Tuan Vietnam
27-12-11
Chuyện chưa
bao giờ kể của trưởng đoàn đàm phán BTA
Tác giả:
Huỳnh Phan
LTS: Tuần Việt Nam xin
được kết thúc câu chuyện bình thương hoá
quan hệ ngoại giao và thương mại Việt -
Mỹ với cuộc trò chuyện với đối tác của
Trưởng đoàn đàm phán BTA Mỹ - Việt Joe
Damond - ông Nguyễn Đình Luơng.
Chúng tôi hy
vọng phần trò chuyện của ông Lương sẽ bổ
sung cho bức tranh về cuộc đàm phán được
coi là sự mở đầu thực chất nhất cho tiến
trình hội nhập kinh tế của Việt Nam,
cũng như là lời giải đáp cho những thắc
mắc của Joe Damond - người, vì những lý
do nhất định, chưa hỏi thẳng đối tác và
cũng là người bạn vong niên của mình.
Ông đã trở
thành trưởng đoàn đàm phán như thế nào?
Sáng ngày
5.11.1996, tại cuộc họp bàn về việc
chuẩn bị đàm phán kinh tế - thương mại
với Mỹ, sau khi các bộ ngành hữu quan
báo cáo tình hình, Phó Thủ tướng phụ
trách kinh tế đối ngoại Trần Đức Lương,
người chủ trì, đã quyết định thành lập
"Tổ công tác liên bộ về Hiệp định Kinh
tế - Thương mại với Hoa Kỳ".
Đột nhiên, ông
chỉ vào tôi, và nói: "Tôi quyết định cử
đồng chí Nguyễn Đình Lương" làm tổ
trưởng." Tôi thực sự thấy bất ngờ, và
không kịp phản ứng gì cả, vì giọng nói
ông rất quyết đoán.
Trong thâm tâm,
tôi hiểu ông chọn tôi vì tôi đã nhiều
lần tháp tòng ông trong các cuộc đàm
phán, hay họp hội nghị của uỷ ban liên
chính phủ với Liên Xô và các nước XHCN
khác. Ông hiểu trong đầu tôi có cái gì,
và tôi có thể làm gì.
Từ sau đó các
công việc liên quan đến đàm phán Việt -
Mỹ cứ được chuyển về chỗ tôi để tôi tập
hợp và tổng hợp. Và đến khi đoàn Mỹ
sang, tôi dẫn đầu đoàn đàm phán phía
Việt Nam.
Joe Damond có
nói rằng anh ta may mắn vì Sếp trực tiếp
của anh ta đã chủ động tránh sang một
bên, chứ không thì...
Tôi không may mắn
như vậy. Quyết định bất ngờ đó đã làm
cho tôi khổ sở một thời gian, vì ông Sếp
trực tiếp của tôi lại muốn nhận việc đó.
Có lẽ, ông ta nghĩ đơn giản việc đó là
"oai", nhưng ông không hiểu rẳng tôi đã
thực sự "oải" như thế nào trong quá
trình đàm phán, nhất là ở nửa chặng đầu
và sau khi hai bên đã ký hiệp định về
nguyên tắc. Nhưng đó là chuyện về sau.
Số tôi số khổ mà.
Đã mang lấy nghiệp vào thân/ Cũng đừng
trách lẫn trời gần trời xa.
Joe Damond nói
rằng trong thời gian đầu, phía Mỹ tỏ ra
khá lúng túng trong việc khởi động đàm
phán, vì họ chẳng có thông tin, cũng như
hiểu biết về cơ chế của kinh tế - thương
mại Việt Nam. Và ông ta cũng cảm nhận
điều tương tự từ phía Việt Nam, có đúng
không?
Đúng và không
đúng. Đúng vì ta cũng không hiểu hệ
thống thương mại của Mỹ và thế giới nói
chung, ngoài phe XHCN của chúng ta.
Còn không đúng,
vì Việt Nam vất vả hơn trăm lần. Chúng
tôi không hiểu phía đối diện, và cũng
không hiểu phía sau lưng.
Cuộc chiến tranh
30 năm và sự khốc liệt của nó đã để lại
trên đất nước Việt Nam, và trong quan hệ
Việt - Mỹ, quá nhiều vấn đề. Tôi không
còn đủ trí nhớ để thống kê lại những
điều gặp phải trong quá trình chuẩn bị
cho BTA.
Nhưng chắc vẫn
có những điều không thể quên?
Nào là nhận thức
"Mỹ là kẻ thù cơ bản lâu dài", bên cạnh
tâm lý chống Mỹ và tâm lý nghi kỵ. Có
người coi BTA chỉ là "âm mưu của Mỹ để
chuyển hoá chế độ chính trị ở Việt Nam,
đơn giản (nó) chỉ là âm mưu phá vai trò
lãnh đạo của Đảng". Hay dùng thị trường
tự do để phá hoại cái định hướng XHCN
trong nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN của chúng ta.
Còn ông, lúc
đó, ông nghĩ thế nào?
Đó là hậu quả của
một quá trình lâu dài xa lánh luật chơi
thị trường, chỉ biết chăm lo củng cố cho
nền kinh tế độc quyền XHCN, đã đặt chúng
ta vào thế quá ngỡ ngàng, lúng túng, khi
buộc phải chuyển sang nền kinh tế thị
trường, buộc phải chơi theo một luật
chơi mới, áp dụng cho hầu hết các cuộc
chơi.
Cho dù các Nghị
quyết của Đảng đã nhiều lần chỉ rõ, và
xã hội đã nhận thức được rằng, thế giới
đang thay đổi sâu sắc, nền kinh tế thế
giới đang phát triển mạnh mẽ và nhanh
chóng đi vào xu thế toàn cầu hoá, nhưng
quả thực vượt qua được những rào cản
chính trị, rào cản tâm lý kể trên là
điều hoàn toàn không dễ dàng. Càng không
phải một sớm một chiều.
