thứ đã góp phần then chốt trong việc tạo nên cả danh tiếng lẫn tai tiếng cho văn chương của ông, mà ở Người phàm, nhà văn đối diện với một cái gì thật sâu xa, khó nắm bắt, một tinh chất nào đó của cuộc đời. Một bài điểm sách trên tờ New York Magazine đã nói rất đúng rằng Người phàm nỗ lực đi sâu vào “tính chất phổ quát ở phạm vi nhỏ”.

Những quan sát buồn bã của nhân vật chính về sự tàn phai của cuộc đời, mỉa mai thay (mỉa mai u tối là một đặc sản của văn chương Philip Roth), còn cần đặt vào đối sánh với kim cương, loại vật chất bất hoại mà bố của chuyên gia quảng cáo từng kinh doanh trong suốt nhiều năm, và thêm vào đó nữa, con người liên tục phải qua những cuộc phẫu thuật quan hệ tới tính mạng ấy lại còn chứng kiến người thân của mình sống rất thọ và không bao giờ gặp vấn đề về sức khỏe. Vốn đã không lấy gì làm cao thượng trong tính cách, nỗi đau đớn pha lẫn ghen tị ở ông càng tăng lên mãi. Nỗi đau đớn ấy, Philip Roth để cho nhân vật phụ Millicent Kramer phát biểu thật ngắn gọn: “Đau đớn khiến ta cô độc quá” (tr. 116).

Người phàm đặt ra một vấn đề: những người thành công trong cuộc sống có thực sự thành công hay không? Nỗi tuyệt vọng về việc thua kém thực tại ở nhân vật chính được Philip Roth miêu tả thật tinh tế trong đoạn ông già sắp chết bỗng le lói tia hy vọng sống khi nói chuyện được với một cô gái trẻ hay chạy bộ qua trước cửa. Thế nhưng hão huyền sẽ mãi chỉ là hão huyền, bởi, với ông, hay với hầu khắp “người phàm”, “dường như tất cả [mọi thứ trong cuộc đời] đều sai lầm” (tr. 99).

-----------

Vừa rồi, viết về Nemesis, tôi thấy rất rõ ràng sự nghiêm túc này của Philip Roth, sự nghiêm túc như thể được đẩy lên đến mức cứng nhắc, nhiều khi. Hay là cuộc đời thực sự nghiêm chỉnh?

Nghiêm chỉnh nhìn cuộc đời

Nếu như quả thực có tồn tại một late style như Edward Said từng chỉ ra, nghĩa là một phong cách ở cuối đời của những nhà sáng tạo, một phong cách gây nhiều kinh ngạc và mở rộng thêm trường sáng tạo cá nhân, thì ở Philip Roth ta thấy “phong cách muộn” của ông là một cái nhìn thấu triệt vào cuộc đời, một giọng văn đột nhiên hết sức tiết chế và trộn lẫn với một mức độ nghiêm túc rất cao khi đối mặt với những gì đúng là ta buộc phải coi là quan trọng trong đời.

Ở đây tôi đang đề cập tới bốn cuốn tiểu thuyết gần đây của Philip Roth, cả bốn cuốn đều rất ngắn và một trong số đó, Everyman (in năm 2006), đã có bản dịch tiếng Việt tên là Người phàm. Nếu Người phàm là một cuộc nhìn lại toàn diện cuộc đời một con người bình thường, một sự sám hối bình dị nhưng sâu thẳm, thì Indignation (2008) miêu tả sự lớn lên của một cậu bé ở trong một xã hội biến động kinh khủng, và The Humbling(2009) bước sâu vào thế giới sân khấu, đưa lên sàn diễn một diễn viên kịch về già (Simon Axler) chợt thấy mình đối mặt với sự tan biến của tài năng và thêm vào đó là chứng tâm thần hủy hoại cuộc đời ông. Cuốn mới hơn cả trong “bộ tứ” này mở rộng thêm một chút nữa tầm quan sát của Roth về cuộc đời, và càng làm ta hiểu những ghi nhận của ông về cuộc đời nói chung trầm trọng và nghiêm chỉnh tới mức nào.

