Nhân ngày giỗ 15 năm bác sĩ Nguyễn Khắc
Viện (10-05-1997), chúng tôi xin đăng lại bài viết của Nguyễn Ngọc Giao
năm 1997, sau khi ông mất. Bài này gồm ba phần.
Anh
Viện
Nguyễn
Ngọc Giao
Ông
Nguyễn Khắc Viện, nguyên tổng thư
ký Liên hiệp Việt kiều tại Pháp
nguyên giám đốc Nhà xuất bản
Ngoại văn, tổng biên tập báo Thư
tín Việt Nam và
tạp chí Nghiên cứu Việt
Nam, giám
đốc
Trung tâm N-T, giải thưởng lớn
Pháp ngữ của
Viện Hàn lâm Pháp
(1992), huân
chương Độc Lập hạng nhất
(1997), đã
từ trần ngày
10.5.1997 tại nhà
riêng
ở
Hà
Nội. sau
nhiều tháng
trọng bệnh, thọ
85
tuổi. Đám
tang bác
sĩ Nguyễn
Khắc Viện đã
cử hành ngày
16.5 tại nghĩa
trang Mai
Dịch. Các nhà
lãnh đạo
(Đỗ
Mười, Võ Văn
Kiệt
,Võ Nguyên
Giáp...)
đã
tới viếng
hoặc
gửi vòng hoa.
Anh
chỉ kém Bác Hãn 5 tuổi và
ngang tuổi mẹ tôi, nhưng tôi xin phép
vẫn được gọi bằng anh, như từ
ngày được gặp anh lần đầu
ở Pháp, khi ấy anh chưa đầy ngũ
tuần.
Được
tin anh đau nặng từ tháng 11 năm ngoái.
Với bạn bè tới thăm hay điện
thoại từ xa, anh nói sẽ không qua
khỏi năm
1996.
Trước đó
vài tháng, anh
đã
viết một bài trên báo Sức
khoẻ & Đời
sống đăng
kèm lá thư
viết từ tháng 4-96:
Kính
gửi các bạn đồng
nghiệp ngành y tế,
Tôi
nay đã 83 tuổi,
từhơn 40 năm nay bị thiếu thở
trầm trọng, nay mai giá thử có tai
biến gì, hay mắc thêm bệnh khác,
xin các cơ sở y tế tiếp nhận tôi
:
–
Đừng
khám nghiệm gì thêm :
X quang, thử máu, nội soi...
–
Đừng
cho thuốc men nào, không phẫu thuật,
truyền huyết thanh, thở oxy...
Xin
để cho tôi ra
đi
nhẹ nhàng, rút ngắn những ngày
nằm dài, không trò chuyện gì
được với ai, ăn
uống
vệ sinh đều phải người
phục vụ, sống thêm vài ba ngày
hay tháng chỉ làm khổ cho bản thân,
cho vợ con, cho các bạn. Chỉ xin
thuốc giảm đau, nếu cần
dùng morphin cũng chẳng hề gì.
Nếu
cứ ép buộc tôi, tôi sẽ hết
sức cưỡng lại.
Tôi
xin tuyên bố gánh lấy trách
nhiệm hoàn toàn về
tôi.
Xin
trân trọng biết ơn các bạn.
Trong
bài báo, anh bảo vệ quyền tới
tuổi được
chết và quyền giúp chết (euthanasie),
tạo ra một từ
mới, rất đạt,
là hộ tử, cũng
như khi người ta ra đời,
được
bác sĩ hay bà đỡ
hộ sinh. Quan
niệm hộ tử từ
lâu đã
phổ biến ở Bắc Âu, gần đây
ở Tây Âu. Ở
ta còn mới.
Đó
cũng là một
đặc
tính trong phong cách Nguyễn Khắc Viện
: một thái độ
dấn thân toàn
tâm, toàn ý, lời nói và việc
làm đi đôi
với nhau. Luôn
luôn quan tâm tới các vấn đề
của xã hội, tuổi càng cao, anh càng
đạt
tới cái đạo
lý : tiếp cận các vấn đề
ấy từ góc độ con người,
những con người cụ thể. Anh đặt
vấn đề hộ tử cũng
như anh đã phổ biến phương
pháp dưỡng sinh, luyện thở trong giới
các cụ già, bắt đầu
từ ngõ Nguyễn Chế Nghĩa, phố Trần
Hưng Đạo, ra thành phố, rồi cả
nước. Cũng như anh đã xách
túi đựng
những quả cầu bằng nhựa mà anh
đặt
làm, đi khắp
phố phường
Hà Nội để
bán cho thiếu niên, gây lại trò
chơi đá cầu truyền thống, với
cao vọng nâng nó thành một bộ
môn thể thao. Đối
với anh, đó
là những việc
quan trọng không kém việc viết cuốn
Một đôi lời, tâm
sự với thanh niên đang
cùng xã hội
trải qua cuộc khủng hoảng của thập
niên 80, hay thành lập và nuôi sống
Trung tâm N-T nghiên cứu tâm lý trẻ
em (tổ chức phi chính quyền đầu
tiên ở Hà Nội, ra đời
năm 1989).
Người
không biết anh, có thể cho một vài
việc vừa kể trên là chuyện
đồ gàn.
Nói như vậy chỉ đúng
một nửa, nghĩa
là sai hoàn toàn. Đúng,
vì Nguyễn Khắc
Viện quả là một ông đồ
thời nay, thậm chí
một ông đồ Nghệ :
anh đã
chẳng từng dùng bút hiệu Nguyễn
Nghệ để
viết sách và báo ở Pháp đó
sao ? –
kể cũng hơi lạ, anh là người
Hà Tĩnh, cũng như bác Hãn, mà
theo tôi hiểu, đối
với nhiều bà con Nghệ Tĩnh, thì
Nghệ là Nghệ, Tĩnh là Tĩnh !
Nhưng thôi, chuyện
ông đồ xin
nói sau. Ở đây,
xin nói về cái
sai của thành kiến giả định
trên : quan niệm của anh Viện là thân
thể, tâm thần và tư tưởng
con người là một tổng thể.
Đó không chỉ
là một quan niệm, mà là kinh nghiệm
sống còn của bản thân anh.
Để
hiểu điều
đó, có lẽ
chỉ cần gặp anh một lần. Chưa gặp
chỉ cần nhìn pho tượng la hán
Tuyết Sơn ở chùa Tây phương :
một thân hình gầy guộc, một đôi
mắt tinh anh. Anh Viện
chỉ " hơn " Tuyết Sơn một điểm
: lưng anh sâu hoắm một vệt dài.
Con người ấy, từ nửa thế kỷ
nay, sống với dung tích hai phần ba lá
phổi bên trái (lá bên phải đã
bị cắt hoàn toàn). Chín năm
(1942-51)
sống
ở viện dưỡng lao St-Hilaire- du-Touvet
(gần Grenoble), một năm ròng " nằm
yên không nói một lời, y tá
lặng lẽ ra vào chăm sóc ",
7 lần lên bàn
mổ, cưa 8 khúc xương sườn.