Xin ông nói cụ
thể hơn trong trường hợp BTA.
Đàm phán BTA với
Mỹ là công việc hoàn toàn mới mẻ, thực
sự cũng chưa ai hình dung nó là thế nào.
Mỗi người, mỗi cơ quan, nhìn một góc,
đòi hỏi một cách... Không ai giống ai.
Bây giờ nhớ lại
thật buồn cười. Và nhiều vấn đề được nêu
ra hình như chỉ như đánh đố đoàn đàm
phán.
Đánh đố?
Vì làm sao mà
thực hiện được.
Chẳng hạn, có
người bảo: "Trước kia ta chưa đòi được
khoản bồi thường chiến tranh theo Hiệp
định Paris (1973), kỳ này đàm phán kinh
tế ta phải đòi cho bằng được."
Liên quan đến
khoản tiền đó, vì ta không hiểu luật Mỹ
(tiền nong do Quốc hội quyết) mà ta đã
đánh rơi mất cơ hội bình thường hoá quan
hệ với Mỹ trước đấy hai chục năm. Tất
nhiên, chúng ta có quyền nêu, nhưng nêu
cho vui thôi, phía Mỹ sẽ không đồng ý
đưa vào chương trình đàm phán.
Hay, có người đòi
là "Đoàn đàm phán phải đấu tranh với Mỹ
để xếp Việt Nam vào khối các nước kém
phát triển, để họ phải có chính sách ưu
đãi đặc biệt".
Điều này chúng
tôi cũng chịu. Đã có một thời Việt Nam
bị liệt vào danh sách các nước kém phát
triển (underdeveloped countries), như
một số nước Châu Phi. Việt Nam chúng ta
tự ái, mất bao nhiêu năm trời mới đi đấu
tranh, vận động, để được xếp trong danh
sách các nước đang phát triển
(developing countries).
Thế mà nay lại
giao cho Đoàn đàm phán BTA kéo tụt Việt
Nam xuống. Mà đoàn đàm phán phía Mỹ có
quyền hành gì trong việc lôi lên, hay đè
xuống này?
Lại cũng có người
chỉ đạo rất cụ thể: "Đàm phán với Mỹ là
phải thực hiện phương châm "vừa hợp tác
vừa đấu tranh, và với kẻ thù rắn mặt như
Mỹ thì phải đấu tranh là chính."
Tôi chỉ còn biết
ngửa mặt lên trời mà than: "Về khoản
này, con xin chịu không bắt chước được
bố."
Ý ông là...?
Anh nhớ câu
chuyện cậu con rể tương lai cứ chăm chăm
bắt chước mọi động tác của bố vợ chứ gì?
Đến nỗi, ông "Nhạc phụ đại nhân" phải
phì cười, và hai sợi bún thò lò ra đằng
mũi.
Đây đâu còn là
thời chiến tranh mà ta thắng, địch thua.
Cả hai bên phải đạt được một thoả thuận
đảm bảo đôi bên cùng có lợi, để cùng
nhau là đối tác lâu dài.
Không thể buổi
đàm phán nào cũng lo đấu tranh, cũng
chửi người ngồi đối diện với mình một
trận cho bõ tức. Tan cuộc ngay!
Dân gian hay
nói, chính chúng ta, lúc cần khẳng định
vị thế, thì tự nâng lên, còn lúc cần
tiền viện trợ, xin xỏ, thì tự hạ xuống.
Thôi, chuyện dân
gian thì nhiều lắm. Tôi xin miễn bàn.
Nhưng riêng tôi cũng có một kỷ niệm đáng
nhớ liên quan đến chuyện đó.
Mùa thu năm 1989,
mùa các nước XHCN chuẩn bị đàm phán cho
Hiệp định 5 năm tiếp theo (1991-1995).
Trước khi hai đoàn chính phủ gặp nhau,
là người chuẩn bị các phương án, tôi đi
Moskva thăm dò trước. Và tôi đã đến thăm
anh bạn thân học cùng trường MGIMO (Học
viện Quan hệ Quốc tế Moskva), lúc đó là
Thứ trưởng Tài chính Liên Xô.
Anh ta nói:
"Lương, hôm nay ta nói chuyện với nhau
như những người bạn. Mày (tiếng Nga, khi
thân quen chúng tôi dùng đại từ "tư" là
mày, bạn) bỏ cái nghề ăn xin của mày đi.
Không ai giàu lên bằng của bố thí. Phải
đứng thẳng người lên để làm giàu như họ.
Chứ Liên Xô chúng tao cũng sắp đổ rồi,
không còn gì nữa đâu mà cho."
Tôi ngồi lặng
người một hồi lâu, miệng đắng ngắt. Tôi
uống vội cốc nước chè đen còn đang nóng,
suýt bỏng họng.
Bài học đó cả đời
tôi không quên.
Nhưng chính
Joe Damond đã nhắc đến chuyện, vào
khoảng mùa thu năm 1997 gì đó, trong một
cuộc đàm phán, ông Nguyễn Đình Lương đã
nói rằng Việt Nam là nước nghèo đói, kém
phát triển, và chỉ có thể chấp nhận các
tiêu chuẩn thương mại quốc tế (WTO) vào
năm 2020. Xin ông giải thích cho rõ
ràng.
Đó là chuyện có
thật. Bây giờ nhắc lại tôi vẫn thấy buồn
cười.
Số là, sau khi
tôi đề nghị, phía Mỹ đã chuẩn bị bản dự
thảo "Comprehensive" (tổng thể), theo
các tiêu chuẩn WTO. Mọi người hơi
choáng: "Khó hiểu quá, mới quá!"