Nemesis (2010) lấy bối cảnh một trận dịch bại liệt (chính xác là “polio”) ở Newark, năm 1944; trận dịch đã nhấn cả một vùng đất vào sợ hãi, tang tóc, và nhấn chìm một chàng thanh niên mang tên “Bucky” Cantor vào một cuộc phiêu lưu quái gở của một “chủ nghĩa anh hùng hụt” và của những mất mát không thể ngờ tới.

Bối cảnh truyện như vậy tất nhiên buộc một độc giả văn học nhiều kinh nghiệm liên tưởng ngay tới Dịch hạch của Albert Camus, nhưng như thể trong Nemesis (nhan đề này trỏ tới một nữ thần trong thần thoại Hy Lạp, tượng trưng cho công lý sắt đá) Roth đã đi theo một con đường cheo leo và quanh co hơn nhiều, để đặt ra vấn đề: khi có khả năng trở thành một người anh hùng, khi toàn bộ hoàn cảnh đã bày ra để một con người trở thành anh hùng, mà con người ấy lại từ chối (không hẳn vì hèn nhát, mà vì một cái gì đó nên coi là luôn luôn nằm đâu đó trong hệ thống thần kinh phức tạp của con người), thì anh ta sẽ phải trả những cái giá gì.

Cantor điều hành một sân chơi dành cho các cậu bé, cô bé ở Weequahic, anh là một mẫu mực về rèn luyện sức khỏe và ý chí, một con người liêm chính và can đảm. Cantor chứng kiến những bệnh nhân đầu tiên của chứng bại liệt trong vùng, là những đứa trẻ mà anh yêu quý và rất ngưỡng mộ anh. Anh quyết định ở lại đây và coi đó là một hành động đương nhiên trong tình thế này, nhưng rồi cô người yêu Marcia của anh thuyết phục được anh đến một nơi an toàn là trại hè Indian Hill. Tưởng chừng như ở đây anh thoát khỏi mọi nguy hiểm, nhưng đó mới thực là nơi thảm họa xảy ra, dẫn cuộc đời anh vào cuộc trầm luân không lối thoát.

Nemesis cũng là dịp để Philip Roth đưa ra một truy vấn lớn: một người Do Thái nghi ngờ về Chúa nghĩa là như thế nào. Cantor nhiều lần đặt câu hỏi tại sao Chúa Trời lại gây ra tất cả những “chuyện ấy” và rồi vĩnh viễn quẩn quanh trong sự nghi ngờ to lớn mà chỉ những đầu óc đặc biệt đơn giản mới có khả năng rơi vào. Trong Indignation, Philip Roth từng để cho nhân vật của mình dẫn lời triết gia Bertrand Russell để hỏi: “Tại sao tôi không phải là một người Thiên chúa giáo?” Ở cuối đời mình, dường như giữa những khẳng định của con người từng trải, sự nghi vấn cuộc đời đã trở thành nỗi ám ảnh lớn nhất của Philip Roth.

-----------

Sang đến The Humbling, đột nhiên mọi sự đổi khác. Cái nghiêm chỉnh ở Roth và mấy cuốn tiểu thuyết này trở nên không sao chịu đựng nổi. Tôi không sao đọc nổi đến một phần ba cuốn sách. Thực sự thì có cần phải nghiêm chỉnh đến thế hay không?

Đoạn mở đầu của The Humbling, chương đầu mang tên “Into Thin Air”:

“He’d lost his magic. The impulse was spent. He’d never failed in the theater, everything he had done had been strong and successful, and then the terrible thing happened: he couldn’t act. Going onstage became agony. Instead of the certainty that he was going to be wonderful, he knew he was going to fail. It happened three times in a row, and by the last time nobody was interested, nobody came. He couldn’t get over to the audience. His talent was dead.”

Link to full article