Articles  Privacy

 

Wednesday, May 23, 2012

Sự khủng hoảng của khối C: Tự cứu hay chờ trời cứu?


Sự khủng hoảng của khối C: Tự cứu hay chờ trời cứu?

Dẫn nhập: Bài này tôi viết theo đặt hàng của Tạp chí Tia Sáng, và cũng là điều tôi trăn trở từ lâu với tư cách của một người vốn tốt nghiệp khối ngành XH-NV và đã có thâm niên giảng dạy gần 30 năm trong lãnh vực này. Với tư cách này, tôi nghĩ mình có thể phát biểu như một người trong cuộc, và cũng đã gửi cho một người bạn, cũng là một người trong cuộc, hiện đang là trưởng khoa của một khoa lớn của một trường đại học lớn trên cả nước thuộc khối ngành “đau khổ” này để xem người khác nghĩ gì về bài viết.


Phản ứng của bạn tôi  khi đọc bài này, đó là: những nhận định của tôi trong bài viết thật xác đáng, và cũng thật … đau!


Tôi cũng rất đau khi viết bài này nhưng vẫn cứ phải viết. Rất cám ơn Tia Sáng đã đặt hàng, và đã sử dụng bài (đã đăng trên số mới nhất, ra ngày 20/5  vừa qua). Tôi chưa đọc báo giấy nên chưa rõ bài viết có được biên tập lại không. Xin gửi nguyên văn bài gốc ở dưới đây.


---------------------------
Tầm quan trọng của khối ngành nhân văn đối với sự phát triển ổn định và bền vững của xã hội là điều không có gì để tranh cãi. Tuy nhiên, tại Việt Nam sự xuống dốc của khối ngành này đã kéo dài nhiều năm và đang trở thành một vấn nạn hết sức đáng lo ngại.



Sự suy giảm của các ngành nhân văn được tin là có nguyên nhân khách quan.  Ai cũng biết hiện nay khối ngành nhân văn (tuyển sinh khối C) khó kiếm việc làm; nếu may mắn có việc cũng thường được trả lương khá thấp so với nhiều ngành khác. Với nhiều người, đây là lỗi của nhà tuyển dụng vì chỉ chăm chăm tuyển người để dùng ngay nên không đánh giá cao những người tốt nghiệp các ngành nhân văn; hoặc là lỗi của thí sinh và gia đình vì chỉ thích chọn những ngành giúp họ có thu nhập cao, một biểu hiện của lối sống thực dụng đang lên ngôi (!) như ai đó đã từng nói.



Những phân tích trên có lẽ không sai, nhưng chưa đủ. Sự khủng hoảng của khối C không thể không liên quan đến những người đang làm công tác quản lý, nghiên cứu, giảng dạy và học tập trong khối ngành ấy. Nhưng dường như họ chưa bao giờ đặt cho mình câu hỏi: Phải chăng chính bản thân nội dung chương trình, cách tổ chức giảng dạy, và cách giảng dạy và học tập của khối ngành nhân văn đã dẫn đến sự “tẩy chay” của người học và của toàn xã hội?



Một trong những tiêu chí khách quan của nhà tuyển dụng đối với mọi sinh viên tốt nghiệp khi bắt bước vào thị trường lao động là trình độ ngoại ngữ, cụ thể là trình độ tiếng Anh trong thời đại hiện nay. Khả năng ngoại ngữ vốn phải là một thế mạnh của những người hoạt động trong khối ngành nhân văn, vì hơn ai hết, họ là cần có một ngoại ngữ phổ biến làm công cụ giúp họ hiểu biết về những gì đang diễn ra trên thế giới, trao đổi và tiếp thu ý kiến của các đồng nghiệp và các nhà tư tưởng lớn, hay tự mình đi sâu vào kho tàng giá trị tinh thần đã được tích lũy từ nhiều đời trước và truyền lại cho đời sau. Thông thạo ngoại ngữ, thậm chí không chỉ một ngoại ngữ mà là nhiều ngoại ngữ, đó cũng là một dấu ấn riêng biệt và đậm nét của những người hoạt động trong lãnh vực xã hội và nhân văn của một vài thế hệ trước ở Việt Nam .