Xin phép được
ngắt lời ông. Tại sao ông lại đề nghị
phía đối tác soạn dự thảo?
Trong một cuộc
họp cấp cao phía Việt Nam, có một ý kiến
nêu ra là ông Nguyễn Đình Lương phải đưa
ra một dự thảo cho phía Mỹ, và nêu rõ
quan điểm của Việt Nam.
Trước đây, khi
đàm phán Liên Xô, chỉ trong ba tiếng
đồng hồ tôi đã có một dự thảo cả tiếng
Nga lẫn tiếng Việt. Nhưng khi ngồi trong
cuộc bà Barbara Barshefski tiếp Bộ
trưởng Thương mại Lê Văn Triết ở
Washington DC vào tháng 6.1995, và ngồi
với Joe Damond suốt một tối, đến tận 12h
đêm tại KS Sheraton (DC) để nghe giải
thích về khái niệm một hiệp định tổng
thể theo những cam kết của WTO, thì tôi
biết là tôi không biết gì về WTO.
Tôi đã đề nghị
Joe Damond chuẩn bị dự thảo là vì lý do
đó.
Vâng. Xin ông
tiếp tục.
Khi chúng tôi
dịch dự thảo ra, và trình lên lấy ý kiến
trong nội bộ Việt Nam, đã có người (tất
nhiên là người có quyền) bảo rằng Việt
Nam là nước nghèo, là nước kém phát
triển, Việt Nam chỉ có thể chấp nhận các
tiêu chuẩn đó vào năm 2020.
Nhân tiện có ý
kiến đó, trong lúc phía đoàn đàm phán
chúng tôi chưa chuẩn bị được gì, chúng
tôi đành cứ phóng ra cho phía Hoa Kỳ
phương án, lộ trình tất cả các lĩnh vực
(thương mại, đầu tư, dịch vụ...) đều đến
2020.
Sao chúng ta
bị ám ảnh bởi con số 20 thế nhỉ? Hai
ngàn hai mươi, rồi hai mươi ngàn tiến
sĩ...
(Cười) Đó là một
cú sốc đối với đoàn Mỹ. Qua nét mặt, tôi
biết đoàn đàm phán Mỹ thất vọng lắm.
Họ không ngờ...
Họ thất vọng
về những người ngồi đối diện với họ?
Đúng vậy. Và kể
từ đó, đúng như Joe Damond nói với anh,
câu chuyện cứ lùng nhùng, dậm chân tại
chỗ.
Nhưng cũng nhờ đó
chúng tôi hiểu được suy nghĩ thực sự của
họ, và nhận được một phản ứng mạnh mẽ
nhất, cho tới lúc đó, từ phía họ. Chúng
tôi cần hiểu tận cùng những ý tưởng của
Mỹ trong cuộc chơi này, để từ đó mới
thiết kế được đối án của mình. Và, nhờ
đó, chúng tôi đã kéo dài được thời gian
học bài và chuẩn bị.
Nhưng sự thất
vọng của phía Mỹ chưa phải là điều xấu
nhất có thể xảy ra với tôi.
Lại còn có
điều tồi tệ hơn sao?
Thời gian đó, ở
Hà Nội, vì thấy bế tắc, nơi này nơi khác
đã có tiếng xì xèo. Có người nghi vấn
"hình như ông Lương không biết đàm
phán".
Thậm chí, có
người còn đề nghị thay trưởng đoàn đàm
phán.
Tại sao ông
không bị thay?
Béo bở gì miếng
xương. Mà lại là miếng xương đang mắc
ngang cổ họng người khác. Có người sẵn
sàng làm việc đó, thì không còn có lúc
này tôi ngồi tiếp chuyện nhà báo đâu.
Tuan Vietnam
28-12-2011
Cuộc
chiến bên ngoài bàn đàm phán Việt - Mỹ
Joe Damond đã nhấn mạnh tới ý thứ hai,
liên quan đến đề nghị của Việt Nam sẽ mở
cửa hoàn toàn vào năm 2020, rằng "Việt
Nam phải coi việc đóng cửa thị trường
chính là nguyên nhân của nghèo đói và
chậm phát triển". Ông nghĩ gì lúc đó?
Joe hoàn toàn có lý:
Trên thế giới, những nước có nền kinh tế
mở, không có nước nào nghèo.
Nhưng anh ta
không hiểu hoàn cảnh cụ thể của Việt
Nam. Suốt 30 năm chiến tranh liên tục,
lại bị các nước thù địch bao vây về
chính trị, cấm vận về kinh tế, làm sao
mà mở cửa được với thế giới bên ngoài cơ
chứ.
Hơn nữa, anh ta
cũng đâu hiểu câu chuyện bên trong của
chúng ta lúc đó. Có một thực tế là,
trong nước lúc đó, chỉ có một chiều suy
nghĩ: Đói nghèo là do chiến tranh, ai
nói khác là không chấp nhận được.
Quả thực là nhận
định thẳng thắn của Joe đã khiến chúng
tôi dễ dàng ăn nói hơn nhiều.
Joe Damond có
nói rằng chỉ đến những ngày đầu năm mới
năm 1998, khi nhận được bản thiết kế đàm
phán của phía Việt Nam, ông ta mới tin
rằng hai bên mới có thể đi chung trên
một con đường, trước khi tới đích. Vậy
trong suốt hơn 8 tháng đó ông đã làm thế
nào để ra được bản đó?
Trong thời gian
đó, tôi đi tìm "tầm sư học đạo". Trước
tiên, tôi vào Sài Gòn tìm gặp những
người trước đây từng học ở Mỹ, hay làm
việc cho các tổ chức quốc tế, trong đó
có Giáo sư Nguyễn Xuân Oánh từng làm hai
nhiệm kỳ ở IMF. Họ cũng chẳng giúp gì
được tôi, vì thời họ học, chủ yếu là
những năm '60, là GATT, chứ không phải
WTO.