Trong thập niên 40 (chưa có thuốc kháng
sinh, lại trong điều
kiện chiến tranh) khi người ta bị lao,
thì chỉ còn cách nằm chờ, bệnh
nhẹ thì cơ thể vượt qua thử
thách, bệnh nặng thì hy vọng sống
vài năm là
cùng. Anh Viện bệnh nặng, rất nặng,
chỉ còn cách vận dụng yoga,
khí công và hiểu biết khoa học
để
tìm ra phương pháp thở bụng
(xem khung trang bên), rèn
luyện tâm thể để
đẩy
lùi tử thần.
Nguyễn
Khắc Viện sinh ngày 6-2-1913
tại Hương Sơn,
Hà Tĩnh, con trai
cụ nghè Nguyễn Khắc Niêm (hai đời
vợ, 14 con). Đỗ
tiến sĩ, cụ mong làm quan đốc
học, nhưng Pháp bỏ chữ nho, cụ
đành
làm quan chính trị (án sát Vinh,
rồi về làm việc ở Huế) và
căn dặn
các con đừng làm quan. Đỗ
tú tài ở Hà Nội xong, giữa
Luật và Y dược, " vào
luật tất dẫn đến làm
quan, tôi lựa ngành y,
sau này chữa bệnh cứu người,
vừa bảo đảm cuộc
sống đầy đủ
cho bản thân và gia đình,
vừa được xã
hội kính trọng :
chữa cho người giàu lấy tiền
nuôi thân, chữa không tiền cho người
nghèo, và ngaynhững người Pháp cũng
phải nhờ đến tôi khi gặp
bệnh nặng ".
Năm 1937,
học xong năm
thứ ba y khoa Hà
Nội (cùng Phạm Biểu Tâm), Nguyễn
Khắc Viện lên đường
sang Pháp. Ngoại trú, rồi nội trú
các bệnh viện
Paris,
tốt nghiệp bác sĩ y khoa năm
1941.
Con
đường
học vấn và lập danh thẳng băng
của người
thanh niên ưu tú ẩy đến
đây gặp
một khúc ngoặt,
của thời đại,
và của cá nhân.
Mùa
hè 1939, anh đạp
xe đạp
đi nghỉ
hè ở vùng Bretagne
(năm
trước, đạp
xe xuống Bordeaux,
đi về
1200 km).
Tháng 9,
đạp
xe về Paris,
thì Chiến tranh thế giới thứ II cũng
ập tới. " Chuyện gì vậy
? Cho đến lúc ấy tôi chưa
bao giờ mua một tờ báo, không
bao giờ nghe đài
; ai đánh
ai, vì sao, được
thua sẽ như thế nào ? phát xít
là gì ? chống phát xít
là gì ? toàn nhùng câu
hỏi hết sức xa lạ với
tôi, lần đầu tiên tôi
vấp phải, mà không có một cơ
sở nào để giải đáp
(...) trong mấy năm trời,
mải
học tôi chẳng hề biết đến,
nay tôi đứng trước một
cuộn tơ vò không biết gỡ
theo mối nào ".
Thời cuộc là thế, cá nhân thì
bệnh lao bắt đầu,
như đã kể ở trên. Cùng lúc
ấy, tình hình người Việt Nam ở
Pháp có một thay đổi
lớn : từ mấy trăm
người (chủ
yếu là học sinh, sinh viên và trí
thức), nay thành
mấy vạn, gồm những cơ, những
ngũ công
binh, chiến binh –
ta vẫn gọi chung là lính thợ,
hay ONG (ouvriers
non spécialisés,
thợ không chuyên nghiệp) –
mà chính quyền thuộc địa
đưa sang Pháp
để phục vụ
cuộc chiến tranh chống
Đức
trong khoảng 39-40. Vừa đặt
chân lên mẫu quốc được
vài tháng, thì Pháp thua trận, hai
ba chục nghìn lính thợ Việt Nam phải
sổng và lao động
khổ cực trong những trại dưới sự
quản trị của sở Nhân công bản
xứ (Mâm
d~uvre indigène,
viết tắt là M.O.I.
, từ đó có
tên sở
Mọi, làng Mọi),
nhiều người bị
bệnh. Một số trí thức và sinh
viên, trong đó
có anh Viện, tìm
cách giúp đỡ
anh em công chiến binh, chủ yếu về mặt
xã hội, y tế và văn
hoá.
Đó
là thời điểm
trỗi dậy của tinh thần dân tộc,
cũng là giai đoạn
trăn trở
tìm đường
của những thanh niên Việt Nam tại Pháp.
Cùng một điểm
xuất phát là lòng yêu nước,
họ sẽ đi
theo những hành
trình rất khác nhau. Ở Paris,
bác sĩ Trần Hữu Tước hình
như đi con đường thẳng, đưa
anh từ bệnh viện
tới chiến luỹ (barricade)
giải phóng Paris
mùa hè 1944. Trước đó
hai năm, Huỳnh
Khương
An đang chuẩn
bị thi thạc sĩ (agrégation),
sẽ bị Đức
xử bắn ở Chateaubriant
(mộ anh hiện ở nghĩa trang Père-Lachaise
(Paris).
Phạm Quang Lễ (tướng Trần Đại
Nghĩa tương lai, cha đẻ của súng
không giật SKZ) mùa hè 40, khi quân
Đức tràn
sang Pháp, cùng Nguyễn Khắc Viện,
Hoàng Xuân Nhị đi
xe đạp tản
cư xuống bờ
nam sông Loire,
sau đó tìm
đường
sang Đức
để
học chế tạo vũ khí. Hè 1943, một
nhóm sinh viên Việt Nam khác cũng sang
Đức
học, trong đó
có Hoàng Xuân
Nhị, Lê Văn
Thiêm (nhà toán
học), Nguyễn Hoán (hoá học), Trần
Văn Du (bác
sĩ).
Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà
cùng thời điểm
ấy, ở Việt Nam, một số sinh viên
lên đường
sang Nhật. Trong số ấy hai người trở
thành những nhà khoa học lỗi lạc
và sẽ trở về nước tham gia kháng
chiến : Đặng
Văn Ngữ
(sinh học), Lương Định Của (nông
học).
Họ
đều
là những trí thức, những nhà
khoa học, không ai trở thành chính
khách. Tại sao họ sang Đức,
sang Nhật (ngoài
lý do là họ được
cấp học bổng,
và gặp dịp học hỏi chuyên môn) ? Có động
cơ chính trị nào không ? Hiện
nay, chúng ta không có một tài liệu
nào, một chứng từ nào cho phép
khẳng định
chính xác. Chỉ biết là không
ai trong họ bị quyến rũ bởi ý
thức hệ quốc xã phátxít.
Và chắc sẽ không sai sự thực nếu
ta giả định
rằng, cũng như nhiều thanh niên trí
thức các nước thuộc địa
khác, họ có thể đã
lập luận theo kiểu " kẻ thù
của kẻ thù (có
thể) là bạn ta ".
Đó là
nếu họ có những suy nghĩ chính
trị, chứ không ngừng ở ý chí
học cho bằng được
kỹ thuật chuyên môn để
sau này phục vụ đất
nước (như trường
hợp Trần Đại
Nghĩa).