Nhưng ngày nay thì điều này không còn đúng. Dù có những ngoại lệ, nhưng nhìn chung những người tốt nghiệp đại học ở một ngành nhân văn thường có trình độ ngoại ngữ kém nhất. Kém ngoại ngữ trong một thời đại tri thức và hội nhập toàn cầu, khi mọi thay đổi đang diễn ra thần tốc hàng ngày, khi tri thức của nhân loại chỉ sau vài năm lại tăng lên gấp đôi; liệu những người với năng lực như vậy có khả năng tự học, khả năng học tập suốt đời để đáp ứng nhu cầu cập nhật của chính bản thân, và đóng góp vào sự phát triển của xã hội?



Một năng lực quan trọng khác của thị trường lao động ngày nay là năng lực về công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin-truyền thông. Chúng ta không đang nói đến việc phát minh, sáng chế ra các công cụ, thiết bị hoặc quy trình công nghệ, mà nói đến sự thành thạo của một người sử dụng, tức sự hiểu biết và khả năng lựa chọn về các công cụ, kỹ thuật và phương pháp khác nhau nhằm phục vụ hữu hiệu nhất cho nghề nghiệp của mình. Hiện nay ở Việt Nam, không kể những ngoại lệ hiếm có, những người tốt nghiệp đại học các ngành thuộc khối C thường được xem là những người có trình độ sử dụng công nghệ kém nhất.



Trong khi đó trên thế giới, khối ngành nhân văn đang là một lãnh vực ứng dụng quan trọng để tiếp nhận các thành tựu mới nhất của công nghệ thông tin-truyền thông, cả phần mềm lẫn phần cứng. Bất kỳ một nhà sử học, nhà khảo cổ học hoặc nhà nghiên cứu văn học/văn hóa nào khi tiếp cận với một văn bản cũng có thể cần sử dụng các kho ngữ liệu trực tuyến (online corpora) hoặc các phần mềm phức tạp để tìm hiểu các ẩn ý của từ ngữ trong văn bản, so sánh các dị bản khác nhau để tìm ra bản gốc, hoặc xác định văn phong xem nó có khả năng là một tác phẩm chưa công bố của một tác giả quá cố nào đó. Nhà báo khi tác nghiệp có thể cần sử dụng bút thông minh (smartpen) để vừa ghi chép vừa ghi âm và sau đó chia sẻ pencast cho đồng nghiệp; cần sử dụng các công cụ trực tuyến như trang Evernote để lưu lại và tổng hợp mọi ghi chép, tài liệu bằng hình, video, email, web links mọi lúc, mọi nơi; cần tham gia các mạng xã hội để tạo quan hệ và nắm thông tin; cần tương tác với độc giả trên từng bài viết; cần có blog cá nhân để nối dài những ý tưởng cho mục mà mình phụ trách trên tờ báo giấy, vốn luôn có phiên bản trực tuyến kèm theo. Danh sách trên mới chỉ là một số ví dụ gần gũi mà ai cũng biết.



Gần gũi hơn nữa, có thể nói về công việc của giáo viên. Ở nhiều nước, cả các nước đang phát triển ở gần Việt Nam như Thái Lan hoặc Philippines, giáo viên tất cả các cấp học khi giảng dạy một môn học không chỉ có giáo án trên giấy hoặc bản cứng của sách giáo khoa, hoặc cao lắm là các file trình chiếu trên phần mềm powerpoint với những đoạn video clip như ở Việt Nam, mà có hẳn những cổng thông tin với các lớp học ảo trên mạng  hoạt động 24/7. Ở đó, giáo viên có thể làm tất cả các thao tác cần thiết của quá trình dạy học: soạn bài, giảng bài, chấm bài, lưu bài làm và điểm số của người học, thu thập và lưu trữ các tài liệu tham khảo qua nhiều năm, giao lưu với các đồng nghiệp khác trong và ngoài nước, gửi các thông báo đột xuất hoặc thường kỳ cho cả lớp hoặc cho từng học viên.