Thế là tôi lại
"khăn gói quả mướp" đi một vòng sang các
nước bạn bè, anh em cũ. Trung Quốc là
nước tôi nghĩ tới đầu tiên.
Trung Quốc à?
Theo Joe Damond giải thích thì BTA họ ký
với Mỹ thì còn "xưa hơn cả Diễm", à, cả
Nga. Nhưng hình như lúc đó họ đang đàm
phán về việc gia nhập WTO với Mỹ?
Đúng vậy. Và họ
cũng cử chuyên gia tiếp tôi mấy buổi. Có
điều cứ đúng 45 phút người tiếp tôi lại
xin ra ngoài. Đến lần thứ ba thì tôi
giật mình.
Tại sao? Yếu
thận là chuyện bình thường mà.
Thế tại sao cứ
đúng 45 phút, đều như vắt chanh, mà
không phải 50 phút, hay 40 phút?
À, tôi hiểu.
Họ ra thay băng cassette? Hồi đó chưa có
máy ghi âm kỹ thuật số?
Chắc cũng là để
đảm bảo an toàn cho bản thân, nhỡ sau
này có ai đó qui trách nhiệm nọ kia.
Nhưng tôi hiểu là người ta đã cẩn trọng
như vậy, chắc cũng chả nói gì quan trọng
cho mình.
Thế là tôi qua
Đông Âu, tìm bạn bè cũ.
Có khả quan
hơn không, thưa ông?
Nga thì không
biết gì. Ba Lan thì bảo BTA họ vừa ký
với Mỹ chẳng qua là cái "passport" để họ
xin gia nhập EU và NATO thôi, nên Mỹ đưa
cái gì là họ chấp nhận cái đó. Chỉ khi
sang Hungary tôi mới thấy được một tia
hy vọng.
Bạn tôi khi đó
làm Trợ lý Bộ trưởng Bộ Kinh tế, bảo
tôi: "Ở bộ tôi có nhiều chuyên gia đàm
phán quốc tế giỏi, kể cả trong GATT.
Nhưng, khi về nước, ông phải bảo Bộ
Thương mại gửi trước cho tôi một bức thư
chính thức, xin một khoản tài trợ khoảng
vài trăm ngàn đô la. Có số tiền đó tôi
sẽ cử chuyên gia sang giúp ông."
Tôi mừng rỡ trở
về. Nhưng trong khi tôi đang hối hả lo
trình để xin chữ ký, dấu má, thì đùng
một cái nghe tin Đảng Dân chủ cầm quyền
bị đổ, và Đảng Thanh niên lên thay.
Đúng là cái số
ông khổ thật. Rồi sao nữa?
Lúc đó, chính phủ
cho phép mời tư vấn Mỹ. Và Ginny Foote
đã xuất hiện. Hội đồng Thương mại Mỹ -
Việt đã giới thiệu các giáo sư, chuyên
gia sang giảng bài về WTO cho đoàn đàm
phán. Và, sau khi nghe họ giảng thử ở
các lớp khác nhau, tôi đã chọn Dan
Price.
Lý do?
Ông này lúc đó
đang làm cho một công ty tư vấn ở Mỹ.
Nhưng Dan đã có thời gian dài làm cho Cơ
quan Đại diện Thương mại Mỹ, và, quan
trọng nhất, đã từng đàm phán BTA với
Liên Xô và NAFTA (Hiệp định Thương mại
Tự do Bắc Mỹ). Tôi nghĩ ông này có thể
có những cái mà chúng tôi cần. Chẳng hạn
như phương án xử lý các vấn đề cụ thể
với các nước đang phát triển.
Joe Damond nói
rằng Dan Price đóng vai trò nhất định
trong việc Việt Nam đưa ra bản thiết kế
đàm phán điều chỉnh, có đúng không?
Dan Price là nhà
tư vấn tốt, có nhiều kinh nghiệm, có
kiến thức. Chúng tôi khá thân nhau.
Sau này, khi Dan
Price trở thành Phó Cố vấn An ninh Quốc
gia trong chính quyền Tổng thống Bush
(con), phụ trách mảng kinh tế đối ngoại,
chúng tôi vẫn giữ được quan hệ bạn bè.
Mỗi lần sang Hà Nội công tác, cứ xong
việc công, Dan Price lại hẹn nhau ngồi
nhâm nhi vài ly.
À, quay trở lại
câu chuyện năm 1997, đối với một số vấn
đề cần tham vấn, tôi luôn yêu cầu Dan
đưa cho tôi 4-5 phương án, hoặc ít nhất
cũng là 2. Còn chọn phương án nào, có
điều chỉnh hay không là quyền của đoàn
đàm phán Việt Nam. Bởi chúng tôi phải có
phương án phù hợp nhất với điều kiện của
Việt Nam. Anh nên nhớ rằng chúng tôi còn
phải bảo vệ ở trong nước trước khi gửi
cho phía Mỹ chứ.
Trong thời gian
đó, tôi phân công cho anh em tìm hiểu và
thiết kế lại từng mảng, từ sở hữu trí
tuệ, đầu tư đến dịch vụ. Chuyên gia từng
lĩnh vực thì rà soát trong phương án của
Mỹ điều gì cần bỏ, điều gì cần thay, hay
bổ sung. Các luật sư thì ngồi với nhau
hàng tuần để mổ xẻ từng khái niệm, từng
câu chữ, từng đoạn... Về nguyên tắc,
chúng tôi đảm bảo rằng chưa hiểu hết nội
dung, chưa cam kết.