Còn
Nguyễn Khắc Viện ? Sau 18 tháng điều
trị Ở St-
Hilaire-du-Touvet, người thấy khoẻ, mùa
hè 1943, anh " xuống núi ". Anh đã
đi theo đoàn
sinh viên sang cả Berlin,
để
thấy quang cảnh nước Đức
sau thất bại ở Stalingrad,
và hai tuần sau, trở về Pháp, "
lao vào hoạt động xã
hội chính trị, không dựa
vào một tô chức nào, chỉ vài
anh em bàn qua với nhau, tôi
vừa
phí sức vừa phí thời giờ chạy
qua chạy lại từ trại này sang trại
khác. Thời chiến, ăn uống
thất thường, đi
lại
khó khăn, mệt xác thì
nhiều, kết quả chẳng là bao. Dù
sao nhờ đó cũng làm quen
được một số
anh
em cốt cán trong các trại
chiến binh và công binh "
(còn tiếp).
Nguyễn
Ngọc Giao
Có
lần tôi hỏi anh : " Nếu như làm
một tuyển tập các bài viết của
anh, thì theo anh, những bài nào là
có giá trị lâu dài ? "
–
Trước
hết là bài về tập thở...
Hàng
ngàn trang viết của anh, trong đó
không ít trang được dịch ra nhiều
thứ tiếng trên thế giới, được
bạn bè quốc tế coi là " cẩm
nang " khi nghiên cứu về Việt Nam, vậy
mà anh lại coi bài vè mấy câu
rất thô sơ là giá trị nhất
: Thót bụng thở ra / Phình bụng
thở vào / Hai vai bất động
/ Chân tay thả lỏng / Êm, chậm, sâu,
đều / Bình
thường
qua mũi / Khi gấp qua mồm / Đứng
ngồi hay nằm / Ở đâu
cũng được /
Lúc nào
cũng được. Tôi
thầm đọc
và không khỏi mỉm cười. Theo cách
nghĩ thông thường, bảo rằng mấy
câu vè nôm na này là " tác
phẩm " giá trị nhất của bác
sĩ Nguyễn Khắc Viện thì quả là
hài hước. Nhưng hình như anh nói
nghiêm chỉnh... Và hình như anh biết
tôi đang thầm
đọc,
nên khẽ nhắc thêm : " Nhưng
nhớ là phải theo thật đúng,
không sót một câu nào, chữ
nào ".
Tôi
nhớ, trước đây
đã có lần
anh bảo : " Hàng trăm bài
viết của mình bàn chuyện thế
sự, cho dù in
khắp đông tây nam bắc,
có khi gây sự
và chịu tai tiếng, những
rồi cũng
qua thôi. Chính trị là thế.
Còn bài vè thì đúng
với muôn đời,
muôn
người. Có thể nói đây
là luận văn khoa học
ngắn gọn về khí công dễ
phổ biến nhất, kể
cả những người mù
".
Nguyễn
Khắc Phê
(Tuổi trẻ Chủ
nhật,
18.5.97)
Anh
Viện
Nguyễn
Ngọc Giao
(tiếp
theo kỳ trước)
1943.
Chưa đầy bốn tháng hoạt động
ở các trại công chiến binh, " một
hôm tôi bỗng rùng mình, nổi cơn
sốt rồi khạc ra đờm : 'bệnh
tái phát rồi'. Tôi trở lại
sana (...) Bệnh tình lần này khá
khiêm trọng, bác sĩ đề
nghị làm phẫu thuật nhưng sức quá
yếu, không chắc gì chịu được
một vụ mổ xẻ. Bác sĩ bảo
tôi nằm yên một năm không
nói năng gì để
lấy
lại sức. Một năm trời tôi
nằm yên không nói một lời, y tá
lặng lẽ ra vào chăm sóc. Rồi
lên bàn mổ nhiều lần ",
anh Viện kể lại như vậy trong một
tập hồi ký chưa công bố.
Yên
lặng là một phương pháp điều
trị bệnh lao (cure de silence)
của thời ấy
(gần 20 năm sau
vẫn còn áp
dụng, hạn chế vào khoảng hai, ba giờ
trưa). Nhưng yên lặng trong suốt một
năm trời là
một kỷ lục đã
biến Nguyễn Khắc Viện thành một
huyền thoại sống trên cao nguyên
Saint-Hilaire-du-Touvet, như lời kể của bác
sĩ S. Tomkiewiecz trong buổi lễ tưởng
niệm tối 18-6 vừa qua tại trụ sở
UNESCO ở Paris. Ông Tomkiwiecz còn tìm thấy
ở đó một
cuộc trở về nguồn, tìm tòi
triết học và đạo
lý phương Đông, song song với việc
vận dụng khoa học phương Tây. Có
điều chắc chắc là chính tại
St-Hilaire, anh đã
học yoga và luyện khí công để
tìm ra phương pháp thở bụng
đã
nói ở trên, cũng như đã học
chữ nho, để
đọc
kinh điển
Hán văn và
tập thư pháp.
Về
mặt chính trị, nhũng năm
ở viện dưỡng
lao cũng là thời gian tìm đường
và tập dượt. Trái với hình
ảnh Nguyễn Khắc Viện cộng sản
mà nhiều người
có sẵn như một định
kiến, hành trình chính trị trong
thập niên 40 của anh cũng khá gập
ghềnh. Khởi điểm
là một sự mù tịt hầu như
tuyệt đối
về chính trị, ngoại trừ lòng
yêu nước thương nòi của một
gia đình
khoa bảng gia giáo (xem DĐ
số trước).
Hè 43 còn sang Berlin xem tận mắt nước
Đức
quốc xã. Sang năm
44 còn viết một
bài báo đăng
trên một tờ
báo sinh viên, khẳng định
lập trường quốc gia, với xu hướng
sẵn sàng xây dựng một chế độ
độc
tài hay ít nhất một chế độ
mạnh để
đưa nước
nhà tiến lên. 45-47,
có quan hệ khá thân thiết với
nhóm trôtkit Việt Nam lúc đó
có ảnh hưởng
lớn trong hàng ngũ công chiến binh.
Phải tới năm
1949, Nguyễn Khắc
Viện mới tham gia Đảng
Cộng sản Pháp và hoạt động
trong chi bộ cộng sản Pháp ở
Saint-Hilaire. Theo lời kể của ông Hoàng
Khoa Khôi, khi quyết định
như vậy, anh đã
gửi thư cho nhóm trôtkit để
nói : từ nay các anh muốn biết
lập trường của tôi, chỉ cần
đọc báo Humanité. Những
năm tiếp
theo đó được
đánh dấu
bằng những cuộc luận chiến khá
nảy lửa giũa anh Viện (cùng những
đồng
chí Việt Nam trong ĐCS
Pháp) và anh em
trôtkit, đặc
biệt chung quanh vấn đề
Nam Tư và việc đánh
giá Tito, cũng
như nhận định
về Staline, Trotsky, Mao. Nảy lửa, không
khoan nhượng về lập trường, song
quan hệ cá nhân vẫn giữ được
tình người. Được
như vậy, có lẽ nhờ hai yếu tố.