Cũng trên những lớp học ảo đó, các học viên có thể tương tác với nhau hoặc với giáo viên bất kể những cách biệt về không gian và thời gian, lưu giữ các phiên bản khác nhau của các bài tập lớn, tạo hồ sơ học tập cho riêng mình, và giao lưu với bạn bè thế giới khi cần. Đáng nói hơn là các cổng thông tin hỗ trợ học tập này có thể hoàn toàn miễn phí, mỗi giáo viên ở bất cứ nơi đâu (kể cả ở Việt Nam) cũng đều có thể tự tạo cho mình, chẳng cần phải có những hệ thống học tập trực tuyến cồng kềnh và tốn kém của các trường như cách đây một vài thập niên. Tất cả những gì mà giáo viên và học viên cần là khả năng tiếp cận với một máy tính được nối mạng Internet trong một vài giờ mỗi ngày. Một điều mà hầu hết giáo viên và học viên của Việt Nam ngày nay đều có khả năng làm được, dù chẳng mấy ai làm.



Trong một thế giới nơi công nghệ có vai trò then chốt như vậy, ngành nhân văn của Việt Nam đang trang bị gì cho người học? Cũng vậy, ở đây tất nhiên sẽ có những ngoại lệ, nhưng nhìn chung các lớp học tại Việt Nam vẫn đang được giảng dạy theo phương pháp hoàn toàn truyền thống, vẫn sách giáo khoa hoặc tài liệu chính thức của nhà trường in sẵn trên giấy (mà có khi được người học cũng chẳng đụng đến), vẫn thầy đọc trò chép hoặc khá hơn là thầy nói-chiếu (powerpoint) còn trò thì vẫn chép, vẫn phương thức duy nhất là gặp mặt trực tiếp trên giảng đường, nơi tương tác thầy trò chủ yếu một chiều (từ thầy đến trò), nơi sự tranh luận giữa các học viên trong cùng một lớp về những vấn đề chuyên môn là vô cùng hãn hữu, và đừng nói đến việc giao lưu với bạn bè cùng ngành trong cả nước hoặc trên thế giới.



Đó là chưa kể nội dung của tài liệu và sách giáo khoa của các ngành nhân văn, vốn đa số rất cũ kỹ, thiếu cập nhật. Các tài liệu này thường chỉ chấp nhận quan điểm được xem là chính thống, rất hiếm thấy cái nhìn đa chiều, không được nêu những vấn đề gây tranh luận, và hoàn toàn không xuất hiện những quan điểm trái chiều. Về hình thức, các tài liệu đa số được trình bày khô khan dày đặc chữ, ít chú trọng đến khía cạnh thẩm mỹ, rất ít hình ảnh và màu sắc. Hầu như tất cả các tài liệu và sách giáo khoa ấy không bao giờ có các đĩa CD-ROM hoặc trang web hỗ trợ kèm theo, mặc dù đó là chuẩn mực xuất bản của sách giáo khoa trên thế giới. Nhìn tài liệu học tập của các ngành nhân văn ở Việt Nam ta nghĩ đến những sản phẩm của cách đây vài chục năm khi thế giới chưa từng biết đến cuộc cách mạng số.



Tất nhiên, tình trạng lạc hậu so với thế giới cũng xảy ra ở các ngành học khác, nhưng do nhu cầu bắt buộc phải giao lưu để tiếp cận tri thức mới của các ngành khoa học-kỹ thuật và kinh tế-thương mại, nên mọi việc vẫn khá hơn. Có thể nói, sự lạc hậu về nội dung và phương pháp là đặc sản của các ngành nhân văn do có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề đặc thù của Việt Nam; vì thế những cải cách theo trào lưu của thế giới thường được cho là không cần thiết.



Trong tình trạng như vậy, thử hỏi ngay cả khi có chính sách hỗ trợ người học, như miễn học phí, cấp học bổng tương tự như khối ngành sư phạm hiện nay, và bố trí việc làm sau khi  tốt nghiệp, chúng ta có chắc rằng khối ngành nhân văn sẽ có đủ sức hấp dẫn để thu hút người học bỏ ra 4 năm trời để theo học hay không?  Và ai có thể nói được với cách giảng dạy như thế thì sau 4 năm, người học sẽ được trang bị những gì để tham gia một cách hiệu quả vào đời sống hiện đại, đa cực và đầy biến động hiện nay?