Và bản thiết kế,
khi hoàn thành, so với bản của phía Mỹ
đưa ra trước đó 8 tháng đã được thay đổi
khá nhiều. Đặc biệt, Chương Thương mại
Dịch vụ được viết lại hoàn toàn cho phù
hợp với điều kiện của Việt Nam.
Và đúng như Joe
nói, kể từ tháng 5.1988, cuộc đàm phán
đã đi vào thực chất, và chúng tôi chỉ
tập trung bàn về lộ trình mở cửa thị
trường.
Thảo nào, Joe
Damond kể rằng Dan Price chỉ thông báo
là bản của phía Việt Nam sẽ có nhiều
thay đổi, chứ không nêu cụ thể sẽ thay
đổi thế nào. Ông ta còn nói rằng một
điều khác khiến ông ngạc nhiên là làm
sao ông Lương có thể thuyết phục được
chính phủ và các cơ quan liên quan của
Việt Nam đồng ý với bản thiết kế đó. Xin
ông giải thích rõ chuyện này?
Khi chuẩn bị xong
tất cả, chúng tôi trình lên cấp trên một
tập tờ trình dài 350 trang, gửi trước
cho mỗi người một tập. Khi bắt đầu họp,
vị lãnh đạo chủ trì nhắc nhở: "Lưu ý để
các đồng chí rút kinh nghiệm, theo thông
lệ, trình lên cấp này, mỗi vấn đề chỉ
ghi trong một trang hoặc một trang rưỡi.
Tờ trình này những 350 trang thì sao xử
hết được."
Đúng vậy. Cách
đây mấy năm, khi nhóm tư vấn Harvard gửi
bản khuyến nghị chính sách đầu tiên lên
cho Thủ tướng, họ làm dài lắm, rất cụ
thể. Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ
Nguyễn Xuân Phúc nghe nói cũng nhận xét
rằng dài thế Thủ tướng lấy đâu thời gian
mà đọc xuể, chỉ làm độ 6-7 trang là vừa.
Thế là, khi trình bản khuyến nghị thứ
hai, họ cố gắng cô gọn lại chỉ có mười
mấy trang.
Lúc đó, tôi nghe
cả, và tôi hiểu hết. Nhưng chúng tôi vẫn
phải trình dài, vì không trình hết thì
nguy hiểm lắm.
À, đó có phải
là điều duy nhất hữu ích ông thu nhận
được từ chuyến đi Trung Quốc trước đó?
(Cười) Mọi thứ
đều hoàn toàn mới mẻ, lạ lẫm, nếu không
trình hết để cấp trên hiểu, thì nếu có
chuyện gì sau này, đoàn đàm phán chúng
tôi sẽ không gánh nổi trách nhiệm.
Xin ông nói rõ
ông có gặp khó khăn gì với tờ trình của
mình không?
Không dễ dàng tí
nào. Người ta phản đối, vì tất cả các
hiệp định đầu tư Việt Nam đã ký với nước
ngoài, không có một nội dung nào như
trong này.
Một đồng nghiệp
trong bộ thương mại đã nói với tôi rằng
trách nhiệm của những người đi đàm phán
là phải thiết kế làm sao cho khung pháp
lý không va đập với khung pháp lý hiện
hành.
Tôi đã phải nói
rằng cái khung pháp lý của chúng ta quá
lởm khởm, nên phải cho cái búa đập vỡ nó
đi mới mong làm ăn được.
Ý ông nói rằng
cho đến khi BTA có hiệu lực, hệ thống
luật pháp của Việt Nam rất lạc hậu?
Cũng không hẳn
vậy. Tôi thấy Quốc hội Việt Nam cũng
chăm chỉ sửa luật đấy chứ. Chỉ có điều,
vì không có tiêu chí, nên cách sửa nhiều
khi tuỳ hứng, và tuỳ vào ý chí của lãnh
đạo.
Nhưng lần này thì
khác, bởi luật sẽ được sửa cam kết theo
BTA, theo WTO, tức là theo một tiêu chí
rõ ràng.
Chúng tôi thuyết
phục những người phản đối bằng lập luận
sau: Không nước nào có thể phát triển
được nếu không xuất khẩu được vào thị
trường Mỹ. Ngay cả "ông bạn vàng phương
Bắc" của chúng ta muốn thực hiện "bốn
hiện đại hoá" thành công cũng phải ký
BTA với Mỹ, để hưởng qui chế tối huệ
quốc mà thúc đẩy xuất khẩu. Và, Việt
Nam, muốn xuất khẩu được phải thiết kế
một hệ thống pháp luật để đáp ứng nhu
cầu đó. Và để phát triển lâu dài, không
nên sửa kiểu cò con, vụn vặt.
Đối với Chương Sở
hữu Trí tuệ, có một nhà khoa học nổi
tiếng, có chức sắc đàng hoàng, đã phản
đối đến cùng. Ông ta cho rằng xưa nay
các nước tư bản phát triển được là do đi
"ăn cắp" phát minh của người khác, và
Việt Nam cam kết vào đây là "tự trói
mình", sau này lấy lấy tiền đâu mà mua.
Chúng tôi phải
thuyết phục rằng liệu các nhà đầu tư tử
tế nào từ Mỹ và các nước phát triển sẽ
vào Việt Nam, khi họ không đảm bảo rằng
sản phẩm của họ không bị làm nhái, hay
không. Vả lại, với Mỹ sở hữu trí tuệ là
lợi ích quốc gia, lợi ích doanh nghiệp,
đời nào họ chịu buông.
Chẳng hạn, chỉ
riêng giá trị thương hiệu của Coca-cola
đã gần gấp ba lần GDP của Việt Nam vào
thời điểm đó (90 tỷ đô la so với 32 tỷ
đô la).