Một là, tập tục của các nhóm
trôtkit có một ưu điểm lớn
(so với các đảng cộng sản đệ
tam) là vẫn giữ quan hệ cá nhân
bình thường, duy trì tình bạn
với những người rời bỏ tổ
chức. Hai là, vẫn theo chứng từ của
anh Khôi, ở thời điểm ấy, anh Viện
thành thực nghĩ rằng Trotsky đã
phản bội cách mạng, song vẫn đánh
giá anh em trôtkit Việt Nam là những
người có lòng yêu nước và
có tinh thần cách mạng. Phải chăng
đây cũng là một nét thầy
đồ Nghệ Tĩnh, xa
lạ với lối cư xử cạn tàu
ráo máng.
Nhưng
ta hãy quay trở lại cao nguyên St-Hilaire,
vì ở đây
là một cái
nút quyết định
trong cuộc đời
Nguyễn Khắc Viện. Tại St-Hilaire, ngoài
viện dưỡng lao dành cho sinh viên và
trí thức (khoảng
300 bệnh nhân), còn có viện dưỡng
lao của công nhân mỏ và công
nhân luyện kim. Tổng cộng bệnh nhân,
nhân viên bệnh viện, dân làng
khoảng ba ngàn người, họp thành
một tiểu xã hội với đầy
đủ
thành phần. Sinh hoạt văn
hoá phong phú : nhiều
nhà khoa học, văn
hoá (trong đó có
Albert Camus) được
mời lên núi thuyết
trình. Đấu
tranh chính trị sôi nổi, thậm chí
gay gắt giữa hai lực lượng chính
trị áp đảo
chính trường Pháp thời đó
là đảng
MRP (phái hữu Thiên chúa giáo) và
đảng
cộng sản (tham gia chính quyền từ 1944
đến
1947). Nguyễn Khắc Viện tham gia cuộc sống
văn hoá,
chính trị ở đây,
và tất nhiên
trở thành nhân vật quy chiếu
trong vấn đề
chiến tranh Đông
Dương. Tại
đây, anh đã
kết bạn với rất nhiều người
Pháp, sinh viên có, công nhân có.
Chính những người bạn thân này
sẽ cưu mang anh trong thập niên 50 khi anh
hoạt động
bí mật ở vùng Paris. Cũng chính
họ, trong thập niên 60, khi anh trở về
Hà Nội, sẽ góp tiền mua sách
gửi về cho anh, bình quân hàng năm
300 cuốn.
Những
năm sanatorium
quả
là thời kỳ tu dưỡng và tập
dượt về khoa học, văn
hoá, chính trị
của Nguyễn Khắc Viện. Tốt nghiệp
bác sĩ nhi khoa (năm
41), anh đã có
thiên hướng về nhi khoa và tâm lý
nhi đồng,
nên năm 1948, đã
soạn cuốn Lòng con trẻ,
có lẽ là tác phẩm đầu
tiên bằng tiếng Việt về tâm lý
trẻ em. Sách gửi về Việt Bắc năm
1949, nhưng mãi
đến
năm... 1992,
mới được
nhà xuất bản Phụ Nữ công bố.
Tôi nêu điểm
này để
hiểu tại sao, sau khi nghỉ hưu (năm
1984), anh đã
trở về với mối tình đầu,
và tập trung sức lực mười năm
cuối đời
cho khoa tâm lý học trẻ em. Cũng tại
đây, anh đã
có dịp tranh luận với Albert Camus về
đạo
Khổng, như anh đã
nhắc lại trong bài Khổng giáo
và chủ nghĩa Marx ở Việt Nam (đăng
lần đầu
trên tạp chí La Pensée, in lại trong
Expériences vietnamiennes, và
Bàn về đạo Nho). Và
cũng tại đây,
anh đã ngồi
xe lăn phản
bác một chính khách MRP lên
núi quảng cáo
cho giải pháp Bảo Đại
(đuối
lý, phe hữu viết thư đòi đuổi
tên Việt Minh sách động
ra khỏi sana, nhưng
thất bại vì dấy lên một phong
trào phản đối
từ sinh viên, công nhân, cũng như
bác sĩ và nhân viên y tế).
1951
. Sau 7 lần lên
bàn mổ, với dung tích thở 1 lít
(dung tích trung bình của người thường
: 4 lít), Nguyễn Khắc Viện quyết định
xuống núi. Tất
nhiên, các bác sĩ đều
khuyên can, và tin chắc anh sẽ phải
trở lại, rất sớm. Song lần này,
anh tin rằng đã
tìm ra bí quyết để
giành lấy sự sống, với cái giá
phải trả là liên tục luyện thở,
tập dưỡng sinh, dè sẻn sức lực,
tiết kiệm từng hơi thở và tiết
kiệm thời gian. Tuy nhiên, anh cũng tập
dượt thêm một thời gian bằng cách
không trở lại Paris ngay, mà lưu lại
một năm ở
dưới chân núi, là
thành phố Grenoble.
Cuối
năm 1952, anh về Paris. Chiến tranh Đông
Dương tiếp tục, ác liệt Nhưng
tình hình đã khác hẳn thời
kỳ đầu, khi mà chính quyền thực
dân chắc mẩm sẽ dẹp loạn sau
một thời gian ngắn. Phong trào chống
chiến tranh Đông
Dương lên
mạnh, không chỉ thu hẹp vào Đảng
cộng sản (lúc đó
còn khá mạnh).
Ngay trong nội bộ giới cầm quyền, đã
có sự phân hoá, xu hướng đi
tìm giải pháp
thương lượng với Việt Minh đã
manh nha. Cụm từ la sale guerre (cuộc
chiến tranh bẩn thỉu) đã
xuất hiện và trở thành phổ biến
: điều
đáng chú ý
là cụm từ
này không xuất phát từ ĐCS
hay phong trào hoà
bình, mà nó đã
ra đời
dưới ngòi bút của Hubert Beuve-Méry,
trong một bài xã luận đăng
trên báo Le
Monde (những ai chỉ
biết Le Monde trong
cuộc chiến tranh Mỹ-Việt thập niên
60 có thể không biết rằng cuối
thập niên 40, nhật báo này đã
ủng hộ chính sách chiến tranh ở
Đông Dương).
Cuốn sách của
Philippe Devillers ra đời
lúc đó,
tuy đã tạo
ra một huyền thoại về Leclerc và
Sainteny chủ hoà không
hoàn toàn đúng
với sự thật
lịch sử (xem cuốn sách của Stein
Tonnesson), song đã
có một tác dụng không nhỏ vào
việc phát triển xu thế thương
lượng. Tuy nhiên, cuộc chiến
tranh lạnh vẫn nóng
hơn bao giờ (chiến tranh Triều Tiên diễn
ra khốc liệt, chủ nghĩa McCarthy và chủ
nghĩa Stalin hoành hành ở hai bên bức
màn sắt) và giấc mộng đế
chế vẫn bám chặt đầu
óc một bộ phận lớn của giai tầng
chính trị Pháp (xin nhớ cuộc
chiến tranh Algérie bùng nổ sau
Điện
Biên Phủ, và sẽ kéo dài 8 năm,
ngang với chiến
tranh Đông Dương).