Có phải là một nghịch lý không, khi các nhà tuyển dụng luôn miệng than phiền về sự thiếu kiến thức tổng quát và các kỹ năng mềm của người tốt nghiệp, trong đó chủ yếu là các kỹ năng giao tiếp, diễn đạt, sử dụng ngôn ngữ, kỹ năng thông tin, kỹ năng sáng tạo, tư duy phản biện, vv – tất cả trên lý thuyết đều phải là thế mạnh của khối ngành nhân văn, nhưng trên thực tế thì khối ngành nhân văn ngày càng ế ẩm và bị người học quay lưng lại. Phải chăng đó là dấu chỉ cho thấy khối ngành nhân văn phải tự xem xét lại và thực hiện những cải cách, trước khi cất lời trách móc người học và xã hội đã không đánh giá đúng tầm quan trọng của chính mình?



Có những biện pháp để khôi phục các ngành nhân văn tại Việt Nam là một việc làm cần thiết, thậm chí khẩn cấp, để bảo đảm sự phát triển toàn diện của mỗi cá nhân và sự phát triển cân bằng, bền vững của toàn xã hội. Nhưng những giải pháp hỗ trợ từ bên ngoài chỉ có thể có tác dụng khi chính khối ngành nhân văn có khả năng tự cải thiện. Bằng không thì mọi giải pháp, mọi chính sách hỗ trợ từ bên ngoài cũng chỉ có tác dụng nhất thời, chắp vá. Để rồi mỗi năm, cứ vào mùa tuyển sinh, chúng ta lại tiếp tục được nghe điệp khúc than vãn về sự quay lưng của người học đối với khối C.

Wednesday, April 25, 2012

Vai trò của tư nhân trong giáo dục đại học: Suy nghĩ từ kinh nghiệm Malaysia

Bài viết này của tôi đã được đăng trên trang mạng của Tạp chí Tia Sáng, được biên tập lại và đăng thành 2 bài với các tựa đề mới là “Đổi mới tư duy về vai trò của tư nhân trong giáo dục đại học”, ở đây: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5112, và "Đại học tư nhân của Malaysia", ở đây: http://tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=113&CategoryID=6&News=5122 . Xin đăng lại ở đây bài gốc.
-----------------------

Tờ báo kinh tế nổi tiếng The Economist số ngày 10/4 có đăng một mẩu ngắn trên trang blog Thương mại và Phát triển (Trade and Growth) với tựa đề là “Xuất khẩu giáo dục” (Educational Exports) (1).Theo đó, vào thời điểm đầu năm 2012 nước Mỹ vẫn là một trong những nền kinh tế có năng suất cao nhất thế giới của mọi thời đại, và “ngành công nghiệp” thành công nhất với mức xuất khẩu cao nhất của nền kinh tế năng động này chính là giáo dục đại học.

Quan điểm xem giáo dục đại học như một ngành thương mại quan trọng trong nền kinh tế tri thức toàn cầu ngày nay đã tồn tại từ vài thập niên gần đây, sớm nhất và rõ nét nhất trong khối nói tiếng Anh (Anh, Canada, Mỹ, Úc), nhưng cũng hiện diện ở Châu Âu và nhiều nước khác trên thế giới. Điều này được phản ánh rất rõ trong Hiệp định chung về Thương mại Dịch vụ (GATS) của Tổ chức Thương mại thế giới WTO, trong đó giáo dục đại học là một trong nhiều “mặt hàng” có thể trao đổi, mua bán và được quy định bởi các điều khoản của luật thương mại quốc tế mà Việt Nam đã là một thành viên chính thức từ 5 năm qua.