Gần đây, một
chuyên gia hàng đầu về đầu tư của Nhật
Bản có nhận xét với tôi rằng một trong
những lợi thế của Việt Nam so với Trung
Quốc, trong con mắt các nhà đầu tư Nhật
Bản, là ở Việt Nam chuyện ăn cắp bản
quyền trong sản xuất hàng hoá chưa phổ
biến, hoặc giả người Việt Nam chưa đủ
trình độ ăn cắp như người Trung Quốc.
Hay với Chương
Đầu tư, chúng tôi cũng phải thuyết phục
rằng mục đích của chúng ta là thu hút
đầu tư, và, vì vậy, phải cải thiện môi
trường pháp lý.
Hoặc với Chương
Mua sắm Chính phủ, trong đó qui định dự
án đầu tư của nhà nước từ nửa triệu đô
la trở lên là phải đấu thầu, họ phản đối
rất mạnh. Họ viện lý do là làm như vậy
là tiết lộ bí mật quốc gia. Chúng tôi
trả lời rằng trong đó đã loại bỏ hết
những dự án liên quan đến an ninh, quốc
phòng, rồi, và chẳng qua chỉ là những dự
án dân sự như xây dựng nhà máy điện, hay
mua xe lửa thôi... Chúng tôi khẳng định
rằng chỉ có đấu thầu công khai, thay vì
chỉ định thầu, mới hạn chế được tham
nhũng.
Nhưng chương này
cuối cùng đã bị loại ra. Chúng tôi đã
thua, bởi lợi ích của những người chống
quá lớn.
Đó là nỗi đau
lớn nhất của ông?
Đối với bản hiệp
định thì đúng. Nhưng đối với đoàn đàm
phán Việt Nam, và cá nhân tôi, nỗi đau
lớn nhất lại nằm ở chỗ khác. Tôi sẽ nói
sau.
TuanVietnam
29-12-11
Nỗi đau của nhà
đàm phán BTA
Ông còn
nhớ không,
đại văn hào
Nga Lev
Tolstoi đã
từng nói
rằng cuộc
tranh cãi
tay đôi chỉ
chấm dứt khi
một trong
hai người
hiểu ý định
thực sự của
người kia.
Còn trong
trường hợp
của BTA, hai
bên đã mất
tới hơn một
năm rưỡi,
với 5 vòng
đàm phán để
làm điều đó.
Chỉ có điều,
trong trường
hợp BTA, cả
Việt Nam và
Mỹ đều hiểu
ý định thực
sự của nhau,
để không
phải chấm
dứt ở đó mà
cùng nhau đi
tiếp.
Kể từ
vòng đàm
phán thứ 6,
ông có cảm
nhận thấy
thay đổi
thái độ của
phía Mỹ dành
cho ông và
đoàn đàm
phán Việt
Nam không?
Có chứ, rất
rõ ràng. Qua
thái độ, ánh
mắt và lời
nói. Chứ
trước đó,
tôi cảm nhận
được sự lo
lắng của họ.
Vả lại, như
Joe đã nói
với anh đấy,
một người
được đào tạo
ở Liên Xô và
nhiều năm
làm việc với
Liên Xô và
Đông Âu theo
mô hình
thương mại
Xô Viết,
chắc hẳn sẽ
khó chơi
lắm. Khi đã
hiểu nhau,
Joe có nói
với tôi rằng
anh ta đã
từng chờ đợi
những điều
tồi tệ nhất
có thể xảy
ra.
Nhân thể xin
hỏi lại ông
điều này.
Joe Damond
nói rằng
trưởng đoàn
phía Mỹ là
"ông chủ"
cuộc chơi,
nhưng, ông
trưởng đoàn
Việt Nam lại
đóng vai trò
như một
người điều
phối, điều
tiết. Có lý
do gì đó
không, hay
là tính cách
ông nó vậy?
Thông thường
trong đàm
phán, nhất
là thời gian
đầu, tôi hay
hỏi nhiều và
yêu cầu anh
em trong
đoàn đặt
nhiều câu
hỏi. Một
mặt, càng
nhiều thông
tin thì càng
hiểu ý tứ
của đối tác
trong cuộc
chơi này.
Và, mặt
khác, chúng
tôi cũng học
được nhiều
hơn về kinh
tế thị
trường, để
có thể bảo
vệ tốt hơn
những lợi
ích thực sự
của Việt
Nam. Cũng
như Joe
Damond và
đoàn đàm
phán phía Mỹ
trong việc
bảo vệ lợi
ích của nước
Mỹ.
Lý do thứ
hai là đoàn
đàm phán của
Việt Nam là
đoàn liên
bộ, mỗi bộ
lại có lợi
ích riêng
của mình.
Nếu trưởng
đoàn không
biết điều
phối cho
khéo, rất dễ
xảy ra
trường hợp
"trưởng đoàn
không biết
phương án
đàm phán
riêng của
từng bộ".
Chẳng hạn,
về thuế, tôi
bảo anh Tuấn
(ông Hà Huy
Tuấn, hiện
là Phó Chủ
tịch Uỷ ban
Giám sát Tài
chính Quốc
gia) về
chuẩn bị rồi
trình ông
Nguyễn Sinh
Hùng (Bộ
trưởng Tài
chính lúc
đó) ký và
trình tiếp
lên Thủ
tướng. Về
đầu tư, tôi
bảo anh Ân
(ông Đinh
Văn Ân hiện
là Trợ lý
Tổng Bí thư)
làm, rồi
trình ông
Thứ trưởng
Võ Hồng Phúc
ký nháy. Về
sở hữu trí
tuệ, tôi bảo
anh Chiến
(ông Đỗ Khắc
Chiến -
nguyên Phó
Cục trưởng
Cục Bản
quyền tác
giả - Bộ Văn
hóa Thông
tin) và anh
Chướng (ông
Phạm Đình
Chướng -
nguyên Cục
trưởng Cục
Sở hữu Trí
tuệ - Bộ
Khoa học -
Công nghệ -
Môi trường)
soạn thảo
rồi trình
lên bộ
trưởng của
họ ký nháy.