Phong
trào Việt kiều ủng hộ chính phủ
kháng chiến cũng phát triển theo đà
phong trào hoà bình Pháp. Ngoài
nòng cốt là các bác lính
thợ nay đã
trở thành những công nhân thực
thụ (ở Renault và các xí nghiệp
lớn nhỏ), một số ra mở quán ăn,
trở thành tiểu
thương, và những trí thức quen
biết như Phạm Huy Thông, Trần Đức
Thảo (về chiến khu năm
52), Phan Nhuận..., nay
có thêm sức sống mới là những
học sinh sinh viên (phần đông
qua Pháp sau khi phong trào
Trần Văn Ơn
bị đàn
áp). Trong khi lực lượng ủng hộ
lá bài Bảo Đại
vẫn lèo tèo, sự lớn mạnh của
phong trào Việt kiều trở thành một
thách thức đối
với nhà cầm quyền Pháp, và
người lãnh đạo
phong trào (Phạm Huy Thông), một cái
gai.
Một
buổi sáng tinh khôi tháng 12-52, cảnh
sát khám nhà một số anh em Việt
kiều. Hơn 10 người, trong đó
có Phạm Huy
Thông, bị giải về giam ở Sài
Gòn. Nhưng bắt hụt một số khác,
trong đó có
Nguyễn Khắc Viện.
Anh kể lại trong tập hồi ký : « Hồi
ấy tôi ở ngoại ô Paris, trong một
gia đình công nhân Pháp,
ông bà Lephay, với một cậu con trai
làm thợ cắt kính, một cô con
gái làm thợ may. Vì quen cậu con
trai ở bệnh viện, nên lúc ra viện,
gia đình ấy mời tôi về
ở với họ, bà mẹ bảo tôi :
chỉ cần thêm một bát đĩa
thôi, chẳng tốn kém gì. Hai
ông bà không phải là đảng
viên, nhưng làm công nhân từ
14-15 tuổi nên đã trải
qua nhiều vụ đình công
biểu tình (...) ông bà không rõ
tôi làm gì cụ thể, nhưng cũng
hiểu tôi là một người Việt
Nam yêu nước, đồng thời
là một đảng viên ; vì
đã kinh qua thời Đức
chiếm, nên ông bà cũng không hỏi
tôi nhiều hơn. Tuy ở đấy,
nhưng cũng có ý đề
phòng, nên tôi vẫn có nơi khác
trú chân, nhiều đêm không ngủ
nhà. Đúng hôm cảnh sát
đến, thì tôi đi
vắng. Cảnh sát vào lục nhà,
không tìm được tài
liệu gì, sau dẫn bà Lephay đi
khắp các đường
phố
Paris, hỏi cho kỳ được là
tôi trốn ở đâu. Sau này
bà Lephay kể lại :
" Cảnh sát dẫn tôi đi
ba ngày liền.
Trong một tháng sau, mỗi lần tôi
lên xe buýt về Paris lại một thằng
lẽo đẽo đi theo, xem thử tôi đi
những nơi đâu ". Trong hai năm
trời, tôi không gặp lại gia đình
ấy, có lúc cũng muốn ghé thăm
vài phút, nhưng nguyên tắc hoạt
động bí mật là tuyệt
đối (...). Vấn đề
đầu tiên là tìm được
nơi ở an toàn, anh em bảo nên dựa
vào mạng lưới của Đảng
cộng sản Pháp, tôi bảo không
cần. Mạng lưới quen biết của tôi
xây dựng trong 10 năm ở sana, nay ở
Paris không phải ít người, trí
thức có, công nhân có, đảng
viên có, ngoài đảng có,
tôi biết là họ sẵn sàng giúp
và sẽ không bao giờ phản tôi. »
Chính
trong thời gian này, anh đã
thuộc lòng các tuyến đường
và các trạm métro (xe
điện
ngầm) của Paris, mấy chục năm
sau, ngồi ở Hà
Nội, có thể chỉ dẫn đi
từ bất cứ
nơi nào tới bất kỳ phố nào,
đổi
tuyến ở trạm gì, ngồi toa nào
cho gần cửa correspondance hay
lối ra nhất ! Thay thế Phạm Huy Thông
lãnh đạo
phong trào, anh làm song song công việc
Việt kiều và công tác ngoại
giao, tiếp xúc với
chính giới Pháp từ tả sang hữu
(trong việc này, anh được
sự trợ giúp tận tình và hiệu
quả của ông Nguyễn Văn
Chỉ, là chồng
giáo sư Françoise Baccot mà bạn đọc
quen biết với bút danh Françoise Corrèze).
Những năm 1953-55
hoạt động
bí mật ấy một mặt anh bị bộ
nội vụ Pháp truy lùng, mặt khác
được
bộ ngoại giao nể nang,
coi anh là đầu
mối để
liên hệ thương lượng với đối
phương. Cuộc truy lùng mãi tới
năm 56 mới
(tạm) chấm dứt, khi phái đoàn
y tế của bác sĩ Hồ Đắc
Di sang Pháp (phái đoàn
đầu
tiên của Việt nam Dân chủ Cộng
hoà đến
Pháp, sau khi tổng đại
diện Trần Ngọc Danh bị trục xuất).
Louis Puiseux và Henri Van Regemorter, hai người
bạn thân, kể lại : Nguyễn Khắc
Viện đi xe đạp
tới nhà hàng Maxim's dự cuộc chiêu
đãi
khoa trưởng y khoa Hồ Đắc
Di ! Hình như người đầu
tiên tới bắt tay anh ở ngay cổng vào
là ông Lecurieux, thanh tra mật thám, mà
bà con Việt Nam ở Pháp (có người
học cùng với ông ta ở Lycée
Albert Sanaut, Hà Nội) vẫn quen gọi bằng
các tên Việt Nam (dịch sát từ
tiếng Pháp) : ông Tò Mò.
Nói đến
xe đạp
và Nguyễn Khắc Viện, có lẽ cũng
nên mở ngoặc để
kể thêm một giai thoại khác, xảy
ra ở một thời điểm
sau đó hơn
một thập niên,
tại Hà Nội. Theo một người thân,
có lần anh hẹn gặp thủ tướng
Phạm Văn Đồng,
và đạp
xe tới Phủ Chủ tịch. Tới nơi thì
được
người trực (dám
là người đồng
hương khu IV lắm) mời về, không
phải vì đi
xe đạp, mà
vì anh mặc... quần soóc.
Sau
năm 1956, nhà
cầm quyền Pháp đã
cấp thẻ cư trú hợp lệ cho anh
Viện, và để
hội Liên hiệp Việt kiều thành
lập. Hoạt động
đến
năm 1959 thì
LHVK bị cấm. Đó
là thời điểm
mà chính quyền Ngô Đình
Diệm đẩy
mạnh quốc sách chống Cộng,
nhưng dẹp đi
hai màn cải
lương bài phong và
đả thực. Về
phía chính phủ De Gaulle, với chuyến
đi thăm Sài
Gòn của bộ trưởng Pinay (cha đẻ
của đồng
Franc mới) cũng muốn cải thiện quan hệ
với ông Diệm, ít nhất để
bảo vệ quyền lợi kinh tế của Pháp
còn nhiều ở miền Nam. Mặt khác,
chính sách của tướng De Gaulle, từ
năm 1962 sau khi phải
trả độc
lập cho Algérie) là cân bằng hoá
phần nào quan hệ với miền Bắc.