Một hệ quả đương nhiên của quan điểm xem giáo dục đại học như một ngành thương mại là sự tham gia ngày càng tăng với vai trò ngày càng lớn của khu vực tư nhân, và “lợi nhuận” thu được từ “ngành công nghiệp giáo dục đại học” này không chỉ đem lại lợi ích cho các nhà đầu tư mà còn có những đóng góp đáng kể cho nền kinh tế quốc gia. Quá trình tư nhân hóa giáo dục đại học đang diễn ra mạnh mẽ trên toàn thế giới, giúp mở rộng tiếp cận giáo dục đại học đến các đối tượng mà nếu chỉ trông chờ vào kinh phí của nhà nước thì chắc chắn sẽ không bao giờ được thụ hưởng.

Tại đất nước nơi giáo dục đại học được xem là ngành công nghiệp có mức xuất khẩu cao nhất là nước Mỹ như trong bài viết nêu trên, toàn bộ nền giáo dục đại học không phân biệt công tư, vì lợi nhuận hoặc phi lợi nhuận đều được đối xử sòng phẳng trên cơ sở quyền thông tin của người học và sự điều tiết và giám sát của nhà nước. Sự khác biệt duy nhất giữa các trường phi lợi nhuận (công lập và tư thục phi lợi nhuận) và các trường vì lợi nhuận chỉ là sự sở hữu tài sản và chính sách thuế. Yếu tố thị trường và cạnh tranh tồn tại rất rõ, và được xem là một tác nhân tốt cho sự phát triển của giáo dục đại học nói chung.Tuy nhiên, đối với Việt Nam thì tất cả những điều trên nghe chừng vẫn còn quá xa lại và mới mẻ và dường như có phần không phù hợp?

Khi nhìn vào một số nước lân cận trong khu vực, ta thấy nổi lên một trường hợp thành công đáng học hỏi là Malaysia. Đây là đất nước đã sớm có tư duy xem giáo dục đại học là một ngành công nghiệp quan trọng, và có những chính sách tốt để phát triển giáo dục đại học rất đáng học hỏi. Một mặt, Malaysia tập trung đầu tư mạnh cho một số trường đại học công lập lớn để nhanh chóng trở thành lá cờ đầu, sánh vai với các trường đại học có danh tiếng trên thế giới nhằm tạo thương hiệu cho giáo dục đại học của đất nước, mặt khác họ tìm mọi cách để tạo điều kiện thu hút các nhà đầu tư (cá nhân hoặc tập đoàn) tham gia vào giáo dục, trong đó quan trọng nhất là xây dựng một cơ sở pháp lý phù hợp và ổn định để thừa nhận quyền sở hữu và quản lý tài sản hợp pháp của các nhà đầu tư.

Việc tiến hành song song cả hai chính sách nói trên có tác dụng vừa thu hút nguồn lực của xã hội để mở rộng tiếp cận giáo dục cho mọi người dân trong nước, lại vừa tập trung nguồn lực công để xây dựng thành công các đại học công lập hàng đầu, hoặc tài trợ cho khu vực tư nhân để thực hiện những mục tiêu công ích. Kết quả là Malaysia đã rất thành công trong việc tự biến mình thành một trung tâm giáo dục đại học của khu vực (regional higher education hub), thu hút được nhiều cơ sở giáo dục có uy tín của các nước có nền giáo dục đại học phát triển như Anh, Mỹ, Úc đến Malaysia qua các chương trình liên kết, và chiêu dụ được khá đông sinh viên quốc tế đến học. Một đặc điểm cần lưu ý là Malaysia công khai thừa nhận vai trò của các cơ sở giáo dục tư thục vì lợi nhuận, và trên thực tế tuyệt đại đa số các trường đại học tư của Malaysia đều là trường vì lợi nhuận (2). Trong số các trường tư vì lợi nhuận của Malaysia có thể kể một trường có văn phòng đại diện tại Việt Nam, được nhiều người biết đến qua những hoạt động quảng cáo rầm rộ và cũng khá thành công trong việc thu hút sinh viên Việt Nam là Taylors’ College (3).