Tất nhiên,
trước đó,
tôi đã có
trao đổi cụ
thể và thống
nhất với anh
Tuấn, anh
Ân, hay anh
Chiến và anh
Chướng, là
nên triển
khai như thế
nào. Khi đã
có chữ ký bộ
trưởng, các
anh ấy gửi
cho tôi một
bản để tôi
tập hợp
thành một đề
án chung và
trình lên
cấp trên
thông qua.
Tuy trưởng
đoàn là
người quyết
định cuối
cùng, và
cũng là
người giơ
đầu chịu
báng nếu có
chuyện gì,
nhưng vẫn
phải hết sức
tôn trọng
anh em, tôn
trọng kiến
thức và công
sức đóng góp
của họ, và
nhất là tôn
trọng quyền
của họ.
Bây giờ
chúng ta hay
nói là phát
huy, hay thu
hút, mọi
nguồn lực xã
hội, trí tuệ
xã hội,
nhưng nếu
không tôn
trọng những
điều đó, làm
sao mà thu
hút, hay
phát huy,
được.
Kể cũng hay
nhỉ? Một
người đến từ
nơi được coi
là thế giới
tự do như
Joe Damond
lại cư xử
như một nhà
độc tài
(dictator),
như cách ông
ta tự nhận
khi nói với
tôi, còn còn
cách làm
việc của đại
diện phía
Việt Nam thì
lại...
(Cười) Phía
Mỹ họ khác.
USTR được
lập ra để
đàm phán các
hiệp định
thương mại,
cũng như xử
lý các tranh
chấp thương
mại quốc tế.
Họ chuyên
nghiệp lắm.
Quay lại câu
chuyện đàm
phán, kể từ
cuộc đàm
phán thứ 6
cho tới khi
hai bên ký
tắt hiệp
định hơn một
năm sau đó,
mọi chuyện
có suôn sẻ
không?
Khi đàm phán
về thuế, tôi
yêu cầu Joe
Damond soạn
cho tôi
những yêu
cầu của phía
Mỹ. Và, bước
vào bàn đàm
phán, họ đưa
cho chúng
tôi một danh
sách rất dài
khung giảm
thuế, và
không quên
nhấn mạnh
rằng nếu
không làm
vậy quốc hội
sẽ không phê
chuẩn. Bởi
trong quốc
hội, đứng
đằng sau
nghị sĩ là
doanh
nghiệp, và
nếu doanh
nghiệp không
được hưởng
lợi, nghị sĩ
sẽ không ủng
hộ.
À, Joe
Damond có kể
chuyện này,
và nói rằng
thoạt tiên
ông ta rất
ngạc nhiên
về lời đề
xuất này của
ông...
Khi bàn trên
cơ sở bản
danh sách
đó, tôi mới
bảo với Joe
rằng thuế
nhập khẩu
của Mỹ chỉ
chiếm 2% thu
ngân sách,
chủ yếu để
làm chính
sách thương
mại, trong
khi đó ở
Việt Nam đó
là 20% nguồn
thu ngân
sách. Ký
BTA, nguồn
tăng thu từ
xuất khẩu
chưa biết là
bao nhiêu,
tự nhiên mất
ngay gần hết
1/5 nguồn
thu ngân
sách, đời
nào chính
phủ Việt Nam
chịu cho ký.
Tôi còn giải
thích thêm
rằng, bên Mỹ
có thuế thu
nhập cá
nhân, thuế
tài sản...,
còn Việt Nam
thu nhập như
lúc đó, ăn
còn chẳng
đủ, tài sản
cá nhân cũng
chẳng có
mấy, như tôi
đang ở nhà
của nhà
nước. Như
vậy lấy đâu
ra mà bù vào
khoản hụt
đó.
Rồi tôi nói:
"Thôi chúng
ta sẽ bàn,
nhưng bàn
sau, khi
Việt Nam đàm
phán gia
nhập WTO.
Khi đó, Việt
Nam cũng có
dăm ba năm
cải cách hệ
thống thuế
theo hệ
thống của
thế giới,
như thuế
VAT, thuế
thu nhập,
thuế tài
sản..."
Joe nghe ra,
hai bên bàn
bạc qua lại,
và cuối cùng
chúng tôi
chỉ tập
trung vào
hơn 200 dòng
thuế để bàn
về thuế suất
và lộ trình
giảm thuế.
Nhưng đâu đã
ổn. Khi nhóm
thuế hai bên
đàm phán
riêng, phía
Mỹ lại yêu
cầu phía
Việt Nam đưa
biểu thuế
AFTA (Hiệp
định Thương
mại Tự do
ASEAN) ra
bàn. Anh
Tuấn và anh
Khánh (hiện
là Thứ
trưởng Công
Thương,
Trưởng đoàn
Đàm phán
TPP) không
chịu, và về
báo cáo tôi.
Tối hôm đó,
Joe mời cơm.
Trong khi
ăn, tôi mới
hỏi: "Phía
Mỹ có định
ký BTA
không?"
Joe ngỡ
ngàng nhìn
tôi.
Tôi hỏi
tiếp: "Tại
sao nhóm
thuế lại đưa
yêu cầu như
vậy? Phía Mỹ
đòi biểu
thuế AFTA
của tôi,
vậy, đổi
lại, các ông
hãy đưa biểu
thuế NAFTA
(Hiệp định
Thương mại
Tự do Bắc
Mỹ) ra cho
chúng tôi.
Thế mới bàn
được chứ."
Joe chịu
tôi, và mọi
chuyện trở
nên suôn sẻ
hơn nhiều.