Theo ông De Quirielle, người được
cử sang làm tổng đại
diện Pháp ở Hà Nội, thì tướng
De Gaulle đã
dùng hình ảnh " không nên
thoá mạ tương lai ".
Bước đầu,
Pháp nhận mở ở Paris một phái
đoàn
đại
diện... thương mại của VNDCCH, đứng
đầu
là một nhà ngoại giao xa lạ với
nghề buôn, ông Mai Văn Bộ. Song
đổi lại, Paris muốn làm xẹp bớt
phản ứng của Sài Gòn bằng một
cử chỉ nhân nhượng. Trong khi đó,
tương lai có
vẻ tới gần
thêm một bước với diễn biến
tình hình ở miền Nam : tháng giêng
năm 1963, chưa xảy
ra cuộc đàn
áp ở Huế, làm bùng nổ phong
trào Phật giáo, nhưng đã
diễn ra trận Ấp Bắc, làm rúng
động
bộ máy quân sự mà Hoa Kỳ đã
dày công xây dựng (xem cuốn sách
của Neil Sheehan, A Bright Shining Lie, Random
House 1988 ; bản tiếng Pháp L'Innoncence
perdue, Seuil, 1990). Tương
lai, trong nhãn quan của lão tướng De
Gaulle, cũng là tiếp nối quá khứ
: Pháp chuẩn bị lá bài ở miền
Nam, cụ thể là với cựu thủ tướng
Trần Văn Hữu.
Cần thiết phải tập hợp chung quanh ông
Hữu một nhóm trí thức trông
được. Mà
uy tín của Nguyễn Khắc Viện thì
quá lớn. Một công đôi
ba việc : trục
xuất Nguyễn Khắc Viện vừa hạn chế
hiệu năng đáng
gờm của một
cặp bài trùng Mai Văn
Bộ & Nguyễn
Khắc Viện, vừa dọn đường
cho nỗ lực vận động
chính trị tương lai của Pháp, vừa
làm nguôi phản ứng của Sài Gòn
trước việc Paris tiếp nhận đại
diện của Bắc Việt Cộng Sản.
Nhưng
chẳng nên thoá mạ tương
lai. Việc trục xuất
bác sĩ Nguyễn Khắc Viện không
công bố. Về phía chính phủ miền
Bắc, công bố hay phản đối
cũng không có lợi. Coi như nhà
nước đón
về nước một
nhà trí thức tên tuổi, năm
ấy đúng
50 tuổi, nhưng sức
khoẻ yếu kém sau nhiều năm
trọng bệnh. Thật
sự, Ở Hà Nội, hầu như ai cũng
nghĩ nên xếp anh Viện vào một
cương vị, hay đúng
hơn, một danh
vị nào đó,
song người ta chờ
đợi
rằng anh sẽ chẳng sống được
thêm mấy năm
tháng, với khí
hậu miền Bắc và nhất là trong
điều
kiện vật chất thời đó.
Nguyễn
Ngọc Giao
Anh
Viện
Nguyễn
Ngọc Giao
(tiếp
theo kỳ trước, và hết)
Tháng
5.1963, sau 37 năm sống và hoạt động
ở Pháp, Nguyễn Khắc Viện trở về
Hà Nội. Chính phủ Việt Nam dân
chủ cộng hoà (kể cả bộ trưởng
y tế Phạm Ngọc Thạch, chuyên gia về
phổi) cho rằng anh cần nghỉ ngơi, thu
xếp để anh có thể sống nhẹ
nhàng những năm cuối của đời
mình ở quê hương, nên chỉ cử
anh vào Uỷ ban liên lạc văn
hoá với nước ngoài, một
cơ quan bán chính thức, trực thuộc
Bộ ngoại giao, mà chức năng
là đối
ngoại nhân dân. Ở
cương vị này, khi sức khoẻ cho
phép, nhà trí thức Việt kiều
được
quốc tế biết tiếng, có thể tiếp
khách nước ngoài, đặc
biệt là khách phương Tây, lúc
đó cũng chẳng mấy ai vãng lai Hà
Nội.
Ở
cái tuổi tri thiên mệnh ấy (anh vừa
đúng 50, theo
giấy khai sinh, nhưng
theo gia đình cho biết, thì hình như
năm sinh thực sự của anh là 1915), có
một điều
Nguyễn Khắc Viện biết chắc, là
anh chưa cần nghỉ, chưa muốn nghỉ.
Thế là, trái với sự chờ đợi
của mọi người, Nguyễn Khắc Viện
bắt đầu
một giai đoạn
hoạt động
không mệt mỏi.
Từ
1964 đến
1984, anh đảm
nhiệm công việc giám đốc
Nhà xuất bản ngoại văn,
tổng
biên tập báo Thư tín Việt
Nam và tạp chí
Nghiên cứu Việt Nam, hai
tờ báo này xuất bản bằng tiếng
Pháp và tiếng Anh.
Quãng
đời
công cộng này, mọi người đều
biết cả, hay ít nhất đều
có một định
kiến, làm bằng những hình ảnh
thường được
phóng viên quốc tế nhắc đi
nhắc lại trong
những năm chiến
tranh và sau đó
: người phát ngôn bán
chính thức của Hà Nội, nhà
tuyên truyền năng nổ nhất
của Bắc Việt, người đối
thoại incontournable
(không thể không gặp) của bất
cứ nhà báo nào đến
thăm Hà Nội dưới bom đạn.
Điều
cần nói nằm ở đằng
sau những hình ảnh giản lược ấy.
Xin nêu hai điểm
: một là phong cách, hai là quan điểm
văn hoá.
Tìm
đọc
lại bản dịch chính thức bằng
tiếng Pháp của các văn
kiện ngoại giao,
chính trị của miền Bắc trước
năm 1963, chúng
ta sẽ được
gặp một thứ văn bia rất
kỳ lạ, câu cú chữ nghĩa đúng
là tiếng Pháp
đấy,
nhưng người Pháp đọc
cứ như đọc
một thứ ngôn ngữ gỗ (langue
de bois), thuộc loại
gỗ mun, gỗ trắc, nghe chối tai, chẳng
ai hiểu nổi. Ưu điểm duy nhất của
những văn bản
này, là người thông thạo cả
tiếng Pháp lẫn tiếng Việt đọc
chúng, có thể ứng khẩu dịch lại
ra tiếng Việt mà không mấy sai lệch.
Tại sao có tình trạng ấy ? Không
phải vì Hà Nội lúc đó
không còn người
giỏi tiếng Pháp. Các ông Nguyễn
Mạnh Tường, Trần Đức
Thảo không được
giảng dạy và xuất bản, nhưng nhà
cầm quyền vẫn sử dụng các ông
trong việc dịch thuật, nhưng dường
như chỉ để
dịch ra tiếng Việt những tài liệu
tham khảo, vì khi các ông dịch ra
Pháp văn, người
ta dịch lại ra tiếng Việt, thấy sai
lệch hẳn đi, mà trong ngoại
giao, sai một ly đi một
dặm.