Ở những nước như Malaysia hoặc một số nước thành công trong việc thu hút tư nhân đầu tư vào giáo dục, có thể thấy một quan niệm khá thoáng và mới mẻ về lợi nhuận trong giáo dục. Theo quan điểm này, lợi nhuận tự nó chẳng có gì là xấu nếu không nói là ngược lại, vì đó chính là thước đo sự thành công của một doanh nghiệp – ở đây là một cơ sở giáo dục đại học (4). Xét dưới khía cạnh kinh tế, điều này hoàn toàn chính xác: tất cả mọi nhà đầu tư trong mọi ngành nghề đều lấy lợi nhuận làm thước đo cho sự thành công của mình, vì đó là bằng chứng rằng sản phẩm/dịch vụ của họ đã đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Điều quan trọng là nhà nước phải có những luật lệ, quy định rõ ràng để bảo vệ người học và xã hội, có khả năng phân xử công bằng khi có tranh tụng, và có khả năng thực hiện chế tài trong những trường hợp các trường (cả tư lẫn công) có vi phạm.

Còn Việt Nam? Từ vài thập niên nay chúng ta cũng đã có chủ trương “xã hội hóa giáo dục” hay nói cách khác là thu hút đầu tư của tư nhân vào giáo dục. Có thể nói về chủ trương thì Việt Nam không hề chậm hơn Malaysia hoặc các nước khác trong khu vực, nhưng sự phát triển của giáo dục đại học tư tại Việt Nam (và tương tự như vậy là Trung Quốc) dường như khá khó khăn. Đường đi của khối đại học, cao đẳng ngoài công lập cho đến nay là một con đường không bằng phẳng, mà gập ghềnh khúc khuỷu. Cũng giống như Trung Quốc, cho đến nay Việt Nam vẫn chưa chính thức đưa vào Luật các khái niệm “vì lợi nhuận” và “phi lợi nhuận”. Và quan điểm toàn bộ giáo dục, kể cả giáo dục đại học, phải là “hàng hóa công”, là “công ích”, dường như cho đến nay vẫn là quan điểm thống trị.

Một quan điểm nếu thực hiện được thì có lẽ cũng rất đẹp. Nhưng thực tế giáo dục đại học của Việt Nam hiện nay đang là như thế này: tuyệt đại đa số giảng viên đại học chưa sống được bằng đồng lương tại nhiệm sở chính thức của mình mà vẫn phải chạy đôn chạy đáo dạy thêm khắp nơi, không  có thời gian và và điều kiện (tài liệu, thư viện) để cập nhật kiến thức chứ chưa nói là nghiên cứu để tạo ra những tri thức mới theo đúng nghĩa. Đa số sinh viên đi học thì ngán ngẩm với chương trình cũ kỹ với nhiều điều dường như không mấy hữu dụng. Và một điều rất hiển nhiên là hầu hết (tất cả? mọi người nếu có đủ điều kiện thì sẽ hoàn toàn tự nguyện và thậm chí hãnh diện bỏ tiền túi để cho con em mình đi học ở những nơi mà giáo dục đại học được xem là một “món hàng” để xuất khẩu. Một món hàng cao cấp và tốn kém nhưng là một đầu tư xứng đáng vì những lợi ích cá nhân mà “người mua” sẽ nhận được. Đối chiếu thực tế này với ước mơ “giáo dục đại học phải là công ích” liệu có làm cho ai cảm thấy có chút đắng lòng hay không?

Một cuộc giải phóng tư duy về vai trò của tư nhân trong giáo dục đại học có lẽ đang là điều cấp bách nhất trong giai đoạn phát triển hiện nay của giáo dục Việt Nam. Vì nếu không, thì e rằng việc tiếp tục phát triển khối trường ngoài công lập để đạt chỉ tiêu 40% sinh viên theo học ở các đại học, cao đẳng tư thục vào năm 2020 của Việt Nam vẫn sẽ là một con đường vô cùng gian truân, và sự tụt hậu đối với các nước xung quanh sẽ là một điều không còn gì phải bàn cãi nữa.
-----------------------------
 References

1 http://www.economist.com/blogs/freeexchange/2012/04/trade-and-growth
2 http://kamalharmoni.com/uum/IT_Policy/assignemnt-1/journal/; the%20role%20of%20private%20sector%20in%20higher%20education%20in%20malaysia.pdf
3 http://www.taylors.edu.my/en/college
4 Ruch (2001). The Rise of the For-Profit University. John Hopkins University Press.