Muốn biết cụ
thể hơn về
diễn biến
đàm phán,
nhà báo nên
hỏi anh
Tuấn, hay
anh Khánh.
Có quả thực
là trước khi
Joe Damond
thông báo
với ông ở
Aukland là
việc ký BTA
bị dừng lại,
ông không hề
biết trước?
Tôi đã có
linh cảm là
có điều gì
đó không ổn,
khi lãnh đạo
cấp cao lại
họp để bàn
lại lần cuối
về việc ký
BTA. Bởi,
trước đó, đã
có sự nhất
trí hoàn
toàn rồi.
Nhưng tôi
vẫn tin là
mọi chuyện
sẽ không
sao.
Vì vậy, khi
nghe Joe
báo, tôi hết
sức ngỡ
ngàng. Dường
như tôi
không tin
nổi.
Ông cũng
chia sẻ cách
lý giải của
Joe?
Có một lần,
ngồi với
Ginny Foote,
nhắc đến
chuyến lỡ
tàu đó, tôi
nói "phụ nữ
rất được
việc, nhưng,
đôi khi,
cũng dễ rách
việc". Tất
cả cười "ồ"
lên.
Ờ, bà
Albright,
khi còn làm
Đại sứ Mỹ ở
Liên Hợp
Quốc, đã
từng nổi
hứng doạ bẻ
gãy giò ông
Tổng Thư ký
Boutros
Boutros
-Ghali. Vả
lại, cha của
bà này đã bị
cách chức
Đại sứ Czech
tại Nam Tư
và phải đưa
cả gia đình
bỏ sang Mỹ,
khi những
người cộng
sản lên nắm
quyền năm
1948.
Cảm tưởng
của ông khi
biết rõ hơn
về nguyên
nhân vụ đổ
bể đó?
Buồn, buồn
lắm! Buồn vì
nhiều lẽ.
Tôi thực sự
không thể
hiểu nổi,
một vấn đề
hệ trọng như
vậy, vấn đề
liên quan
đến lợi ích
của một dân
tộc, lại có
thể bị gạt
phăng đi chỉ
vì một câu
phán của một
người nào
đó, cho dù
người đó có
là ai. Bởi,
trước đó cả
một tập thể
quyền lực đã
nhất trí
rồi.
Buồn hơn nữa
là sau quyết
định bỏ
cuộc, nhiều
nơi lại
tranh thủ
"đóng góp
thêm ý
kiến". Họ
cho cái dự
thảo BTA của
chúng tôi
xấu hết chỗ
nói.
Chúng tôi
lại phải tốn
mất mấy
tháng trời,
tốn mấy trăm
tờ giấy viết
"bản giải
trình", để
trả lời
những câu
hỏi của họ.
Khổ nhất là
phải giải
trình lại
những vấn đề
mà chúng tôi
đã giải
thích trước
đó cả năm
trời rồi,
hay những dự
đoán hoàn
toàn cảm
tính, mà
thiếu lập
luận khoa
học, của họ.
Đến khi nào
thì lãnh đạo
cấp cao lại
cho phép nối
lại đàm phán
để ký BTA?
Sau khi giải
trình xong,
thấy không
có ý kiến
gì, tháng
12.1999,
chúng tôi
lại làm tờ
trình xin
ký.
Đầu năm
2000, Bộ
Thương mại
lại có sự
thay đổi
lãnh đạo.
Anh Vũ
Khoan, Thứ
trưởng
Thường trực
Bộ Ngoại
giao, về
thay anh
Trương Đình
Tuyển đi
Nghệ An.
Vừa mới về,
anh Vũ Khoan
đã gặp tôi,
và bảo: "Hai
thằng bạn
già chúng
mình quyết
tâm làm cho
xong BTA rồi
nghỉ cũng
được." Chúng
tôi cùng học
ở MGMO với
nhau, tuy
không cùng
năm.
Rồi ăn
Tết
xong, đến
giữa tháng
3, tôi gửi
thư mời Joe
cùng đoàn Mỹ
sang Việt
Nam. Joe
cũng muốn
sang, nhưng
cả Bộ Ngoại
giao Mỹ và
USTR rất
cảnh giác
Việt Nam,
sau vụ bị
"bẽ mặt" ở
Aukland.
Joe có nói
tới vai trò
của Dan
Price trong
chuyện này?
Đúng vậy.
Chúng tôi
mời Dan
sang. Mọi
chuyện trở
nên rõ ràng
với phía Mỹ.
Nhưng đến
tháng
7.2000, họ
vẫn thử
thách lần
cuối, bằng
cách mời Bộ
trưởng Vũ
Khoan sang.
Ông Vũ Khoan
sang, tức là
hai bên nhất
định ký.
Trong lần
đàm phán
cuối cùng
đó, ông nhớ
nhất kỷ niệm
nào?
Joe và tôi
mất có nửa
tiếng là
giải quyết
xong hết,
còn lại ba
điều khoản
để giải
quyết ở cấp
bộ trưởng.
Ngoài kỷ
niệm vẫn lưu
trên tường
kia là bức
ảnh Tổng
thống Bill
Clinton bắt
tay tôi, một
kỷ niệm cũng
rất ấm áp là
Bộ trưởng Vũ
Khoan nhất
định đợi
"ông Lương"
xong việc
mới cùng lên
xe vào Nhà
Trắng.
Hà hà, hai
ông bạn
già...
Joe Damond
đã viết hồi
ký, và hy
vọng sang
năm sẽ ra
mắt độc giả.
Thế còn ông?
Bạn bè tôi
cũng khuyên
tôi, thúc
giục tôi nên
viết.
Nhưng với
tôi, "sự đời
đã tắt lửa
lòng/ còn
chen vào
chốn bụi
hồng làm
chi!"
Xin cám ơn
ông!
|