Còn trong báo chí
ngoại ngữ (lãnh vực mà người
ta cấm cửa hai nhà học giả), tuy vẫn
có những nhà báo Pháp học,
nhưng số đông
đều ít
nhiều có vấn đề,
không dính líu
đến
Nhân văn Giai phẩm thì
cũng xét đi xét
lại, nên
cuối cùng, bài của họ, dù có
viết thẳng bằng tiếng Pháp, cũng
vẫn là thứ văn bia quái
lạ nói trên, tây nó không
hiểu thì kệ nó, tác
giả không có vấn đề
là được
rồi.
Phong
cách Nguyễn Khắc Viện đã
tạo ra được
một cuộc cách mạng nhỏ trong lãnh
vực này. Anh đã
tập hợp được
một ê-kíp nhà báo và người
dịch, để
các bài Pháp ngữ, Anh ngữ thoát
ra khỏi lối viết tắc trách.
Quan
trọng hơn cả phong cách, là ý
thức về tầm quan trọng của văn
hoá. Giữa thập
niên 1960, hiểu biết của thế giới
bên ngoài về Việt Nam dường như
chỉ thu hẹp vào những công trình
của các nhà nghiên cứu Pháp
chung quanh Trường Viễn Đông
bác cổ trước
năm 1945, thêm
vào đó là
mấy cuốn sách của Paul Mus, Philippe
Devillers, Jean Lacouture, Bernard Fall. Song song với Thư
tín Việt Nam tập
trung nói về thời sự, tạp chí
Nghiên cứu Việt Nam đã
lần lượt đưa
ra những số đặc
biệt về lịch sử, văn
học, dân tộc
học, ngôn ngữ học Việt Nam mà
ngày nay đọc
lại, nhiều số vẫn còn nguyên giá
trị. Thậm chí, nếu so sánh với
nguyên tác tiếng Việt, ta có thể
thấy người dịch đã
có công tổng hợp, viết lại, làm
tăng giá
trị của nhiều bài viết.
Cũng
trong những năm
này, Nhà xuất
bản Ngoại văn
đã phát
hành bản Kiều do
Nguyễn Khắc Viện dịch ra Pháp văn
(1965), và bộ
Hợp tuyển Văn
học Việt Nam
(Anthologie de la littérature vietnamienne) do
Nguyễn Khắc Viện và Hữu Ngọc chủ
biên (nhà xuất bản Philippe Picquier vừa
tái bản dưới tựa đề
Mille ans de littérature vietnamienne). Nhờ
bộ sách này, độc
giả sử dụng tiếng Pháp và tiếng
Anh có thể tiếp cận với gần 10
thế kỷ văn
học Việt Nam.
Khuyết điểm
chính của bộ hợp tuyển này là
sự vắng bóng của dòng văn
học Tự lực
Văn đoàn
những năm 1930 (và
cố nhiên, của các dòng văn
học miền Nam từ
sau 1955) : điều
này, theo tôi biết, ra ngoài ý muốn
của ban chủ biên, mà thuộc quyền
quyết định
của ông Trường Chinh.
Nhân
đây, tôi
cũng xin mở ngoặc
để
nói đôi
điều về quan
hệ giữa Nguyễn Khắc Viện và Trần
Đức
Thảo. Không ít người, kể cả
người ở Hà
Nội (xin bạn đọc
đừng
bỏ qua chữ ở)
đã
lưu truyền tiếng đồn
Nguyễn Khắc Viện cướp vợ
Trần Đức Thảo
Cũng như trong mọi lời đồn,
ở đây có
một hạt nhân
thật : anh Viện đã
lập gia đình
với chị Nguyễn Thị Nhứt, nhà tâm
lý học, cũng là Việt kiều cũ.
Chị Nhứt trước đó
đã ly hôn
với anh Trần Đức
Thảo. Cuộc ly dị này chủ yếu là
do tính tình không hợp nhau, hoàn
toàn xa lạ với kịch bản ly dị vì
sức ép chính trị như đã
từng xảy ra ở miền Bắc và các
nước xã hội chủ nghĩa (có
lẽ vì thực trạng này mà lời
đồn
kia đã
trở thành thuận tai). Những người
đã
chăm sóc anh Thảo
trong những tháng cuối đời
anh ở Paris, và sau đó,
đều có thể
biết chị Nhứt vẫn tiếp tục chăm
lo cho anh như thế
nào. Riêng anh Viện, tưởng cũng
cần nhắc lại vai trò quyết định
của anh trong việc đưa
ra nước ngoài
từ năm 1966 những
bài viết của Trần Đức
Thảo để
đăng trên
tạp chí La Pensée, và
sau đó được
Editions Sociales xuất
bản ở Pháp trước khi bản
dịch tiếng Anh được xuất bản
ở Mỹ. Nếu đám cưới của
anh Viện là một scandale, thì
cái scandale không
nằm trong lời đồn
nói trên, mà ở phong tục của
Đảng
cộng sản Việt Nam thời đó.
Trong một cuộc
họp chi bộ, đảng
viên Nguyễn Khắc Viện đã
bình thản thông báo là ông sẽ
lấy vợ, và nhỏ nhẹ thêm :
" Đây là tôi thông
báo, chứ không phải xin phép chi bộ
đâu nhé ".
Ở cái thời
mà đảng,
công đoàn
và hội Liên hiệp phụ nữ quản
lý toàn bộ
đời
sống cá nhân, chặt chẽ hơn cả
đại
gia đình
và những bà cô không chồng
của thời phong kiến,
đó quả
là một thứ scandale. Cũng
như lời tuyên bố của Nguyễn Khắc
Viện trong một cuộc hội nghị :
" Tôi tuân thủ kỷ luật
Đảng, tôi tin tưởng ở
Đảng, nhưng không tuyệt
đối ".
Cũng
dễ hiểu là sau năm
1975, Nguyễn Khắc
Viện là một trong những đảng
viên, khá sớm, đã
lên tiếng báo động
về những sai lầm : sai lầm của
thời kỳ chủ quan, say sưa với chiến
thắng, và sai lầm cơ bản hơn, bắt
nguồn từ não trạng nông dân và
chủ nghĩa Mao.
Bắt
đầu
là những lá thư và phát biểu
nội bộ. Và mùa hè năm
1981, anh gửi một
lá thư 7 điểm cho Quốc hội. Tôi
không rõ đến
nay đã
có tờ báo nào công bố nguyên
văn tiếng
Việt của lá thư này chưa. Bản
dịch tiếng Pháp có thể tìm
thấy trong cuốn La bureaucratie au Vietnam (nhà
xuất bản L'Harmattan, Paris 1983, tr. 115-119). Căn
cứ vào những
gì tôi nhớ được
về lá thư mà anh đã cho tôi
đọc
tại nhà mấy ngày sau đó,
tôi có thể
bảo đảm
đó là
một bản dịch chính xác và
trung thành.
Nhân
đây, tôi xin
kể lại diễn
biến chi tiết, để
sau này có thể hiểu được
cung cách hành xử của Nguyễn Khắc
Viện ở thời điểm
ấy. Tôi từ Pháp về tới thành
phố Hồ Chí Minh ngày 2.7.81, thì
sáng hôm sau, đã
được
nghe nói tới lá thư Nguyễn
Khắc Viện, và
được
biết có người đã
mang được
một bản vào thành phố. Tôi
không đi tìm
đọc,
đợi
mấy ngày sau ra Hà Nội sẽ lại
thăm anh : đối
với phần đông
Việt Kiều ra Hà
Nội, thì ghé qua 8 Nguyễn Chế
Nghĩa thăm anh Viện là
một chặng đường
incontoumable. Đến
đó, anh đưa
cho tôi đọc
hai trang giấy pơluya đánh máy chữ
nhỏ, sau khi ra điều
kiện: đọc tại chỗ,
không ghi chép. Tôi
nhận điều
kiện này, hiểu rằng anh chưa muốn
phổ biến ra nước ngoài.
Tôi
hỏi anh : " Tại sao anh không gửi
thư này cho Trung ương Đảng mà
gửi cho Quốc hội ?
". Anh mỉm cười : " Phải
đổi kiểu chứ ! "
và giải thích ngoài bản còn
giữ trong nhà, anh đã
đánh máy
ra một số bản,
gửi cho : Văn
phòng Quốc hội,
chị Hoàng Xuân Sính (Việt kiều
cũ, đại
biểu Quốc hội), ông Nguyễn Văn
Hiếu (bộ trưởng
văn hoá, về
danh nghĩa là thủ trưởng của anh),
và chi bộ cơ quan. " Thế
thôi. Tổng cộng khoảng 20 người
trực tiếp đọc ".
Từ đó, lá
thư đã được
đánh máy,
chép tay, nhân lên nhanh chóng, mặc
dầu hồi ấy, máy photocopy chưa
xuất hiện ngoài phố, và ít cơ
quan có máy.
Bộ
máy cầm quyền, cụ thể là bộ
máy tổ chức và công an dưới
trướng ông Lê Đức
Thọ, tất nhiên khá căm
anh Viện sau lá
thư này. Nhất là nửa năm
sau, khi tuần báo
FEER (Tạp chí kinh tế Viễn Đông)
dành
một trang nói về bức thư và tác
giả. Và đài
BBC trích dịch dài trong chương trình
Việt ngữ, ba tuần trước ngày họp
Đại
hội V của ĐCS.
Hai
tháng sau, tháng 5.82 tôi về Hà Nội
(đó cũng là
lần chót), được biết anh
chuẩn bị về hưu. Cũng ở thời
điểm 81-82, sau này chúng ta biết ông
Hoàng Minh Chính đã đưa đơn
kiện đích danh công dân Lê Đức
Thọ và đã trả giá bằng
mấy năm tù giam và quản chế. Ông
Lê Đức Thọ là người thực
tế, biết sức nặng của dư luận
quốc tế : điều này giải
thích phần nào sự khác biệt
trong cách xử lý hai
trường hợp.
Từ
đây trở
đi, thái độ
của lãnh đạo
ĐCS đối
với Nguyễn Khắc Viện sẽ dao động
giữa hai thái cực mà ứng xử của
tổng bí thư Nguyễn Văn
Linh là tiêu
biểu. Tháng 10.1987, trong cuộc gặp văn
nghệ sĩ, cuộc
gặp trong đó
ông Linh kêu gọi
các nhà văn
" bất luận thế nào
cũng không nên bẻ cong ngòi bút ",
sau khi nghe Nguyễn Khắc Viện phát biểu,
ông Linh đã
bắt tay nồng nhiệt và xin toàn văn
bài viết để
về đọc
kỹ. Chưa đầy hai năm
sau, tháng 9.89, trong một
hội nghị cán bộ trung cao cấp để
phổ biến nghị quyết mới, cũng
chính ông Linh lớn tiếng chỉ trích
" tay Nguyễn Khắc Viện nay lại
đi ca ngợi dân chủ tư
sản ".
Về
phần mình, Nguyễn Khắc Viện tiếp
tục phát biểu ý kiến của mình
một cách công khai, hoặc qua những lá
thư (như thư gửi Luật sư Nguyễn
Hữu Thọ, chủ tịch Mặt trận Tổ
Quốc, tháng 1 năm
1991), bài báo
(như bài Cuộc kháng chiến
mới, mà Diễn
Đàn đã
đăng toàn
văn). Khi ông
Hoàng Minh Chính
bị bắt mùa hè năm
1995, anh đã bày
tỏ cảm tình và sự kính trọng
đối
với ông qua một lá thư gửi bà
Hoàng Minh Chính.
Vài
năm gần
đây, sức
khoẻ suy sụp, mùa đông
anh chị thường
vào thành phố Hồ Chí Minh để
tránh cái lạnh buốt của khí
hậu Hà Nội, nhưng ở đâu,
anh cũng ít khi ra khỏi
nhà, tập trung sức lực còn lại
cho công việc của N-T, trung tâm nghiên
cứu tâm lý trẻ em, tổ chức phi
chính quyền đầu
tiên mà anh đã
thành lập sau khi về hưu. Anh ít tiếp
khách, và cũng phải nói thật,
khách tới thăm
ít hay nhiều
cũng thay đổi
tuỳ theo nhiệt độ
chính trị chung
quanh anh. Vài tuần trước khi từ trần,
nhân dịp có đông
đủ gia đình
và một số bạn thân tới thăm,
được biết
anh đã
nói 3 điều,
có thể coi như những ước nguyện
cuối cùng :
Một
là, mong rằng Trung tâm N-T tiếp tục
hoạt động
vì lợi ích của thiếu nhi và
thiếu niên.
Hai
là, mong rằng xã hội công dân
Việt Nam sẽ tiếp tục tự khẳng
định
và triển khai, làm nền móng cho công
cuộc dân chủ hoá đất
nước.
Điều
cuối cùng, nhân dịp này, anh cũng
nói rõ trong thập niên vừa qua, vì
hoàn cảnh của anh Nguyễn Kiến Giang
(hiện nay còn bị án treo 15 tháng tù
trong vụ án Lê Hồng Hà & Hà
Sĩ Phu), anh Viện đã
nhận đứng
tên một số tác phẩm của anh
Giang (trong đó
có cuốn Cách
mạng 1789 và chúng ta, nxb
TP. Hồ Chí Minh, 1989, Từ điển
Xã hội
học, nxb Thế giới
1994...). Trước
khi mất, anh muốn minh xác điều
này để
tác quyền tinh thần được
trả về cho tác giả. Trên đây
là một vài
điều
tôi được
biết hoặc thu lượm và kiểm tra
được
về con người và cuộc đời
Nguyễn Khắc Viện, để
bổ sung vào những bài viết đã
được
công bố trên báo chí trong nước.
Vì vậy, tôi chỉ tập trung vào
những điểm
mà các tác giả ít biết hoặc
chưa tiện viết ra.
Nguyễn
Ngọc Giao
http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-066/anh-vien-3/
http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-065/anh-vien-2/
http://www.diendan.org/tai-lieu/bao-cu/so-064/anh-vien-1/